ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
THAM GIA XÉT GIẢI THƯỞNG "TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM"
NĂM 2014 DÀNH CHO SINH VIÊN
ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC LÀM VIỆC
CỦA LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI -
NGỤ Ý CHO ĐÀO TẠO NGHỀ
Thuộc nhóm ngành khoa học: Kinh doanh và quản lý (KD2)
Nhóm sinh viên thực hiện: Trần Minh Trang /Nữ
Đỗ Mỹ Linh /Nữ
Nguyễn Nguyệt Minh/Nữ
Nguyễn Ngọc Anh /Nữ
Dân tộc: Kinh
Lớp, khoa: E-BBA 3A, E-BBA 3B, Viện Quản Trị Kinh Doanh
Năm thứ: 3 / 4 năm đào tạo
Ngành học: Quản trị kinh doanh bằng tiếng Anh
Người hướng dẫn: TS. Trần Thị Hồng Việt
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC VIẾT TẮT
EFA: Exploratory Factor Analysis
ILO: International Labour Organization
KMO: Kaiser-Meyer-Olkin
NCKH SV: Nghiên Cứu Khoa Học Sinh Viên
NĐ-CP: Nghị Định Chính Phủ
PGS.TS: Phó Giáo Sư – Tiến Sỹ
P-value: Probability value
SPSS: Statistical Package for the Social Sciences
giới thiệu việc làm. Việc tìm kiếm nguồn lao động tự phát này cũng nói lên rằng hầu
6
hết các lao động không được đào tạo kỹ năng giúp việc. Điều này đã gây nhiều khó
khăn và làm mất thời gian cho cả người sử dụng lao động và người lao động. Bên cạnh
đó, tinh thần, thái độ làm việc và ý thức trách nhiệm của không ít người giúp việc cũng
chưa đáp ứng yêu cầu của các chủ sử dụng lao động. Các tiêu chí về tính trung thực,
thật thà, những hành vi ứng xử và nếp sống văn minh đô thị chưa đáp ứng yêu cầu của
các chủ thuê lao động ở thành phố.
Ở Việt Nam, giúp việc gia đình đang dần trở thành một nghề chính thức. Ngày
25 tháng 5 năm 2014, Nghị định số 27-NĐCP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành
một số điều của Bộ Luật Lao động về lao động là người giúp việc gia đình đã có hiệu
lực. Theo bà Nelien Haspels - chuyên gia về giới của ILO châu Á - Thái Bình Dương,
tác động tích cực của Nghị định này là nó sẽ “gửi đi một thông điệp mạnh mẽ rằng
nghề giúp việc gia đình, khi bảo đảm các yêu cầu quy định, là một nghề chuyên
nghiệp, mang lại những lợi ích đáng kể về kinh tế và xã hội cho các gia đình thuê
người giúp việc, cho bản thân người giúp việc và cả xã hội Việt Nam”. Điều đó thể
hiện sự ghi nhận của Chính phủ rằng nghề giúp việc gia đình mang ý nghĩa quan trọng,
để các thị trường lao động có thể vận hành hiệu quả bằng cách tạo điều kiện để phụ nữ
làm việc và duy trì năng suất lao động ngoài gia đình.
Như vậy, ở Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng đang có một nhu cầu cấp
thiết về đào tạo một cách bài bản để nâng cao năng lực làm việc cho lực lượng lao
động giúp việc gia đình. Trong khi tại Thành phố Hồ Chí Minh, tính đến nay đã có
khoảng hơn 10 trung tâm Giới thiệu việc làm của nhà nước và công ty TNHH có chức
năng đào tạo, cung ứng người giúp việc gia đình; trong khi ở Hà Nội, chưa có nhiều
quan tâm nghiên cứu thích đáng về lĩnh vực này, đặc biệt là những nghiên cứu đánh
giá cụ thể về trình độ năng lực hiện tại của lao động giúp việc gia đình nhằm cung cấp
các dữ liệu về nhu cầu đào tạo cho các trường dạy nghề hoặc trung tâm giới thiệu việc
làm trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
Như vậy, một số câu hỏi cấp thiết được đặt ra có liên quan đến lĩnh vực này là:
Những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết của lao động giúp việc gia đình hiện
trạng căng thẳng cả về thể xác lẫn tinh thần với khoảng 12 – 14 tiếng lao đông/ngày.
Tiền công nhận được tùy theo công việc của mỗi em và mọi điều kiên lao động chủ
yếu chỉ được thỏa thuận bằng miệng giữa chủ sử dụng lao động với người lao động.
Các em luôn cảm thấy thiếu thốn tình cảm của người thân, cha mẹ và không có bạn bè
8
cùng lứa để chia sẻ hoặc vui chơi do phải sống trong môi trường khép kín. Đây là một
thiệt thòi rất lớn đối với các em và nó cũng là một điểm bất lợi đối với sự hình thành
và phát triển tâm lý của các em sau này. Dựa vào thực trạng đó, tác giả đã đưa ra
những kiến nghị nhằm nâng cao nhận thức về quyền trẻ em và tuyên truyền sâu rộng
các điều luật có liên quan để đảm bảo quyền trẻ em, đồng thời Nhà nước cũng cần hỗ
trợ việc làm cho các gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Tuy nhiên, nghiên cứu
mới chỉ dừng lại ở lực lượng lao động giúp việc là trẻ em mà chưa đề cập đến những
đối tượng và độ tuổi lao động khác như phụ nữ và trung niên. Những người lao động ở
độ tuổi này cũng cần phải nhận được sự quan tam đúng đắn, kịp thời.
