LỜI MỞ ĐẦU
Trong sự chuyển biến tích cực của nền kinh tế Việt Nam giai đoạn đổi
mới thì cơ cấu kinh tế cũng có sự chuyển biến, giảm tỷ trọng của các ngành
nông lâm nghiệp, tăng tỷ trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ. Vì vậy
có thể thấy rằng thương mại dịch vụ đóng góp một phần rất lớn đối với sự
phát triển của đất nước nói chung và Hà Nội nói riêng. Vì thế tình hình đầu tư
vào ngành thương mại là một trong những vấn đề đang rất được quan tâm
hiện nay. Do đó tôi chọn đề tài “Đầu tư phát triển ngành thương mại Hà
Nội. Thực trạng và giải pháp” làm chuyên đề thực tập của mình.
Trong phạm vi chuyên đề thực tập này tôi xin nêu lên thực trạng đầu tư
vào ngành thương mại đồng thời cũng xin trình bày những ý kiến của mình về
một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả đầu tư trong
lĩnh vực thương mại tại Hà Nội.
Kết cấu chuyên đề thực tập gồm hai chương:
Chương 1: Thực trạng đầu tư phát triển ngành thương mại Hà Nội giai
đoạn 2005- 2008
Chương 2: Giải pháp phát triển ngành thương mại Hà Nội đến năm
2020, tầm nhìn đến năm 2030.
Hoàng Thị Thu Hương Lớp: Đầu tư 47D
1
CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG ĐẨU TƯ PHÁT TRIỂN NGÀNH
THƯƠNG MẠI HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2005-2008
1.1. Các điều kiện, yếu tố tác động đến phát triển ngành thương mại Hà Nội
1.1.1. Các nhân tố tác động trực tiếp đến phát triển ngành thương mại
Hà Nội
1.1.1.1. Vị trí địa lý
Hà Nội có vị trí địa lý- chính trị quan trọng, có lợi thế đặc biệt để phát
triển thương mại so với các địa phương khác trong cả nước. Nghị quyết
15NQ/TW của Bộ chính trị ngày 15/12/2000 đã xác định Hà Nội “ là trái tim
của cả nước, đầu não chính trị- hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn
hoá, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế ”.
1.1.1.2. Các yếu tố về điều kiện tự nhiên và tài nguyên
- Hà Nội nằm hai bên bờ sông Hồng, giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ trù
phú. Với vị trí và địa thế đẹp, thuận lợi, dân cư đông đúc từ lâu đời, đó là
những yếu tố thuận lợi cho phát triển thương mại.
- Khí hậu Hà Nội mang đặc trưng của khí hậu vùng nhiệt đới gió mùa,
với 2 mùa chủ yếu trong năm, mùa nóng và mùa lạnh. Hàng năm Hà Nội chịu
ảnh hưởng trực tiếp của 4-5 cơn bão, bão thường trùng với mùa nước sông
Hồng lên cao có ảnh hưởng lớn đến đời sống và sản xuất của nhân dân và trở
ngại cho hoạt động thương mại của thành phố.
- Hiện nay diện tích đất ngoại thành chiếm 80,6%, nội thành chỉ có
19,4%. Các vùng như huyện Sóc Sơn, Đông Anh, Từ Liêm…là vùng đất có
tiềm năng lớn để phát triển kết cấu hạ tầng của ngành thương mại. Nội thành
Hà Nội, phần lớn diện tích đất đai được đánh giá là không thuận lợi cho xây
dựng do có hiện tượng tích nước ngầm, nước mặt, sụn lút, nứt đất, sạt lở, cấu
tạo nền đất yếu…Một số diện tích nội thành là vùng đất trũng lầy thụt do quá
Hoàng Thị Thu Hương Lớp: Đầu tư 47D
3
trình đầm lầy hoá. Đó là những yếu tố hạn chế cho phát triển của ngành
thương mại, bởi làm tăng chi phí đầu tư phát triển của ngành, làm giảm hiệu
quả sử dụng quỹ đất của ngành.
