1
MỤC LỤC
A - PHẦN MỞ ĐẦU 5
1. Lý do chọn đề tài. 5
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu. 6
3. Mục đích nghiên cứu. 7
4. Nhiệm vụ nghiên cứu. 7
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. 8
6. Giả thuyết khoa học. 8
7. Phương pháp nghiên cứu. 8
8. Đóng góp của đề tài. 8
9. Cấu trúc của đề tài. 8
B - PHẦN NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG NGHE,
KỂ CHO HỌC SINH LỚP 1, 2, 3 QUA PHÂN MÔN KỂ CHUYỆN Ở HUYỆN
MINH HÓA TỈNH QUẢNG BÌNH. 9
1.1. Cơ sở lý luận. 9
1.1.1. Đặc điểm tâm lý học của học sinh lớp 1, 2, 3. 9
1.1.2. Đặc điểm ngôn ngữ và văn học. 13
1.1.3. Đặc điểm kỹ năng nghe, kể. 13
1.1.4. Ý nghĩa của việc phát triển kĩ năng nghe, kể chuyện đối với học sinh lớp 1, 2, 3
ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình. 17
1.2. Cơ sở thực tiễn. 18
1.2.1.Thuận lợi và khó khăn của giáo dục tiểu học huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình.
18
1.2.2. Thực trạng dạy học Kể chuyện các lớp 1, 2, 3 huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng
Bình. 19
1.2.3. Chương trình Kể chuyện lớp 1, 2, 3 với việc phát triển kĩ năng nghe, kể cho học
sinh. 21
1.2.4. Một số điểm cần chú ý trong việc rèn kỹ năng nghe, kể cho học sinh tiểu học
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đay là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu nghiên
cứu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình
nào.
Quảng bình, tháng 5 năm 2015
Tác giả khóa luận
Đinh Thị Ánh
phổ thông. Phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, phát triển nhân
tài; đào tạo những con người có kiến thức văn hóa, khoa học, tự chủ, sáng tạo, yêu chủ
nghĩa xã hội, sống lành mạnh. Phát triển giáo dục là một trong những động lực quan
trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Mỗi một môn học ở
Tiểu học có vị trí và vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách học sinh.
Môn Tiếng Việt ở trường tiểu học gồm các phân môn: Học vần, Tập viết, Chính
tả, Tập đọc, Kể chuyện, Luyện từ và câu, Tập làm văn. Phân môn Kể chuyện có một vị
trí quan trọng. Cùng với các phân môn khác, Kể chuyện giúp học sinh có điều kiện để
phát triển năng lực ngôn ngữ, biết sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt làm công cụ giao tiếp
và tư duy. Phân môn Kể chuyện vừa có nhiệm vụ cung cấp tri thức về tiếng Việt, văn
học, vừa góp phần rèn luyện các kĩ năng sử dụng tiếng Việt cho học sinh. Trong đó,
nhiệm vụ cơ bản của phân môn Kể chuyện là rèn luyện kỹ năng nghe, kỹ năng kể
chuyện, một kỹ năng nói ở trình độ cao, mang tính nghệ thuật cho học sinh tiểu học.
Tuy nhiên, thực trạng dạy học Kể chuyện được sử dụng trong nhà trường tiểu
học nhất là ở các trường tiểu học (vùng sâu vùng xa như huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng
Bình hiện nay) chưa theo kịp với yêu cầu của chương trình mới. Theo đó, việc thực
hiện nhiệm vụ cơ bản của phân môn Kể chuyện là phát triển các kỹ năng nghe, kể cho
học sinh ở các trường tiểu học huyện Minh Hóa vẫn còn nhiều khoảng trống. Đặc biệt,
học sinh các lớp 1, 2, 3 ở vùng cao Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình học sinh từ nhỏ đã
được bố mẹ đẻ dạy nói tiếng nguồn. Trước khi đến trường học sinh hầu như không
được nghe – nói tiếng phổ thông, do đó giai đoạn đầu bậc học tiểu học các em gặp
nhiều khó khăn trong học tập. Một trong những khó khăn đó là việc phát triển các kỹ
năng như nghe, kể. Hầu hết các em học sinh là con em vùng núi vốn từ giao tiếp còn
hạn chế, chưa mạnh dạn dùng lời lẽ của mình để thể hiện giọng nhân vật trong mỗi câu
chuyện. Nhiều học sinh còn ngại ngùng không dám bộc lộ khả năng của mình. Mặt
khác, đề xuất các biện pháp dạy học phù hợp riêng cho học sinh huyện Minh Hóa, tỉnh
Quảng Bình vẫn còn đang bỏ ngõ, đặc biệt là vấn đề phát triển kỹ năng nghe, kể.
