Báo cáo thực tập tổng hợp tại Trung tâm quản lý bay dân dụng việt nam - Pdf 30

PHẦN I. KHÁI QUÁT VỂ TRUNG TÂM QUẢN LÝ BAY
DÂN DỤNG VIỆT NAM
I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CỤC HÀNG
KHÔNG DÂN DỤNG VIỆT NAM.
Ngành Hàng Không Dân Dụng Việt Nam có lịch sử hình thành đến nay đã
được 50 năm:
Ngày 15/1/1956, Cục Hàng Không Dân Dụng Việt Nam được thành lập
theo quyết định số 666/TTg của Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân
Chủ Cộng Hoà- nay là nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam- trực
thuộc Thủ tướng Chính phủ và đặt dưới sự chỉ đạo quản lý của Bộ quốc
phòng và quân uỷ trung ương.
Ngày 11-2-1976, Cục Hàng Không Dân Dụng Việt Nam được nâng cấp
thành Tổng công ty Hàng Không Dân Dụng Việt Nam theo Quyết định số
28/CP của Chính phủ. Cùng với sự đổi mới của đất nước, ngành Hàng Không
Dân Dụng Việt Nam được Nhà nước xác định là một ngành kinh tế kỹ thuật
then chốt thực hiện sự cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân.
Theo Nghị định số 112/HĐBT Tổng công ty Hàng Không Dân Dụng Việt
Nam chuyển từ Bộ Quốc Phòng quản lý về trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng-
nay là Chính Phủ, sau đó giao cho Bộ giao thông vận tải thực hiện chức năng
quản lý Nhà nước chuyên ngành hàng không, thành lập vụ hàng không theo
quyết định 224/HĐBT và Tổng công ty Hàng Không theo quyết định
225/BĐBT.
Ngày 26/12/1991, sau khi luật Hàng Không Dân Dụng Việt Nam được
Quốc Hội thông qua và được chủ tịch nước ký Quyết định ban hành có hiệu
lực từ ngày 01/06/1992 thì Tổng công ty Hàng Không Dân Dụng Việt Nam
lại được củng cố và đổi mới tổ chức một lần nữa: Nghị định số 242/HĐBT
giải thể vụ Hàng Không và thành lập lại Cục Hàng Không Dân Dụng Việt
Nam trực thuộc Bộ Giao thông vận tải, về sau chuyển về trực thuộc Chính
phủ theo nghị định số 32/CP ngày 22/05/1995 thực hiện chức năng quản lý
chuyên ngành Hàng Không. Đồng thời quán triệt quan điểm đổi mới quản lý
doanh nghiệp nhà nước theo luật doanh nghiệp, Tổng công ty Hàng Không

+) Trực thuộc Cục Hàng Không Dân Dụng Việt Nam
+) Có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam
+) Có tên gọi: Trung Tâm QLBDDVN
+) Tên Giao dịch quốc tế: VietNam Air Traffic Management
+) Tên Viết Tắt: VATM
+) Trụ sở chính đặt tại: Sân bay Gia lâm, Hà Nội
+) Có vốn và tài sản riêng do Nhà nước giao; Chịu trách nhiệm đối với
các khoản nợ trong phạm vi số vốn do Trung tâm quản lý.
+) Có con dấu riêng, được mở tài khoản tại kho bạc Nhà nước, các ngân
hàng trong nước và ngoài nước theo quy định của Pháp luật Việt Nam.
Chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Tổng giám đốc và gồm có 05 đơn vị thành
viên là những Doanh nghiệp nhà nước hạch toán phụ thuộc:
- Trung tâm quản lý bay miền bắc
- Trung tâm quản lý bay miền trung
- Trung tâm quản lý bay miền nam
- Trung tâm dịch vụ kỹ thuật quản lý bay
- Trung tâm hiệp đồng chỉ huy điều hành bay
Các đơn vị thành viên có trách nhiệm phối hợp với các tổ chức quản lý
bay tại khu vực, trực tiếp chỉ huy và tham gia điều hành bay, cung cấp dịch vụ
không lưu, thông tin, khí tượng
Có thể nói rằng việc chuyển đổi từ đơn vị sự nghiệp hành chính có thu
sang Doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích là một bước ngoặt lớn trong
lịch sử hình thành và phát triển của TT. Từ đây, công tác quản lý tài chính và
hạch toán của TT có sự thay đổi lớn so với trước.Cụ thể như sau:
- Khi là một đơn vị sự nghiệp kinh tế có thu, tổng số thu được của TT từ
đi các khoản chi phí (đã được duyệt), còn lại bao nhiêu nộp hết vào Ngân sách
Nhà nước (chênh lệch thu chi không ảnh hưởng lớn đến lợi ích người lao
động trong TT).
- Khi chuyển sang Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích, việc quản
lý tài chính và chế độ hạch toán kế toán của TT được thực hiện theo các văn

Hàng Không Dân Dụng Việt Nam, được cục trưởng cục Hàng Không Dân
Dụng Việt Nam uỷ quyền quản lý Nhà nước chuyên ngành Quản lý bay dân
dụng, cung cấp dịch vụ không lưu và những dịch vụ khác có liên quan cho các
hãng Hàng Không trong và ngoài nước. Chức năng, nhiệm vụ của trung tâm
quản lý bay dân dụng Việt Nam được quy định phù hợp với luật Hàng Không
Dân Dụng Việt Nam và các văn bản dưới luật có liên quan.
1. CHỨC NĂNG
Trung Tâm Quản Lý Bay Dân Dụng Việt Nam thực hiện các chức năng
sau:
+) Quản lý điều hành bay tất cả các máy bay dân dụng trên vùng trời nước
Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và không phận được phân công.
+) Cung cấp dịch vụ không lưu trong hai vùng thông báo bay (FIRs – Fly
Information Regions) Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh: Các dịch vụ thông
tin quản lý và thông tin thương mại cho các tổ chức, cá nhân trong nước,
ngoài nước để khai thác đường hàng không dân dụng và không phận được
phân công, các hoạt động hàng không dân dụng khác có liên quan.
2. NHIỆM VỤ
Trên cơ sở các chức năng trên, các nhiệm vụ cụ thể mà Trung Tâm được
giao bao gồm:
- Cấp phép bay cho các chuyến bay dân dụng trong nước và nước ngoài
hoạt động trong không phận Việt Nam và vùng trời được phân công.
- Thực hiện công tác chỉ đạo chuyên ngành quản lý bay để đảm bảo an
toàn điều hòa và hiệu quả.
- Tổ chức, quản lý trực tiếp đường dài, tiếp cận của Trung Tâm Quản Lý
Bay Hà Nội; đường dài của Trung Tâm Quản Lý Bay Đà Nẵng và của Trung
Tâm Quản Lý Bay Hồ Chí Minh (thuộc hai vùng thông báo bay Hồ Chí Minh
và Hà Nội); Tổ chức kiểm soát tiếp cận tại sân bay đối với các cụm cảng hàng
không sân bay Miền Bắc, Miền Trung, Miền Nam theo luật Hàng Không Dân
Dụng Việt Nam và khuyến cáo thực hành của tổ chức hàng không quốc tế
(ICAO).

hoặc cục hàng không dân dụng Việt Nam thông báo tình trạng khẩn cấp đối
với máy bay dân dụng trong nước và nước ngoài hoạt động trên không phận
được phân công kiểm soát.