- Hà Nội có đa dạng tài nguyên sinh vật, sinh thái và du lịch
Hà Nội còn có nhiều ao, hồ, đầm là vết tích của con sông Hồng trước
đây đã đi qua. Ở huyện Thanh Trì và Hoàng Mai có nhiều hồ lớn và nông,
trong đó có hồ Linh Đàm và hồ Yên Sở. Do có nhiều ao hồ, nên có tên Thanh
Trì (ao xanh). Trước khi đắp đê, sông Hồng hay đổi dòng chảy, khiến cho một
số đoạn sông bị cắt riêng ra thành hồ lớn và sâu. Tiêu biểu cho loại hồ này là
Hồ Tây. Hồ Hoàn Kiếm từng là một hồ rất rộng, nhưng thời thuộc Pháp đã bị
lấp tới hơn một nửa. Các hồ Giảng Võ, hồ Ngọc Khánh, hồ Thủ Lệ trước kia
thông nhau, nay bị lấp nhiều chỗ và bị chia cắt thành các hồ riêng biệt.
Ngoài các sông lớn như sông Hồng (đoạn đi qua Hà Nội gọi là Nhĩ Hà),
Di dân cơ học không ngừng gia tăng, di dân đến Hà Nội chủ yếu là
những người ở các tỉnh lân cận, lao động phổ thông, trong đó độ tuổi lao động
hàng năm khoảng 112.000 người. Bên cạnh yếu tố tích cực bổ sung thêm lực
lượng lao động vào ngành thương mại, thì sức ép về việc bố trí địa điểm, diện
tích kinh doanh cho họ ở các chợ cũng tăng thêm.
Lao động trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 54,2% dân số. Tỷ lệ lực
lượng lao động có kỹ thuật chiếm 50,75% tổng số lao động. Chất lượng lao
động khá nhất trong cả nước. Những yếu tố đó vừa thuận lợi cho việc thu hút
lao động vào ngành thương mại, vừa tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện
chuyên nghiệp hoá và hiện đại hoá của ngành thương mại. Tuy nhiên, tỷ trọng
lao động chưa qua đào tạo còn cao, chiếm khoảng 52% số lao động, đặc biệt ở
khu vực nông thôn, số lao động không có chuyên môn kỹ thuật còn chiếm gần
82%; Hiện tượng thiếu chuyên gia đầu đàn, các nhà quản lý cấp cao…. đang
là những yếu tố gây trở ngại cho phát triển của ngành thương mại.
1.1.2. Các yếu tố trong nước và quốc tế tác động đến phát triển ngành
thương mại Hà Nội
1.1.2.1. Các yếu tố trong nước
a) Các phương hướng phát triển thành phố Hà Nội
* Quyết định số 1749/QĐ-UBND của thành phố Hà Nội ngày
31/10/2008
Quyết định đã chỉ rõ tầm nhìn Thủ đô năm 2020, những mục tiêu, quan
điểm và phương hướng phát triển đến năm 2010. Đây là yếu tố có ảnh hưởng
rất quan trọng đến sự phát triển của Ngành Thương mại Hà Nội trong thời kỳ
từ nay đến năm 2020.
Hoàng Thị Thu Hương Lớp: Đầu tư 47D
5
- Tầm nhìn Thủ đô đến năm 2020: Hà Nội trở thành đô thị văn minh,
hiện đại, thành phố du lịch hấp dẫn của khu vực: phát huy tốt vai trò là trung
tâm lớn về văn hoá, khoa học- công nghệ, giáo dục, đào tạo, kinh tế và giao
dịch quốc tế của cả nước. Cùng với việc hình thành và phát triển các hành
đô, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, vùng đồng bằng sông Hồng và cả nước.
* Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế- xã hội vùng đồng
bằng sông Hồng đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
Nghị quyết đã xác lập những nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội chủ
yếu của vùng Đồng bằng sông Hồng đến năm 2010 và định hướng đến năm
2020 như sau:
- Mục tiêu đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 là: Tập trung
đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kinh tế- xã hội hiện đại, đáp ứng yêu cầu
phát triển thời kỳ CNH- HĐH. Phấn đấu đạt mục tiêu cơ bản trở thành vùng
công nghiệp trước năm 2020.