6
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Phát triển kĩ
tiểu học theo chương trình mới Nguyễn Trí - NXB GD 2005.
7
Trong cuốn sách này tác giả đã đề cập 3 vấn đề lớn đó là chương trình mới môn
Tiếng Việt ở tiểu học, một số điểm cần lưu ý về phương pháp dạy học môn Tiếng Việt
ở bậc tiểu học theo chương trình mới, kiểm tra, đánh giá môn Tiếng Việt ở tiểu học
theo chương trình mới.
Tuy vậy, tác giả Nguyễn Trí chủ yếu đề cập đến những vấn đề cơ sở lý luận của
việc xây dựng và thực hiện chương trình Tiếng Việt 2000. Trong đó chỉ có một phần
nhỏ nói đến những vấn đề chung nhất của việc dạy 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết tiếng
Việt cho học sinh tiểu học: đặc điểm của từng loại kỹ năng, các yêu cầu luyện tập kỹ
năng và những bài luyện tập các kỹ năng trong các phân môn của môn Tiếng Việt.
Vấn đề phát triển kỹ năng Tiếng Việt cho học sinh vùng cao vẫn hoàn toàn chưa được
đề cập đến.
Ngoài ra, trên internet hiện nay còn có một số bài viết bàn về dạy học ở tiểu học
như: SKKN: Một số kinh nghiệm rèn luyện kỹ năng kể chuyện cho học sinh lớp 2
trong phân môn tiếng Việt (ở trang Hay phương pháp dạy học rèn kỹ
năng kể chuyện cho học sinh lớp 2. (Lê Thị Đặng, giáo viên trường Tiểu học số 1
Mường Mươn. (ở trang Sáng kiến kinh nghiệm: Rèn kỹ năng kể
chuyện cho học sinh. Dương Thị Đức Trường Tiểu học mạc Thị Bưởi (ở trang
Rèn kĩ năng kể chuyện cho học sinh lớp 3.Nguyễn Thị diệu Hiền,
Trường Tiểu học Minh Hòa – Dầu Tiếng Bình Dương.
(
Tuy vậy, có thể khẳng định, cho đến thời điểm tháng 1 năm 2015 đề tài “Phát
triển kĩ năng nghe, kể cho học sinh lớp 1, 2, 3 qua phân môn Kể chuyện ở một số
trường tiểu học huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình” vẫn chưa được ai nghiên cứu.
3. Mục đích nghiên cứu
Tôi thực hiện đề tài này nhằm mục đích: Giúp giáo viên tiểu học ở một số trường
Tiểu học huyện Minh Hóa vận dụng được các phương pháp dạy học mới nhằm thực
hiện được những yêu cầu, nhiệm vụ cơ bản của phân môn Kể chuyện. Từ đó, đề xuất
9. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, phần nội
dung gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học của vấn đề phát triển kỹ năng nghe, kể cho học sinh
lớp 1, 2, 3 qua phân môn Kể chuyện ở huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình.
Chương 2: Các biện pháp dạy học nhằm phát triển kỹ năng nghe, kể cho học sinh
các lớp 1, 2, 3.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. 9
B - PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG
NGHE, KỂ CHO HỌC SINH LỚP 1, 2, 3 QUA PHÂN MÔN KỂ CHUYỆN Ở
HUYỆN MINH HÓA TỈNH QUẢNG BÌNH.
1.1. Cơ sở lý luận.
1.1.1. Đặc điểm tâm lý học của học sinh lớp 1, 2, 3.
Nghiên cứu đối tượng học sinh là một hoạt động có tính chất sư phạm đầu tiên
mà người giáo viên cần làm. Việc tìm hiểu một số đặc điểm về mặt tâm lý lứa tuổi, về
nhận thức và vốn tích luỹ của trẻ, về mặt tư duy và ngôn ngữ là hết sức cần thiết để
xác định phương hướng lên lớp của bất kỳ môn học nào, trong đó có phân môn Kể
chuyện, cụ thể là việc phát triển các kỹ năng nghe, kể cho học sinh qua phân môn này.
1.1.1.1. Đối với học sinh lớp 1.