Với những chức năng, nhiệm vụ được quy định rõ ràng và cụ thể, trong
những năm qua đội ngũ cán bộ công nhân viên của Trung tâm đã không
ngừng phấn đấu nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác của đơn vị. Cho đến
nay TT đã tham gia xây dựng và quản lý 2 trung tâm kiểm soát đường dài
(ACC) ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh;3 cơ quan kiểm soát tiếp cận
(APP) tại Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh và 20 đài chỉ huy tại sân
(TWR), thực hiện trách nhiệm cung cấp các dịch vụ không lưu cho các máy
bay dân dụng trong nước và ngoài nước hoạt động trong hai vùng thông báo
bay và đi đến các sân bay Việt Nam. Để đảm bảo cung cấp các dịch vụ không
lưu cho các hoạt động bay quốc tế, các trung tâm kiểm soát đường dài, trung
tâm thông báo bay của các quốc gia kế cận. Đồng thời TT cũng thoả thuận
được với các cơ quan quản lý và khai thác vùng trời những phương thức hiệp
đồng khai thác nhằm đạt thuận lợi tối đa cho sự phát triển của ngành hàng
không dân dụng trong khi vẫn đảm bảo yếu tố an ninh quốc phòng.
Bên cạnh việc luôn quan tâm đổi mới trang thiết bị, TT cũng chú trọng
đầu tư phát triển nhân tố con ngưòi trong dây chuyền hoạt động của mình.
Trong những năm qua, đội ngũ kiểm soát không lưu của TT đã được gửi đi
nâng cao nghiệp vụ tại các trung tâm đào tạo quốc tế về chuyên ngành QLB
như học viện hàng không dân dụng Singapore, Trung tâm huấn luyện New
Zealand,… Lực lượng mới bổ sung của Trung tâm cũng được tuyển chọn kỹ
lưỡng hơn, công tác huấn luyện nghiệp vụ cơ bản tại trường hàng không Việt
Nam cũng được nâng lên một bước.
Nhờ những lỗ lực trên, trong những năm qua, Trung tâm đã đạt mức độ
tăng trưởng lên đến 5%/năm, góp phần không nhỏ tạo nên mức độ tăng
trưởng 7%/năm của toàn ngành hàng không dân dụng.
3. CƠ CẤU TỔ CHỨC
Hiện nay, theo mô hình Doanh Nghiệp Nhà Nước hoạt động công ích.

góp phần đảm bảo hoạt động liên tục, an toàn và hiệu quả trong dây chuyền
công nghệ thống nhất của Trung tâm quản lý bay dân dụng Việt Nam
*) Trung tâm dịch vụ kỹ thuật QLB
- Tên giao dịch quốc tế: Air traffic Technical Services Center
- Trụ sở chính đặt tại: Sân bay Gia lâm, huyện Gia lâm Thành phố Hà Nội
- Trung tâm thực hiện chức năng cung cấp các dịch vụ kỹ thuật chuyên
ngành quản lý bay trên cơ sở nhiệm vụ được phân công, góp phần đảm bảo
hoạt động liên tục, an toàn và hiệu quả các hệ thống, phương tiện cung cấp
dịch vụ không lưu và các dịch vụ khác của Trung tâm quản lý bay dân dụng
Việt Nam
*) Trung tâm hiệp đồng chỉ huy điều hành bay
- Tên giao dịch quốc tế: Air Traffic Command and Coordination Center
(Viết tắt là ATC&C)
- Trụ sở chính: Sân bay Gia lâm, huyện Gia lâm Thành phố Hà Nội
- Trung tâm thực hiện chức năng phối hợp, hiệp đồng với các trung tâm
quản lý bay khu vực, các cơ quan chức năng trong và ngoài ngành hàng
không trong việc giám sát điều hành và kiểm soát các hoạt động bay dân dụng
trong nước, quốc tế trong các vùng thông báo bay (FIR) Hà nội và Thành phố
Hồ Chí Minh đảm bảo an toàn, điều hoà và hiệu quả, tham gia quản lý, bảo vệ
vùng trời chủ quyền quốc gia.