- Nhiệm vụ chủ yếu: Về kinh tế, đưa nhịp độ tăng GDP bình quân năm
đạt 10-11%( trong đó công nghiệp- xây dựng tăng 14,3- 15,3%, dịch vụ 10-
11%, nông- lâm- ngư nghiệp tăng 3,5- 4,0%).
Phát triển mạnh công nghiệp theo hướng công nghiệp phần mềm, thiết
bị tin học, tự động hoá ngành công nghiệp mũi nhọn; Phát triển mạnh một số
ngành công nghiệp chủ lực như: công nghiệp chế tạo máy, thép, điện tử, đóng
tàu, khai thác than, sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng cao cấp, dược phẩm,
chế biến nông- lâm- hải sản, dệt, da, may mặc, công nghiệp phụ trợ.
Tập trung phát triển các ngành thương mại. dịch vụ, du lịch để nhanh
chóng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, hình thành các trung tâm thương
mại, khu du lịch….hiện đại, chất lượng cao, ngang tầm khu vực và quốc tế mà
hạt nhân là thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Hạ Long- Quảng Ninh.
Hình thành các vùng sản xuất hàng hoá nông nghiệp sinh thái sạch,
công nghệ cao phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu; Phát triển mạnh
các làng nghề.
Hoàng Thị Thu Hương Lớp: Đầu tư 47D
7
Phát triển các tiểu vùng:
+ Tiểu vùng Bắc sông Hồng- Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ: Hình
thành các trung tâm kinh tế lớn gồm Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, xây
nhà sản xuất trong các Vùng mà ngành thương mại Hà Nội có khả năng phát
huy vai trò chỉ đạo và dẫn dắt các liên kết dọc định hướng theo nhu cầu thị
trường, hình thành chuỗi cung ứng có giá trị gia tăng cao và bền vững cho các
sản phẩm có lợi thế trong vùng, vừa thúc đẩy và tạo điều kiện để thực hiện
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các vùng một cách bền vững, vừa tạo
nên những rào chắn hữu hiệu bảo vệ các nhà sản xuất trong vùng trước những
làn sóng hàng hoá từ thị trường thế giới thâm nhập vào vùng theo tiến trình
hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta.
- Thứ hai, cơ hội phát triển của ngành thương mại Hà Nội xuất phát từ
việc mở rộng không gian thị trường Hà Nội, với quy mô dân số của thành phố
Hà Nội khoảng 6,1 triệu người, có thu nhập và mức sống cao. Điều đó cho
thấy, nhu cầu sử dụng dịch vụ phân phối của dân cư ở Hà Nội nói riêng và ở
các Vùng mà thành phố Hà Nội là hạt nhân nói chung sẽ gia tăng nhanh
chóng không chỉ về số lượng, mà cả về chất lượng và trình độ của nhu cầu,
tạo nên những cơ hội thuận lợi để ngành thương mại Hà Nội phát triển nhanh
và bền vững hơn.
- Thứ ba, nhờ sự gia tăng các làn sóng thu hút đầu tư nước ngoài, phát
huy vai trò hạt nhân của Hà Nội trong hợp tác với các tỉnh trong các Vùng,
một mặt làm gia tăng nhu cầu sử dụng dịch vụ phân phối của các ngành sản
xuất của dân cư và khách vãng lai, mặt khác tạo điều kịên thuận lợi cho quá
trình cải cách cơ cấu của ngành thương mại Hà Nội theo hướng chuyên
nghiệp hoá, hiện đại hoá và xã hội hoá. Cũng như hệ thống giao thông và kết
cấu hạ tầng được hoàn chỉnh sẽ tạo nhiều điều kiện và địa điểm thuận lợi cho
phát triển mạng lưới các loại hình thương mại quy mô lớn và hiện đại. Quá
trình đô thị hoá nhanh chóng với việc xuất hiện nhiều khu đô thị lớn, khu
công nghiệp và khu dân cư, cũng như những dòng du lịch sẽ thúc đẩy nhu cầu
sử dụng các dịch vụ phân phối theo hướng hiện đại hoá, tạo cơ sở cho phát
Hoàng Thị Thu Hương Lớp: Đầu tư 47D
9
triển thương mại hiện đại, bền vững. Các nguồn lực được thu hút theo hướng
trung tâm chính trị- kinh tế- văn hoá lớn của cả nước, Hà Nội có thể tập trung
khai thác vị thế để tạo nên môi trường đầu tư có sức hấp dẫn cao, tiếp tục thu
hút mạnh vốn đầu tư nước ngoài; tạo dựng và phát triển một số ngành hàng
mũi nhọn quan trọng có hàm lượng chất xám và công nghệ cao; phát triển các
loại hình dịch vụ phục vụ trong nước và xuất khẩu( dịch vụ du lịch, dịch vụ
ngân hàng, dịch vụ tư vấn công nghệ, tư vấn pháp lý và thị trường, dịch vụ
bảo hiểm, dịch vụ hỗ trợ kinh doanh…).