1.1.1.1.1. Đặc điểm tâm lý lứa tuổi.
Đối với học sinh lớp 1 việc đến trường là bước ngoặt lớn trong cuộc đời các em.
Trước tuổi đi học, các em có thể làm quen với các thao tác học tập một cách tự giác
hoặc không tự giác ở một mức độ nhất định nhưng không cơ bản. Chỉ khi bước chân
vào học thực thụ trong nhà trường, các em mới thực sự đưa mình vào trong một hoạt
động mới - hoạt động học tập, một kỷ luật mới - kỷ luật học tập. Việc bắt đầu học tập
đem lại những thay đổi căn bản trong toàn bộ cuộc đời của trẻ. Việc học tập là bắt
đếm từ 1 đến 10, từ 10 đến 20, biết đọc thơ, vẽ, hát
Để quá trình dạy học ở nhà trường phổ thông được tiến hành tốt hơn, người giáo
viên phải làm cho việc dạy học ở lớp 1 là quá trình tiếp tục sự phát triển và hoàn thiện
những nhận thức và vốn tích luỹ ban đầu của trẻ hợp với quy luật nhận thức và tích luỹ
của trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo. Về thực chất dạy học ở lớp 1 là tiếp tục việc dạy học ở lứa
tuổi mẫu giáo. Ở mẫu giáo, trẻ đã có dịp làm quen với chữ cái và toán qua hình vẽ thì
ở lớp 1 các em học sinh học vần, học toán; ở mẫu giáo trẻ đã được nghe cô kể chuyện
thì ở lớp 1 trẻ được học kể chuyện. Quá trình tri giác các biểu tượng (tri giác là hoạt
động phản ánh trọn vẹn và nhiều mặt các thuộc tính của sự vật và hiện tượng khi
chúng trực tiếp tác động vào các cơ quan thụ cảm) của trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo sẽ được
tiếp tục phát triển và hoàn thiện ở lớp 1 và các lớp tiếp theo. Trong sự nhận thức và
vốn tích luỹ ban đầu của trẻ trước tuổi đi học có những lệch lạc và tiêu cực nhất định
(nói năng thô lỗ, sự nghịch ngợm quá trớn, dùng từ không chính xác), thông qua các
môn học nói chung và phân môn Kể chuyện nói riêng, người giáo viên dạy lớp 1 cần
điều chỉnh lại cho các em.
1.1.1.1.3. Đặc điểm phát triển ngôn ngữ và tư duy.
Nói ngôn ngữ và tư duy của học sinh lớp 1 chưa phát triển và ít phát triển là một
cách nói chung chung. Theo nghiên cứu hiện nay, với trẻ 2 tuổi vốn ngôn ngữ có
11
khoảng 400 từ. Với trẻ 3, tuổi vốn từ phát triển nhanh chóng và có thể đạt đến 1000
từ. Từ năm thứ năm đến năm thứ bảy, quá trình hình thành chức năng ngôn ngữ kết
thúc về cơ bản.
Nói đến ngôn ngữ của trẻ, trước hết nói đến cách phát âm, cách chọn lựa từ và
cách dùng từ. Về mặt phát âm, trừ những em có dị tật trong bộ máy phát âm, còn nói
chung người lớn (cha mẹ, cô giáo mẫu giáo ) có thể luyện cho các em cách phát âm
đúng. Về cách chọn lựa từ ở lứa tuổi học sinh lớp 1, quá trình này vẫn tiếp tục. Do việc
không hiểu nghĩa và sắc thái của từ, do biểu tượng bằng hình ảnh cụ thể nên có em
dùng từ sai mà nghe rất thú vị. Ví dụ: Có em được mẹ cho về quê chơi, đến khi người
Vì vậy, việc nói năng của các em có thể bị "ngọng" nhất thời. Giáo viên cần nắm được
đặc điểm này để có những uốn nắn cần thiết.
Về mặt tâm lý, các em học sinh lớp 2, 3 không còn là những đứa trẻ nữa mà là
những đội viên nhi đồng. Nhiều em lên lớp 3 bắt đầu được quàng khăn đỏ. Trong sinh
hoạt, vui chơi, học tập, các em không phụ thuộc nhiều vào sự chỉ bảo dẫn dắt của bố
mẹ hoặc anh chị trong gia đình mà tự lực tổ chức trò chơi. Hầu hết các em đều chững
chạc hơn hẳn các em học sinh lớp 1 hoặc lớp mẫu giáo lớn. Một số em khá có thể dạy
lại bài ở lớp cho các em học sinh lớp dưới. Các em chưa hẳn là thiếu niên, nhưng
không còn là trẻ con nữa; nét hưng phấn học tập từ lớp 1 còn được giữ vững và phát
triển. Ở những em học kém hoặc bố mẹ ít quan tâm thì điều đó ngược lại. Đồng thời
những biểu hiện tiêu cực cũng bắt đầu nảy sinh nếu không được uốn nắn kịp thời.