Các đon vị thành viên của Trung tâm có con dấu riêng, được mở tài khoản
tại ngân hàng phù hợp với phương thức thanh toán phụ thuộc. Các đơn vị này
có cơ cấu tổ chức cán bộ khối trực tiếp thành các ban như: Ban không lưu,
ban kỹ thuật, ban radar dẫn đường, ban thông tin, ban khai thác thông tin,
phân xưởng cơ điện lạnh phân xưởng điện tử và khối cơ quan như cơ quan
trung tâm, có con dấu riêng để giao dịch. Cơ chế tổ chức, chức năng nhiệm
vụ, quy chế hoạt động của cơ quan giúp việc và các đơn vị cơ sở do Tông
giám đốc Trung tâm trình Cục trưởng phê duyệt
*) Trung tâm văn hoá hàng không
Tháng 6/2002 Cục trưởng cục hàng không dân dụng Việt Nam ký quyết

sân bay độc lập mà do phòng thủ tục bay kiêm nhiệm
1.3. Công tác thông tin cố định và di động
Hệ thống thông tin cố định đảm bảo đường thông tin thoại, số liệu giữa
các cơ quan kiểm soát không lưu trong nước và quốc tế, thông tin giữa các cơ
quan trong quá trình quản lý bay, thông tin nội bộ trong một cơ quan kiểm
soát không lưu. Hệ thống thông tin di động đảm bảo thông tin thoại số liệu
giữa các cơ quan cung cấp dịch vụ không lưu và máy bay.
1.4.Công tác thông tin đẫn đường
Hệ thống thông tin dẫn đường làm nhiệm vụ trợ giúp cho các máy bay,
tiếp cận và hạ cánh tại các sân bay theo các phương phát đã được thiết lập.
1.5. Công tác thông tin giám sát.
Thệ thống thông tin giám sát trợ giúp các cơ quan kiểm soát không lưu
nhằm “thấy” máy bay trong suốt quá trình hoạt động. Đây là phương thức
kiểm soát hiện đại, kết hộp với thông tin thoại công tác kiểm soát bay được
thực hiện một cách triệt để (nghe nói và nhìn thấy được).
2.6. Công tác khí tượng
Cung cấp cho nhà quản lý tàu bay và người lái bay trước cũng như trong
quá trình bay, mọi thông tin về tình hình khí tượng cần thiết để đảm bảo bay
an toàn - hiệu quả. Dịch vụ khí tượng bao gồm: thông tin khí tượng vùng, khu
vực, tiểu khu vực và tại sân; dự báo và cành báo khí tượng nguy hiểm….
2.7. Công tác tìm kiếm cứu nạn
Tăng cường độ tin cậy an toàn giao thông hàng không, thường trực xử lý
mọi tình huống bất trắc trong giao lưu hàng không… thực hiện dưới hình thức
tổ chức các mạng thông tin cảnh báo, khẩn nguy, cài đặt dữ liệu báo động tai
nạn, lập đội cơ động trang bị đầy đủ các phương tiện và thường trực tìm kiếm
cứu nạn.
2.8. Công tác hiệp đồng chỉ huy điều hành bay
Công tác hiệp đồng chỉ huy điều hành bay thực hiện chức năng phối hợp,
hiệp đồng với các trung tâm quản lý bay khu vực, các cơ quan chức năng
trong và ngoài ngành hàng không trong việc giám sát, điều hành và kiểm soát

1. QUY MÔ VÀ NĂNG LỰC ĐIỀU HÀNH
Việt nam đang quản lý và điều hành các hoạt động bay trong vùng trời có
diện tích khoảng 1.200.000 km
2
thuộc 02 vùng thông báo bay là FIR Hà nội
và FIR Hồ Chí Minh. Đây là hai vùng FIR có các đường bay với mật độ bay
khá cao, chiếm vị trí quan trọng đối với các hoạt động bay trên khu vực biển
Đông cũng như khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Hàng ngày có trên 600
chuyến bay đi/đến và quá cảnh vùng trời Việt Nam.