Môi trường chính trị, xã hội trong nước tiếp tục được duy trì ổn định;
thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng được hoàn
thiện; những cải cách quan trọng về cơ chế, chính sách điều hành các hoạt
động kinh tế nói chung và hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng theo hướng
thông thoáng hơn, phù hợp hơn với những chuẩn mực quốc tế tiếp tục được
thực hiện là những điều kiện thuận lợi giúp phát huy được sức mạnh tổng hợp
của mọi thành phần kinh tế trong các hoạt động kinh tế nói chung, xuất khẩu
nói riêng.
Song bên cạnh đó, còn tồn tại những khó khăn trong nước chưa thể
khắc phục ngay làm ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của Hà Nội như:
+ Năng lực cạnh tranh quốc gia chưa được cải thiện rõ rệt. Năng
lực cạnh tranh quốc gia, hay chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam có
sự giảm sút trong những năm gần đây.
+ Lợi thế so sánh về chi phí nhân công thấp đang giảm dần.
+ Hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ xuất khẩu còn nhiều hạn chế.
+ Thủ tục hải quan và thuận lợi hoá xuất khẩu mặc dù đã được
cải thiện song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu trở thành một tác nhân quan
trọng để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới.
Bối cảnh kinh tế vùng mà Hà Nội là hạt nhân phát triển
Công cuộc đổi mới đã tạo cho Thủ đô thế mới, lực mới, bộ mặt mới.
Nghị quyết 54-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế- xã hội và đảm
bảo an ninh quốc phòng vùng đồng bằng sông Hồng; quyết định của Chính
Hoàng Thị Thu Hương Lớp: Đầu tư 47D
12
- Một số nhà phân phối lớn trong nước đang gấp rút xây dựng và mở
rộng mạng lưới phân phối hiện đại đến các tỉnh và thành phố cả nước, tạo cơ
hội phát triển các cơ cấu hiện đại của ngành thương mại.
- Hội nhập kinh tế của Việt Nam vào khu vực và thế giới ngày càng sâu
và rộng hơn, một mặt tạo sức ép cạnh tranh buộc các ngành sản xuất phải thực
hiện và tham gia vào phân công lao động xã hội, nhờ vậy mở rộng được nhu
cầu sử dụng dịch vụ phân phối hàng hoá của các ngành sản xuất, tạo cơ sở
phát triển cho ngành thương mại nói chung và ngành thương mại Hà Nội nói
riêng với lợi thế không chỉ về dung lượng thị trường hàng hoá mà còn nhờ vị
trí phát luồng bán buôn trong vùng và trung tâm giao dịch quốc tế; Mặt khác,
tạo khả năng thu hút đầu tư nước ngoài vào phát triển các cơ cấu thương mại
hiện đại cho Hà Nội như các trung tâm thương mại và mua sắm lớn, đại siêu
thị, chuỗi siêu thị và cửa hàng, cửa hàng bách hóa lớn, kho bán buôn….
- Xuất khẩu hàng hoá ngày càng được các ngành kinh tế quan tâm phát
triển nên cũng tạo thêm nhiều cơ hội xuất khẩu dịch vụ phân phối cho ngành
thương mại Hà Nội.