1.1.1.2.2. Đặc điểm phát triển nhận thức, năng lực học tập.
Trải qua một năm học theo quy chế chính khoá, các em học sinh lớp 2, 3 đã tự
xác định được kỷ luật học tập như đi học đúng giờ, học bài và làm bài tại lớp, giữ trật
tự, nghe giáo viên hướng dẫn học bài mới Các em biết đọc, biết viết chậm hoặc chép
theo bảng, biết nhận xét, tính toán. Năng lực tư duy và ngôn ngữ đều có bước phát
triển. Ghi nhớ chủ định nảy sinh xen kẽ với năng lực ghi nhớ máy móc. Qua một năm
học tập, các em tích luỹ được một số vốn tri thức các môn học, rèn luyện được một số
kỹ năng nhất định, đặc biệt là kỹ năng đọc, kỹ năng viết. Riêng về phân môn Kể
chuyện các em học sinh lớp 2 đã được nghe và phần nào tập kể 27 truyện kể các loại.
Tuy nhiên do việc mới từ lớp 1 lên lớp 2, năng lực đọc và viết của em còn nhiều hạn
chế. Hầu hết các em còn đọc chậm vì khả năng ghép vần, viết chữ chậm, chưa thuần
thục, cơ tay còn yếu.
Ở lớp 3 tình hình có thuận lợi hơn vì bước chập chững ấy sẽ không còn diễn ra
nữa. Ở lớp 3 các em học sinh có đủ điều kiện hoàn thiện những kỹ năng còn chập
chững ở lớp 2. Nhưng cũng như ở lớp 2, các em học sinh lớp 3 vẫn chưa có bước phát
triển đột biến, nhảy vọt so với lớp 1. Quá trình phát triển về nhận thức, năng lực học
13
thành cơ chế của việc phát tin”[7; Tr 199]. Như vậy, có thể nói nghe là một hoạt động
nhận tin nhờ bộ máy thính giác. Đầu tiên người nghe phải nghe chính xác, đầy đủ
14
thông báo. Sau đó nhờ các hoạt động của tư duy mà chúng ta hiểu được nội dung các
thông báo.
Căn cứ vào các kiểu giao tiếp chúng ta có hai hình thức nghe: nghe đối thoại
(trong kiểu giao tiếp hội thoại) và nghe độc thoại (trong kiểu giao tiếp truyền, phát tin).
Nghe đối thoại và nghe độc thoại bên cạnh những đặc điểm giống nhau: cùng
phụ thuộc vào chất lượng âm thanh, tiếng ồn, độ chú ý hay phân tán của người nghe,
còn có những đặc điểm riêng: trong nghe đối thoại người nghe đối thoại là người trong
cuộc, là người góp phần xác lập nội dung cuộc hội thoại luôn luôn có sự đổi vai từ
người nghe sang người nói hoặc ngược lại. Trong đối thoại, đề tài có thể được xác
định trước (có khi tuỳ hứng của những người tham gia) song nội dung cụ thể luôn luôn
phát triển, biến đổi trong suốt cuộc hội thoại. Điều này đòi hỏi người nghe phải theo
sát cuộc hội thoại từng giây, từng phút, phải hiểu nhanh mọi thông báo để có những
ứng xử kịp thời. Hai đặc điểm trên tạo thuận lợi và khó khăn cho hình thức nghe đối
thoại.
Trong người nghe độc thoại chỉ đóng vai trò người nhận tin, không có sự chuyển
đổi vai như trong hội thoại. Nội dung của độc thoại do người nói quy định, người nghe
không tham gia trực tiếp vào việc xác lập nội dung nên khó nắm bắt nó dù đề tài đã
được biết trước. Tuy vậy bằng cách biểu thị thái độ (lời đề nghị, thái độ tán thưởng
hay phản đối ) người nghe sẽ ảnh hưởng đến người nói buộc họ phải điều chỉnh nội
dung hoặc cách nói.