Một nghiên cứu khác là của tác giả Lê Việt Nga về “Tác động của dịch vụ giúp
việc tới gia đình” được thực hiện năm 2006 với phạm vi nghiên cứu là phường Kim
Liên, quận Đống Đa, Hà Nội. Tác giả đã thu thập thông tin từ cả ba đối tượng có liên
quan trực tiếp đến hoạt động giúp việc gia đình là: Người lao động, người sử dụng lao
động và người làm nghề môi giới hoạt động giúp việc gia đinh. Nghiên cứu trên bước
đầu đã chỉ ra rằng như cầu thuê người giúp việc hiện nay ở Hà Nội là rất lớn, đồng
nghĩa với những tác động không nhỏ của việc thuê người giúp việc tới cuộc sống của
gia đình sử dụng dịch vụ. Đồng thời, nghiên cứu cũng nêu lên một số khó khăn, trở
ngại của các bên như chất lượng làm việc của người lao động chưa cao, chưa đáp ứng
được yêu cầu của người sử dụng lao động. Tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả Lê Việt Nga
chỉ dựa trên một quy mô mẫu nghiên cứu khá nhỏ bao gồm 20 người làm thuê, 20 người
sử dụng lao động và 5 cán bộ giới thiệu việc làm trong phạm vi phường Kim Liên. Bài
nghiên cứu cũng chỉ khai thác được một số khía cạnh của hoạt động giúp việc gia đình do
phạm vi nghiên cứu chưa rộng và cũng chưa đề ra được nhiều giải pháp thiết thực khắc
phục tình trạng này.
Nghiên cứu “Hiện trạng công việc và đời sống của nữ nhập cư làm giúp việc
sâu vào các giải pháp đào tạo nhằm nâng cao tay nghề làm việc của họ.
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước, nhu cầu về lao động giúp việc
đang ngày một tăng lên như một xu thế tất yếu của quá trình phát triển. Dịch vụ giúp
việc gia đình phát triển đã mang lại nhiều lợi ích to lớn cho xã hội nhưng cũng còn khá
nhiều tồn tại, vướng mắc cần phải giải quyết xung quanh kiến thức, kỹ năng của
người lao động, mối quan hệ chủ nhà- người giúp việc cũng như các chính sách bảo vệ
quyền lợi cho người lao động,vv . Đây đang là một vấn đề nóng hổi, đòi hỏi sự quan
tâm thích đáng của các cơ quan chức năng.Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây mới
10
chỉ tập trung vào một số khía cạnh cụ thể như tìm giải pháp tái hòa nhập cộng đồng
cho lực lượng giúp việc là trẻ em hoặc các khía cạnh pháp luật và quản lý. Các nghiên
cứu này hầu như chưa đánh giá đầy đủ và hệ thống về thực trạng lao động giúp việc
gia đình trên toàn thành phố Hà Nội, chưa đưa ra được những giải pháp cụ thể, thiết
thực về đào tạo nhằm nâng cao năng lực làm việc của lao động giúp việc gia đình
Trước thực tiễn đó, đề tài nghiên cứu “Đánh giá năng lực làm việc của lao động giúp
việc gia đình trên địa bàn thành phố Hà Nội - Ngụ ý cho đào tạo nghề” sẽ tập trung
vào phân tích các yêu tố cấu thành nên năng lực làm việc, tìm ra khoảng cách giữa
năng lực làm việc mong đợi từ phía người sử dụng lao động và năng lực làm việc thực
tế của người lao động. Nghiên cứu này sẽ cung cấp những căn cứ về mặt khoa học và
thực tiễn cho việc đề xuất các kiến nghị đào tạo nâng cao tay nghề của lao động giúp
việc gia đình, từ đó đóng góp tích cực vào việc thúc đẩy sự phát triển nghề giúp việc
và thị trường lao động giúp việc gia đình ở Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm vào các mục tiêu cơ bản sau đây:
• Xác định các yêu cầu về năng lực làm việc (năng lực làm việc cần thiết) của lao động
giúp việc gia đình trên địa bàn thành phố Hà Nội
• Phân tích năng lực làm việc thực tế hiện nay của lao động giúp việc gia đình trên địa
bàn thành phố Hà Nội, từ đó tìm ra khoảng cách giữa năng lực hiện tại và năng lực cần
thiết đối với lao động giúp việc gia đình.
• Đưa ra các đề xuất có liên quan đến đào tạo nghề cho lao động giúp việc gia đình trên
của người lao động).