- Sự thâm nhập của nhiều dòng hàng hóa từ thị trường thế giới vào Việt
Nam, một mặt cũng tạo nhiều cơ hội cho ngành thương mại Hà Nội tìm kiếm
được giá trị gia tăng khi tham gia cung ứng các dịch vụ phân phối những mặt
hàng hoá này trên thị trường nôi địa; mặt khác làm phong phú các nguồn cung
ứng hàng hoá, tạo thêm nguồn lực phát triển cho ngành.
- Những dòng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam với số lượng dự báo
trên 5 triệu người/năm cùng với những nhu cầu mua sắm của họ cũng tạo cơ
hội cho phát triển ngành thương mại của Hà Nội, với ưu thế là một trong
những thành phố du lịch hấp dẫn của cả nước và khu vực.
- Những dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam với dự
báo gia tăng nhanh cũng sẽ tạo nhiều cơ hội phát triển cho ngành thương mại
Hà Nội khi tham gia cung ứng các dịch vụ phân phối hàng hoá nguyên liệu và
sản phẩm của đầu tư nước ngoài.
chuyển dịch từ Tây sang Đông, đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến chiến
Hoàng Thị Thu Hương Lớp: Đầu tư 47D
14
lược phát triển kinh tế của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Khu vực Châu
Á- Thái Bình Dương, từ chỗ chỉ chiếm gần 21% tỷ trọng thương mại quốc tế
vào năm 1990, đến nay đã được coi là khu vực phát triển sôi động nhất thế
giới và chiếm tới trên 30% thị phần trong xuất nhập khẩu toàn cầu. Trong đó,
Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc đang nổi lên trở thành những quốc gia có
vị thế và tầm ảnh hưởng không nhỏ trong nền kinh tế thế giới. Nằm trong khu
vực năng động này, hoạt động ngoại thương của Việt Nam nói chung, Hà Nội
nói riêng sẽ được hưởng những ngoại ứng tích cực.
Tăng trưởng kinh tế thế giới giai đoạn 2009 -2015 có nhiều khả năng sẽ
tăng (Theo dự báo của Ngân hàng Thế giới (WB) và đi kèm theo đó là nhu
cầu nhập khẩu hàng hoá của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có cả
những quốc gia bạn hàng nhập khẩu lớn của Việt Nam, sẽ tiếp tục tăng. Đây
là yếu tố thuận lợi để các nước có hoạt động xuất khẩu trong đó có Việt Nam,
có thể đẩy mạnh công tác phát triển xuất khẩu của mình.
Tuy nhiên, những bất ổn khó lường về an ninh – chính trị - xã hội ( như
chiến tranh, khủng bố, thiên tai, dịch bệnh) đều là những nguy cơ tiềm ẩn và
hoàn toàn có thể dẫn đến những khủng hoảng ở quy mô khu vực hay thế giới.
Nếu điều đó xảy ra sẽ có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến kết q xuất
nhập khẩu của Việt Nam nói chung và của Hà Nội nói riêng.
Xu hướng ký kết các Hiệp định thương mại tự do, nhất là giữa các nước
và các khu vực với nhau ( FTA, RTA…) là một thách thức lớn đối với các
nước không tham gia Hiệp định. Và ngay trong số các nước tham gia Hiệp
định thì các nền kinh tế kém phát triển hơn cũng thường phải chịu thiệt thòi
nhiều hơn.
Dưới sức ép của toàn cầu hoá kinh tế, cạnh tranh ngày càng gay gắt và
ngày càng xuất hiện nhiều hình thức rào cản thương mại mới tinh vi hơn, như
áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm hay các
quy hoạch phát triển ngành thương mại của Hà Nội phải phát huy được những
tác động tích cực, hạn chế được những tác động tiêu cực từ những ảnh hưởng
Hoàng Thị Thu Hương Lớp: Đầu tư 47D
16
nêu trên thông qua những định hướng phát triển, phân bố cơ cấu ngành và các
giải pháp phát triển thương mại trên địa bàn.