Sống trong cộng đồng, con người phải dùng kỹ năng nghe thường xuyên (khi
giao tiếp, sinh hoạt, học tập, làm việc ). Song nếu không được rèn luyện, kỹ năng
nghe không phát triển và không trở nên thành thục, con người sẽ gặp khó khăn trong
giao tiếp với mọi người. Tiếng Việt có thành ngữ "nghe như vịt nghe sấm" để chỉ
những người dù tai không bị hỏng nhưng không hiểu được điều đã nghe. Nhiều trường
hiểu nội dung câu chuyện để sau đó có khả năng tái tạo lại câu chuyện đó.
Mặt khác, trong hai hình thức nghe: nghe độc thoại và nghe đối thoại, nhà trường
tiểu học hiện nay thường chú trọng tới hình thức nghe độc thoại, coi nhẹ hình thức
nghe đối thoại. Phân môn Kể chuyện có khả năng khắc phục phần nào nhược điểm
này của chương trình. Hình thức nghe đối thoại được rèn luyện cho học sinh qua bài
tập phân vai dựng lại câu chuyện.
1.1.3.2. Kỹ năng kể.
Kỹ năng kể cũng chính là hoạt động của lời nói, nói là hoạt động phát tin nhờ sử
dụng bộ máy phát âm. Đầu tiên người nói phải xác định nội dung lời nói, lựa chọn
ngôn ngữ để diễn tả nội dung đó. Sau đó người nói sử dụng bộ mát phát âm để truyền
đi chuỗi lời nói đã được xác định.
16
Từ đặc điểm kiểu giao tiếp, người ta nói đến hai dạng nói: đối thoại và độc thoại.
Mỗi dạng có những đặc điểm riêng.
Về đối thoại: Người nghe đối thoại là người tham gia vào quá trình xây dựng nội
dung và diễn biến cuộc hội thoại. Họ luôn luôn có sự đổi vai, từ nói sang nghe hoặc
ngược lại. Đối thoại đòi hỏi sự thích ứng nhanh khi đổi vai để có thể nhập ngay vào
nội dung cuộc đối thoại. Lời đối thoại thường ngắn gọn, các từ đưa đẩy chêm xen được
sử dụng nhiều tạo cho câu văn, lời văn có phong cách khẩu ngữ. Có sự hỗ trợ của các
yếu tố phi ngôn ngữ như điệu bộ, cử chỉ, ánh mắt, giọng cười Trong nhiều trường
hợp, các yếu tố phi ngôn ngữ giúp người nghe hiểu chính xác, đúng đắn ý người nói và
có tác dụng hấp dẫn người nghe.
Về độc thoại: Người độc thoại thường giữ vai trò chủ động trong việc lựa chọn
nội dung, định hướng nói, trong việc xác định phương pháp nói. Song người nghe,
bằng cách phản ứng của mình, cũng có tác động ít nhiều đến người nói. Người nói
khôn ngoan cần đón nhận các phản ứng này để sửa đổi nội dung hoặc cách nói cho
phù hợp. Lời độc thoại thường diễn ra liên tục do đó người nói ít có thời gian ngừng
nghỉ để chuẩn bị. Điều này đòi hỏi người nói cần chuẩn bị kỹ lưỡng nội dung (thậm
kĩ năng khác. Chúng luôn luôn hỗ trợ bổ sung cho nhau. Chúng luôn luôn hỗ trợ và bổ
sung cho nhau. Một học sinh có khả năng nghe, nói tốt thì việc tiếp thu kiến thức các
môn học sẽ tốt hơn, tư duy phát triển nhanh hơn và dẫn đến kĩ năng đọc viết cũng tốt
hơn. Nhưng khó khăn hiện nay mà ngành giáo dục phải đương đầu là kĩ năng Tiếng
Việt của học sinh nói chung và đặc biệt là học sinh ở vùng cao, vùng sâu vùng xa, học
sinh dân tộc thiểu số còn ở mức thấp. Đặc điểm cư trú vừa phân tán, vừa đan xen của
người dân vùng cao rõ ràng có ảnh hưởng không nhỏ đến vấn đề phát triển xã hội, đến
khả năng học tập của học sinh, đặc biệt là việc phát triển các kĩ năng giao tiếp, kĩ năng
Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết). Trong thực tế, ở các vùng miền núi nước ta, hiện nay
không phải nơi nào cũng các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt cũng được phổ biến và phát
triển giống nhau. Thực tế là, khả năng nghe, đọc, nói, viết tiếng phổ thông của học
sinh vùng cao huyện Minh Hóa còn gặp nhiều khó khăn mà giáo dục địa phương và
giáo dục cả nước cần phải đặc biệt quan tâm.