2. HỆ THỐNG CƠ SỞ HẠ TẦNG
2.1. Kiểm soát không lưu
Gồm 2 trung tâm kiểm dài (ACC Hà Nội và ACC Hồ Chí Minh) và 3 cơ
quan kiểm soát tiếp (APP Nội bài, APP Tân Sơn Nhất, APP Đà Nẵng), với
trang thiết bị đáp ứng tiêu chuẩn ICAO và có đầy đủ năng lực kiểm soát, điều
hành các hoạt động bay trong vùng trời do Việt Nam quản lý. Ngoài ra hầu
hết các đài kiểm soát không lưu (TWRs) tại các cảng hàng không đã và đang
được đầu tư nâng cấp, hiện đại hoá.
2.2. Các mạng kỹ thuật phục vụ không lưu
Mạng thông tin hàng không được trang bị khá hiện đại đáp ứng được nhu
cầu hiện nay về thông tin hàng không. Mạng dẫn đường hàng khong bao gồm
49 đài trạm dẫn đường VOR/DME, NDB và ILS bảo đảm phủ sóng trên tất cả
các đường bay. Hệ thống radar giám sát hàng không bao gồm 9 trạm radar
được hoà mạng thống nhất, đảm bảo tầm phủ hầu như toàn bộ 2 FIR do Việt
Nam quản lý điều hành.
2.3. Cơ sở khí tượng hàng không
Hiện nay có 2 trạm radar thời tiết C-band, 2 trạm thu sản phẩm dự báo
thời tiết toàn cầu (SADIS), 1 trạm thu ảnh vệ tinh, 9 trạm quan trắc khí tượng
tự động, ngoài ra tại từng sân bay còn có các trạm quan trắc, vườn khí tượng
theo tiêu chuẩn tối thiểu của ICAO. Về tổ chức hiện tại có 1 ban canh phòng
thời tiết tại Gia lâm, 3 cơ quan khí tượng tại 3 cảng hàng không quốc tế Nội

việc thực thi các nhiệm vụ được giao, đã và đang phát huy tác dụng trong
thực tiễn cuộc sống.
3.2. Tồn tại
Tổ chức, chức năng nhiệm vụ, cơ chế hoạt động của các đơn vị thành viên
phù hợp với khả năng tính chất nhiệm vụ của từng đơn vị. Các quy định về
phân cấp quản lý đã tạo cho các đơn vị thành viên mở rộng quyền chủ động,
thúc đẩy trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ, các dịch vụ được tổ chức hoạt
động phù hợp, từng bước chuyên môn hoá, tạo ra cơ chế giám sát kiểm tra
chất lượng sản phẩm, thuận lợi cho công tác quản lý của cơ quan cấp trên.
Tuy nhiên qua hoạt động thực tiễn theo mô hình này, cũng đã xuất hiện
những vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu:
- Còn có sự đan xen giữa đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp (đơn giá tiền
lương khấu hao cơ bản trích lập các quỹ, chỉ tiêu lợi nhuận, chỉ tiêu nộp ngân
sách và hệ thống chứng từ sổ sách kế toán; thu từ dịch vụ công ích được quy
định là phí (do Nhà nước quy định, nhà nước thu) đối với bay quá cảnh được
trích một phần làm nguồn thu của đơn vị để trích lập các quỹ, như quỹ đầu tư
phát triển sản xuất điều này chắc chắn sẽ dẫn đến thiếu vốn đầu tư phát triển
sản xuát mở rộng vì trang thiết bị công nghệ quản lý bay phát triển nhanh,
vòng đời ngắn (5-10 năm).