Xu hướng phát triển ngành dịch vụ phân phối của thế giới với những
đặc trưng như mức độ tập trung hơn (nổi lên các ngành thương mại lớn, hoặc
nhất thể hoá sản xuất - bán buôn – bán lẻ để tạo mạng lưới phân phối rộng
rãi), các cửa hàng nhỏ truyền thống được thay thế bằng cửa hàng bách hoá lớn
hơn, quy mô trung bình của một cửa hàng tăng lên cả về doanh thu và lao
động, mật độ phân bố cửa hàng bán lẻ giảm xuống, cửa hàng bán lẻ tham gia
vào chuỗi cửa hàng hoặc hoạt động theo kiểu nhượng quyền của các công ty
lớn hướng tới các phân đoạn chuyên biệt hơn trên thị trường; Vai trò của các
nhà bán buôn truyền thống suy giảm, nhất là trên thị trường hàng tiêu dùng
không bền, do các nhà sản xuất tự kiểm soát việc phân phối hoặc các nhà bán
lẻ mở rộng buôn bán tận gốc, nhưng vai trò của các nhà bán buôn hiện đại
tăng lên, nhất là đối với việc cung cấp trọn gói hàng tiêu dùng có giá trị cao,
hàng vật liệu và sản phẩm có số lượng lớn; Thị trường dịch vụ phân phối có
xu hướng cạnh tranh cao; Tác động của thương mại điện tử đến sự thay đổi
toàn diện lĩnh vực phân phối, đặc biệt là sự xuất hiện các cửa hàng, siêu thị ảo
hoặc giao dịch giữa các doanh nghiệp; Xu hướng cạnh tranh trong ngành để
giảm chi phí chủ yếu bằng quy mô phân phối lớn, trình độ chuyên nghiệp hoá
cao và tiêu chuẩn hoá mạng lưới phân phối…
Những xu hướng này sẽ có tác động và chi phối nhiều đến cơ cấu của
từng phân ngành cũng như đến tầm quan trọng của từng ngành trong ngành
dich vụ phân phối. Quá trình phát triển ngành thương mại Hà Nội cần được
định hướng phù hợp theo những xu hướng phát triển ngành dịch vụ phân phối
của thế giới để chủ động hội nhập vào thị trường dịch vụ phân phối toàn cầu.
Những xu hướng phát triển này cũng cho thấy rõ hơn thách thức của
vào xây dựng cơ sở hạ tầng và đầu tư vào hoạt động kinh doanh thương mại.
Đầu tư vào cơ sở hạ tầng ngành thương mại cũng giống như đầu tư xây
dựng cơ bản là việc bỏ vốn nhằm duy trì và tạo ra những năng lực sản xuất
mới để thu được một kết quả nào đó về phương diện kinh tế, chính trị, xã hội.
Hoàng Thị Thu Hương Lớp: Đầu tư 47D
18
Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất của ngành thương mại là hoạt động đầu tư xây
dựng các công trình như văn phòng, nhà ở, khách sạn, nhà hàng, các yếu tố
góp phần tạo nên hoạt động của ngành thương mại như điện, đường, điện
thoại, công nghệ thông tin…Đầu tư vào cơ sở hạ tầng của ngành thương mại
có đặc trưng là vốn đầu tư lớn, thời gian tiến hành đầu tư lâu dài, chịu ảnh
hưởng của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, mang tính rủi ro cao, thời
gian thu hồi vốn lâu dài. Ngoài ra sản phẩm xây dựng có tính chất cố định
trước, trong và sau quá trình sản xuất, giá trị lớn, chu kỳ sản xuất dài. Do đó,
vấn đề đặt ra đối với những người quản lý hoạt động đầu tư cơ sở vật chất hạ
tầng của ngành thương mại là phải lựa chọn dự án đầu tư hợp lý, có tính khả
thi cao, trong quá trình thực hiện đầu tư phải quản lý vốn đầu tư chặt chẽ,
tránh thất thoát vốn trong đầu tư, thực hiện dự án đúng tiến độ. Trong giai
đoạn vận hành kết quả đầu tư phải nâng cao năng suất dự án, rút ngắn thời
gian thu hồi vốn đầu tư, kéo dài tuổi thọ dự án, giảm thiểu những chi phí phát
sinh trong quá trình vận hành.