Thực tế kĩ năng nghe, kể của học sinh vùng cao Minh Hóa còn nhiều mặt hạn
chế. Do những khoảng cách về vị trí địa lý, phân bố dân cư, kinh tế, trình độ, dân trí,…
khiến cho người dân vùng cao nói chung và học sinh vùng cao huyện Minh Hóa nói
riêng chưa thể tiếp thu vận dụng tốt các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt trong sinh hoạt,
trong học tập của mình. Do vậy, việc phát triển kĩ năng nghe, kể cho học sinh vùng
cao huyện Minh Hóa có một ý nghĩa quan trọng, giúp các em có khả năng hòa nhập.
Qua đó, xóa dần những khoảng cách về ngôn ngữ giữa các vùng miền trên đất nước ta.
Cũng có thể nói, việc phát triển kỹ năng nghe, kể, các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt
18
trong xã hội của người dân vùng cao thực chất là phát triển ngôn ngữ cho học sinh
vùng cao Minh Hóa. Đây là một việc làm thiết thực, có ý nghĩa vô cùng quan trọng
trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Nghe, kể tốt giúp học sinh
học các môn học tốt hơn, có kĩ năng giao tiếp tốt hơn.
1.2. Cơ sở thực tiễn.
1.2.1.Thuận lợi và khó khăn của giáo dục tiểu học huyện Minh Hóa, tỉnh
Tỷ lệ phòng học kiên cố ở nhiều huyện còn thấp hơn bình quân chung toàn tỉnh; nhiều
trường học còn thiếu nhà hiệu bộ, phòng học bộ môn, thiết bị dạy học, số trường chuẩn
quốc gia đạt tỷ lệ thấp Mặt bằng dân trí, chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, chưa
đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Mặt khác, giáo viên phần lớn là
người địa phương của các trường vùng cao chiếm tỷ lệ cao (74,2%), trình độ đào tạo
không đồng đều do đó việc nắm bắt nội dung chương trình, sách giáo khoa còn chậm,
việc tiếp cận và đổi mới phương pháp dạy học còn nhiều hạn chế. Việc sử dụng đồ
dùng dạy học trực quan, tranh ảnh, còn hạn chế, chưa khai thác hết tác dụng của đồ
dùng dạy học. Số lượng từ của các học sinh sử dụng được trong giao tiếp không nhiều,
học sinh chỉ nói được những từ, câu rất đơn giản như: Thầy giáo, cô giáo, bạn,… hay
các sự vật gần gũi như: Quyển vở, bút chì, cái bảng, Khả năng chú ý và tập trung vào
bài học của học sinh không bền. Học sinh đi học thất thường, có em đi học trong một
tuần chỉ được 2- 3 buổi.
1.2.2. Thực trạng dạy học Kể chuyện các lớp 1, 2, 3 huyện Minh Hóa, tỉnh
Quảng Bình.
Do chưa nhận thức được tầm quan trọng của giờ Kể chuyện nên phần lớn giáo
viên chưa giành cho tiết học này một sự đầu tư thích đáng. Nhiều giáo viên vẫn lên
lớp tiết Kể chuyện chưa đúng phương pháp đặc trưng của bộ môn cũng như chưa thực
hiện đổi mới phương pháp dạy học. Điều này chủ yếu do trình độ giáo viên còn hạn
chế. Trong các giờ Kể chuyện, giáo viên chưa biết khai thác, lựa chọn hình thức và
phương pháp dạy học chưa phù hợp. Nhiều giáo viên thường tuỳ tiện cắt xén nội dung
tiết Kể chuyện theo hứng thú của mình.Trong các tiết giảng dạy, các tiết Kể chuyện
không được kiểm tra, đánh giá thường xuyên. Chính vì lí do trên nên việc phát triển kỹ
năng nghe , kể cho học sinh chưa được chú trọng.
Ở lớp 1,việc giờ Kể chuyện không được giáo viên thực hiện đầy đủ là rất phổ
biến. Nguyên nhân chủ yếu là do giáo viên chưa nhận thức được đầy đủ vai trò của giờ
Kể chuyện. Giáo viên chỉ coi tiết Kể chuyện như một hoạt động giải trí cho học sinh.