- Chưa có đủ các yếu tố kinh tế kỹ thuật để tiến hành hạch toán kinh tế
đầy đủ, nên xác định hiệu quả kinh tế, tăng năng suất lao động, hạ giá thành
sản phẩm chưa phản ánh đúng bản chất của quá trình tổ chức và cung ứng
dịch vụ, đơn giá tiền lương không ổn định, hàng năm phải xây dựng đơn giá
tiền lương; hoạt động kinh tế tài chính trong nội bộ doanh nghiệp cũng như
trong quan hệ với các bộ ngành chức năng Nhà nước ở lĩnh vực đó còn dáng
dấp của cơ chế bao cấp.
- Tổ chức hoạt động kỹ thuật được phân theo chức năng (quản lý chỉ đạo,
vận hành các dịch vụ kỹ thuật khai thác, bảo trì sửa chữa). Đối với số lượng
trang bị ít, công nghệ lạc hậu, hệ thống không phức tạp tổ chức như vậy phát
huy được khả năng của lực lượng kỹ thuật. Tuy nhiên, mô hình tổ chức này

với chất lượng cao, đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn khuyến cáo của ICAO. Chuẩn
bị cơ sở vật chất kỹ thuật và con người sau năm 2005 từng bước chuyển sang
hệ thống CNS/ATM mới với các nhiệm vụ cụ thể:
Tiếp tục khai thác có hiệu quả các hệ thống trưng bị hiện có, đưa chất
lượng dịch vụ không lưu lên mức tiên tiến của khu vực.
Từng bước triển khai một số thành phần của chương trình CNS/ATM mới
đưa vào hoạt động theo tiến độ của khu vực và thế giới.
Đầu tư mới AACC Hồ Chí Minh theo công nghệ truyền thống và có khả
năng mở rộng phát triển theo công nghệ CNS/ATM mới, có khả năng dự
phòng cho ACC Hà Nội khi cần thiết.
Tiếp tục hiện đại hoá hệ thống phụ trợ dẫn đường DVOR/DME, từng
bước triển khai thực nghiệm và khai thác hệ thống dẫn đường trợ sai cho vệ
tinh (DGPS) cho khu vực đường dài tiếp cận hạ cất cánh.
Nâng cấp hệ thống thông tin liên lạc, khẳng định rằng VHF, vệ tinh thoả
mãn nhu cầu khai thác bay trong FIR và các sân bay địa phương, từng bước
số hoá thông tin không địa, thông tin đối điểm.
Từng bước triển khai giám sát chủ động (ADS/C hoặc ADS/B)
Nghiên cứu khả thi dự án đầu tư mới ACC Việt Nam sau năm 2015
Mua sắm trang bị phương tiện bay kiểm tra hiệu chuẩn các phương tiện
thông tin dẫn đường giám sát.
Hoàn thiện quy chế tìm kiếm cứu nạn, đầu tư, mua sắm trang thiết bị,
phương tiện, xây dựng lực lượng, tổ chức huấn luyện, diễn tập sẵn sàng đáp
ứng mọi yêu cầu về tìm kiếm cứu nạn.
Xây dựng nguồn nhân lực: Đào tạo đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹ thuật,
kiểm soát viên không lưu đủ về số lượng, đạt về chất lượng, đủ năng lực làm
chủ và khai thác có hiệu quả hệ thống công nghệ mới.
Tiếp tục hoàn thiện và đổi mới mô hình tổ chức, cơ chế hoạt động khai
thác có hiệu quả các nguồn lực, đóng góp nhiều hơn nữa cho nhà nước, đảm
bảo nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên. Tổ chức lại mô hình sản xuất
và cơ chế hoạt động của Trung tâm dịch vụ kỹ thuật theo hướng mô hình công

hình chung của quản lý bay khu vực và quốc tế. Các cơ chế thực hành, đặc
biệt là cơ chế về tài chính, chính sách chế độ đối với người lao động cần tiếp
tục được nghiên cứu để điều chỉnh và đổi mới, tạo điều kiện cho chuyên
ngành quản lý bay tiếp tục phát triển bền vững trong tương lai.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status