Đầu tư vào hoạt động kinh doanh thương mại là việc bỏ vốn vào việc
vận hành, thực hiện các dự án kinh doanh thương mại. Vốn cho hoạt động đầu
tư kinh doanh thương mại rất linh hoạt, tuỳ thuộc vào quy mô của dự án, tuỳ
thuộc vào giai đoạn của dự án, có thời điểm cần nhiều vốn, có thời điểm cần ít
vốn. Do tính linh hoạt của hoạt động đầu tư vào kinh doanh thương mại nên
công tác quản lý đầu tư cũng đòi hỏi phải linh hoạt. Vốn bỏ ra phải đúng lúc,
nhanh chóng, hợp lý, đủ về số lượng, tránh lãng phí. Việc quản lý vốn cũng
cần phải được thực hiện một cách nghiêm túc và chặt chẽ để tránh tình trạng
lãng phí vốn. Giai đoạn kinh doanh thương mại là giai đoạn vận hành kết quả
thương mại thì ta có thể dự báo được lượng vốn đầu tư cần thiết cho việc phát
triển ngành thương mại. Theo dự báo, tổng vốn đầu tư của toàn ngành thương
mại từ nay đến năm 2015 sẽ vào khoảng 55.430,1 tỷ đồng.
Tuy nhiên, có một thực tế là những năm gần đây vốn đầu tư vào ngành
thương mại đã có xu hướng chững lại, tốc độ giảm dần. Điều này có thể do
Hoàng Thị Thu Hương Lớp: Đầu tư 47D
20
hai nguyên nhân. Một là, do sự xuất hiện của các trung tâm thương mại mới
cạnh tranh với Hà Nội về khả năng huy động vốn. Các thành phố này đã có
những chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư hấp dẫn hơn nhằm thu hút đầu
tư vào thành phố mình. Hai là, do tình hình suy thoái kinh tế và khủng hoảng
tài chính tiền tệ của các nước châu Á đã ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình
thu hút vốn Việt Nam nói chung và vào ngành thương mại nói riêng. Vì vậy,
nếu các cơ quan chức năng của Hà Nội không nhìn nhận vấn đề này một cách
đúng đắn thì trong những năm tới đây vốn đầu tư vào ngành thương mại còn
có xu hướng giảm.
1.2.1.2. Xét về cơ cấu nguồn vốn
Để đạt được mức tăng trưởng GDP thương mại hiện tại và hiện đại hoá
cơ sở vật chất của ngành thương mại, tổng vốn đầu tư cho hoạt động kinh
doanh và xây dựng các công trình thương mại là rất lớn, vì vậy cần huy động
vốn đầu tư từ các nguồn khác nhau. Xét về cơ cấu vốn, hiện nay vốn đầu tư
vào ngành thương mại chủ yếu xuất phát từ ngân sách nhà nước, từ dân cư và
các doanh nghiệp, vốn tín dụng và các nguồn vốn khác chiếm tỉ lệ nhỏ. Xét về
tương quan giữa vốn ngân sách và ngoài ngân sách thì vốn ngân sách còn
chiếm tỉ lệ tương đối lớn, cho thấy khả năng tự vận động về vốn của ngành
thương mại còn khá hạn chế, còn trông chờ ỷ lại vào sự bao cấp của Nhà
nước. Tuy nhiên cũng có những dấu hiệu khả quan là tỉ trọng vốn cấp từ ngân
sách Nhà nước hiện nay đã có xu hướng giảm một cách rõ rệt, thể hiện qua
bảng sau:
Hoàng Thị Thu Hương Lớp: Đầu tư 47D
Ngành thương mại Hà Nội trong những năm gần đây do có sự đẩy
mạnh hợp tác kinh tế với nước ngoài nên vốn đầu tư nước ngoài tăng nhanh
Hoàng Thị Thu Hương Lớp: Đầu tư 47D
22
chóng. Hà Nội hiện đang có quan hệ hợp tác với rất nhiều nước trên thế giới,
trong đó có những đối tác làm ăn lớn như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc,
Australia…, ngoài ra tạo được những quan hệ rất tốt với những quốc gia phát
triển như Mỹ, Nga, Anh, Pháp…Với những chuyển biến tốt trong quan hệ
hợp tác kinh tế đã tạo ra được những thuận lợi cho các doanh nghiệp thương
mại khi tiến hành hoạt động xuất nhập khẩu. Với những cơ chế chính sách
kích thích đầu tư nước ngoài mà Hà Nội đã và đang tạo ra để thu hút đầu tư
nước ngoài đã làm cho lượng vốn đầu tư nước ngoài vào thành phố ngày càng
gia tăng. Có thể nói đây là một yếu tố rất quan trọng trong sự phát triển của
thành phố nói chung và của ngành thương mại nói riêng. Vốn đầu tư nước
ngoài là một bộ phận quan trọng trong tổng số vốn đầu tư huy động của thành
phố. Sự gia tăng của vốn đầu tư nước ngoài kéo theo sự tăng lên của vốn đầu
tư toàn thành phố và góp phần nào đó kích thích sự các doanh nghiệp trong
nước tăng vốn đầu tư vào hoạt động kinh doanh thương mại.