Vì thế giáo viên cắt xén tiết Kể chuyện để giành thời gian cho những môn học khác.
Văn bản Kể chuyện ở lớp 1 không được in sẵn trong sách giáo khoa, các đặc
điểm về nhận thức, vốn tích luỹ, khả năng ngôn ngữ và tư duy của học sinh lại còn
bộ câu chuyện. Cách dạy học như vậy làm học sinh kể nhưng không nắm được các chi
tiết, ý chính của từng đoạn truyện, cả câu chuyện, các em kể như đọc lại văn bản,
không có sự phân biệt ngôn ngữ, giọng điệu khi kể và khi đọc. Cũng chính dựa trên
việc học thuộc lòng văn bản nên trong quá trình kể học sinh chỉ cần quên một từ là học
sinh ngắc ngứ, không kể tiếp được. Mặt khác với cách tổ chức này, chỉ rất ít học sinh
được tham gia kể chuyện. Chỉ những em đã thuộc câu chuyện tích cực mới được gọi
21
kể. Như vậy, giờ Kể chuyện chỉ giành cho một số ít học sinh khá, giỏi. Với những tồn
tại của học sinh cũng như giáo viên đã nói ở trên, cần có những biện pháp tích cực để
khắc phục, phát triển kỹ năng nghe, kể chuyện cho học sinh, nâng cao chất lượng của
giờ Kể chuyện.
1.2.3. Chương trình Kể chuyện lớp 1, 2, 3 với việc phát triển kĩ năng nghe, kể
cho học sinh.
1.2.3.1. Chương trình Kể chuyện tiểu học hiện nay mang tính tích hợp triệt để.
Trong môn Tiếng Việt, tính tích hợp được thể hiện rõ vì đặc trưng của phân môn
này mang tính chất phức hợp: nó vừa là đối tượng học tập, vừa là công cụ để học tập,
tư duy và giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày. Do vậy, nó cần phải được thực hành
luyện tập thường xuyên trong tất cả mọi tình huống.
Kể chuyện là một phân môn nằm trong môn Tiếng Việt nên nó cũng được xây
dưng theo quan điểm này. Cụ thể:
1.2.3.1.1. Về nội dung kiến thức:
Ở lớp 1, nhất là giai đoạn học vần, học sinh chưa biết đọc, biết viết nên nội dung
của bài kể chuyện có mục đích giúp học sinh ôn tập, củng cố các âm vần, dấu thanh
mà học sinh đã học trong tuần. Điều này được thể hiện cụ thể: trong nội dung câu
chuyện có chứa các âm vần, dấu thanh và câu, từ ứng dụng mà học sinh vừa học.
Thông qua lời kể của giáo viên, học sinh nghe và dựa vào tranh để kể lại nội dung câu
chuyện, do vậy ngẫu nhiên học sinh đã nói và phát âm được các đơn vị ngôn ngữ đó.
Ví dụ: bài Kể chuyện đầu tiên trong chương trình lớp 1 có tiêu đề: Hổ (trang 25).
bản và kể bằng lời của mình). Đối với kỹ năng đối thoại có tập dựng lại câu chuyện
theo các vai khác nhau, bước đầu biết sử dụng các yếu tố phụ trợ trong giao tiếp
(nét mặt, cử chỉ, điệu bộ).
1.2.3.1.3. Về hình thức cấu tạo.
Nội dung chương trình phân môn Kể chuyện tiểu học hiện nay được đưa vào
chung trong một quyển gọi là Tiếng Việt cùng với các phân môn khác của bộ môn
này. Nghĩa là phân môn Kể chuyện không có sách giáo khoa riêng mà nằm trong một
thể duy nhất là sách Tiếng Việt. Việc đưa nội dung phân môn kể chuyện vào cùng
một cuốn sách với các phân môn khác tạo ra sự thống nhất, gắn bó và tầm quan trọng
của từng phân môn là như nhau, có tác dụng tương tác hỗ trợ lẫn nhau trong từng chủ
đề và trong suốt quá trình dạy học.
1.2.3.2. Văn bản kể chuyện phong phú đa dạng.
Chương trình Kể chuyện tiểu học hiệ nay có nội dung kể phong phú, đa dạng.
Ngoài các thể loại văn học dân gian (60,9%) thì chương trình còn có nhiều thể loại
khác như văn bản khoa học, hành chính - công vụ, báo chí, nghệ thuật… đặc điểm này
giúp học sinh rèn luyện kỹ năng nghe, kể chuyện trên nhiều thể loại văn bản.