Tuy vốn nước ngoài đã tăng khá nhanh trong những năm qua nhưng
nhìn chung về số lượng vốn đầu tư của ngành thương mại thì ta thấy rằng tỷ
trọng yếu tố vốn nước ngoài chỉ đạt một tỷ lệ rất khiêm tốn, bình quân qua
các năm từ 2004 đến nay, vốn đầu tư trong nước chiếm tỉ lệ bình quân là
84,1% còn lại vốn đầu tư nước ngoài chiếm 15,9%. Cụ thể như sau:
B ng 3 : T tr ng v n đ u t n c ngoài trong t ng s v nả ỷ ọ ố ầ ư ướ ổ ố ố
đ u t vào ngành th ng m i Hà N iầ ư ươ ạ ộ
Năm Tỷ trọng vốn đầu tư nước
ngoài(%)
2004 8
2005 9,1
2006 13,4
cách khái quát nhất, việc sử dụng vốn đầu tư thương mại được triển khai theo
những nội dung sau:
Hoàng Thị Thu Hương Lớp: Đầu tư 47D
24
1.2.2.1. Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành
Nội dung đầu tư vào cơ sở vật chất kĩ thuật của ngành thương mại bao
gồm đầu tư vào xây dựng mới cơ sở vật chất của ngành như chợ, khách sạn,
các văn phòng, văn phòng cho thuê, sửa chữa tái tạo cơ sở vật chất đã có,
mua sắm trang thiết bị của ngành…
Trong những năm từ 2004 đến nay, ngành thương mại đã rất chú trọng
công tác đầu tư vào cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành nhằm tạo nên một diện
mạo mới cho ngành thương mại, xây dựng và phát triển ngành thương mại
theo hướng một ngành thương mại hiện đại, văn minh, thu hút đầu tư trong và
ngoài nước. Nhìn một cách tổng quát, đầu tư vào cơ sở vật chất của ngành từ
năm 2004 luôn có xu hướng gia tăng, điều này chứng tỏ rằng ngành đã dành
một sự quan tâm lớn cho nội dung đầu tư này. Vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật
chất luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số vốn đầu tư sử dụng của toàn
ngành ( trung bình khoảng 40- 45%).
Trên thực tế khoảng 30% vốn đầu tư vào cơ sở vật chất của ngành
thương mại dành cho việc sửa chữa, tái tạo những cơ sở vật chất sẵn có; còn
lại 70% dành để xây dựng mới. Ta thấy tỷ lệ này là chưa hợp lý, nó phản ánh
một thực tế rằng cơ sở vật chất của ngành được xây dựng với một chất lượng
không cao, sau một vài năm đưa vào sử dụng thì phải sửa chữa, thay thế, gây
ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh thương mại, tốn kém về thời gian và
chi phí; Hoặc cũng có thể khi xây dựng cơ sở vật chất thì chưa tính toán đến
yếu tố hao mòn vô hình của tài sản nên khi tuổi thọ của sản phẩm chưa hết thì
tài sản đã trở nên lỗi thời, không đảm bảo yếu tố cạnh tranh của ngành, vì vậy
phải đầu tư thêm để nâng cấp, sửa chữa. Đây là một thực tế đang diễn ra trong
hoạt động đầu tư vào cơ sở vật chất của ngành thường mại trong những năm
gần đây. Nó phản ánh hiệu quả đầu tư không cao, chất lượng của các công