23
Ở thể loại truyện thần thoại – truyền thuyết lớp 1 có 2 truyện, lớp 2 có 3 truyện,
lớp 3 không có truyện nào. Thể loại truyện cổ tích, lớp 1 có 4 truyệ, lớp 2 có 6 truyện,
lớp 3 có 7 truyện. Truyện ngụ ngôn – ngụ ngôn hài lớp 2 có 15 truyện, lớp 2 có 7
truyện, lớp 3 có 2 truyện.Truyện danh nhân, lớp 1 có 1 truyện, lớp 2 không có truyện
nào, lớp 3 có 6 truyện. Truyện sinh hoạt, lớp lớp 2 không có truyện nào, lớp 3 có 4
truyện.Truyện người tốt việc tốt, lớp 1 có 2 truyện, lớp 2 có 12 truyện và lớp 3 có 10
truyện. Đối với truyện cổ nước ngoài, lớp 1 và lớp 2 không có truyện nào, lớp 3 chỉ có
1 truyện.
Qua khảo sát, chúng tôi có bảng phân loại truyện như sau:
Loại truyện Lớp 1 Lớp 2 Lớp 3 Tổng
Thần thoại - truyền thuyết 2 3 0 5
tiết/ 1tuần ở lớp 2, 3 của môn Tiếng Việt: 3 tiết Tập đọc, 2 tiết Chính tả, 1 tiết Tập
viết, 1tiết Luyện từ và câu, 1tiết Tập làm văn và 1 tiết Kể chuyện).
Ngữ liệu dùng trong chương trình Kể chuyện tiểu học hiện rất phong phú và đa
dạng với đầy đủ các thể loại truyện : thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện vui,
truyện danh nhân…Những truyện được đưa vào chương trình có gía trị nghệ thuật cao
và có tác dụng tốt trong việc giáo dục học sinh, được lấy từ bộ sách cải cách giáo dục
và một số nguồn khác, nhưng có sự sắp xếp lại với cách thể hiện kết hợp chặt chẽ giữa
kênh hình và kênh chữ. Cụ thể : Ở lớp 1 ngữ liệu dùng để kể chủ yếu là truyện ngụ
ngôn (15 truyện) và truyện cổ tích (4 truyện). Các truyện này phần văn bản chỉ được in
trong sách giáo viên, còn sách giáo khoa chỉ có kênh hình là các tranh vẽ thể hiện cốt
truyện một cách cụ thể, sinh động và các câu hỏi gợi ý, học sinh dựa vào đó để nhớ và
kể lại nội dung câu chuyện trong từng tranh vẽ. So với chương trình Cải cách giáo dục
trước đây thì nội dung truyện kể chương trình 2000 khác hẳn, chỉ có một truyện truyền
thuyết được giữ lại là truyện Thánh Gióng, nhưng nó cũng được đổi thành truyện “ Tre
ngà”, số còn lại là các truyện mới dưới dạng các mẩu chuyện. Còn lớp 2, 3: ngữ liệu
dùng để kể gắn liền với bài tập đọc trước đó, do vậy cứ sau mỗi bài tập đọc đầu tuần sẽ
có một bài kể chuyện tương ứng. Thể loại truyện dùng để kể chủ yếu là truyện người
tốt việc tốt, truyện ngụ ngôn trong nước và nước ngoài.
1.2.3.3. Hình thức bài tập kể đa dạng.
Chương trình Kể chuyện tiểu học hiện nay có các hình thức bài tập kể rất phong
phú, đa dạng. Ngoài hình thức giáo viên kể cho học sinh nghe rồi kể lại, còn có các
25
hình thức khác như: quan sát tranh và kể lại từng đoạn theo tranh, kể lại toàn bộ nội
dung câu chuyện theo lời nhân vật, phân vai dựng lại chuyện, tóm tắt truyện, sắp xếp
các tranh vẽ theo đúng thứ tự câu chuyện…Với các hình thức bài tập kể này chương
trình Kể chuyện tiểu học hiện nay đã tạo ra một không khí học tập sôi nổi, thoải mái và
khai thác được nhiều kinh nghiệm sống, kết hợp rèn luyện được các kỹ năng, thao tác
ngôn ngữ và tư duy cho học sinh. Đặc điểm này cùng với việc không in văn bản truyện