• Bước 2: Phỏng vấn các hộ gia đình sử dụng lao động
• Bước 3: Thiết kế bảng hỏi dựa trên tài liệu thứ cấp và phỏng vấn
• Bước 4: Khảo sát thử và kiểm tra lại tính chính xác của bảng hỏi
• Bước 5: Thực hiện khảo sát và phỏng vấn sâu chính thức chủ sử dụng lao động và lao
động giúp việc gia đình
• Bước 6: Phân tích số liệu đã thu thập được, rút ra vấn đề và nguyên nhân
• Bước 7: Đề xuất các kiến nghị
5.2 Thu thập số liệu
• Số liệu thứ cấp: Nguồn thông tin thức cấp được thu thập từ các tài liệu sách, báo cáo,
dữ liệu về lao động giúp việc gia đình đã được nghiên cứu để xác đinh yêu cầu về
năng lực làm việc và đánh giá năng lực làm việc thực tế của lao động giúp việc ở Hà
Nội. Đặc biệt, các mô hình lý thuyết về năng lực làm việc của người lao động được
xem xét và lựa chọn làm căn cứ cho việc xây dựng mô hình khung năng lực của lao
động giúp việc gia đình.
• Số liệu sơ cấp: Được thu thập theo 2 cách sau đây:
- Điều tra khảo sát:
+ Đối tượng khảo sát: Các hộ gia đình sử dụng lao động giúp việc ở Hà Nội
+ Mẫu khảo sát: Bảng 1 cho thấy tổng số phiếu phát ra là 170 phiếu, tổng số phiếu
thu về là 143 phiếu được phân bổ trên 8 quận nội thành của Thành phố Hà Nội, trong đó
Hoàn Kiếm và Hai Bà Trưng có số phiếu thu về nhiều nhất (25 phiếu), Tây Hồ và Cầu
Giấy có số lượng ít nhất (10 phiếu). Căn cứ chọn mẫu dựa vào đặc điểm và điều kiện sống
của dân cư cũng như trình độ phát triển kinh tế xã hội của các quận nội thành của Thành
phố Hà Nội.
Bảng 1: Quy mô và cấu trúc mẫu điều tra
Quận Số phiếu phát ra Sốphiếu thu về
14
Hoàn Kiếm 30 26
Hai Bà Trưng 25 25
Tây Hồ 15 10
ảnh hưởng đến mỗi loại. Nhóm nghiên cứu rất chú trọng đến đối tượng này bởi vì khảo
sát mới chỉ cung cấp thông tin từ góc nhìn của chủ sử dụng lao động, vì thế cần phải
có thêm phỏng vấn sâu người lao động đề cung cấp cái nhìn toàn diện và đầy đủ từ
quan điểm của đối tượng này.
5.3 Phân tích và xử lý số liệu
Các dữ liệu nghiên cứu sau khi thu thập xong được phân tích và xử lý bằng
phương pháp phân tích định lượng kết hợp định tính. Phân tích định lượng sử dụng
công cụ phân tích thống kê đa biến với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS, với các bước cụ
thể như là thống kê mô tả mẫu, kiểm định độ tin cậy của thang đo, phân tích nhân tố,
phân tích means. Phân tích định tính được sử dụng kết hợp để phân tích thông tin thu
được từ phỏng vấn sâu,cùng với các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh… để
rút ra các nhận xét và kết luận cho vấn đề nghiên cứu.
6. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
6.1 Đối tượng nghiên cứu
Năng lực làm việc của lao động giúp việc gia đình bao gồm 3 yếu tố cấu thành
trong khung năng lực làm việc là: kiến thức, kỹ năng, và thái độ.
6.2 Phạm vi nghiên cứu
• Về mặt không gian:
Các gia đình sử dụng lao động giúp việc gia đình trên địa bàn thành phố Hà
Nội, tập trung tại các quận trung tâm (bao gồm quận Hoàn Kiếm, quận Hai Bà Trưng,
quận Tây Hồ, quận Đống Đa, quận Ba Đình, quận Thanh Xuân, quận Cầu Giấy, quận
Hoàng Mai)
• Về mặt thời gian: Số liệu được thu thập từ tháng 1 đến tháng 3 năm 2014
7. Cấu trúc báo cáo
Giới thiệu chung
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về năng lực làm việc và khung năng lực làm việc
của người lao động
16
Chương 2: Nghề giúp việc gia đình và năng lực làm việc của lao động giúp
việc gia đình ở Hà Nội
hành vi của một cá nhân nhằm đảm bảo cho cá nhân đó có thể thực hiện được công
việc và đạt kết quả tốt”.
Kiến thức
Thái độ
Kỹ năng
18
1.2 Mô hình khung năng lực làm việc
Dựa vào các định nghĩa trên, mô hình khung năng lực bao gồm 3 yếu tố chính:
Kiến thức, kỹ năng và thái độ.
Biểu đồ 1.1: Mô hình khung năng lực làm việc
(Nguồn:Tổng hợp của nhóm nghiên cứu)
Cụ thể:
Kiến thức được định nghĩa là (i) chuyên môn và kỹ năng đã được cá nhân tiếp
thu được thông qua kinh nghiệm hoặc đào tạo, hiểu biết về lý thuyết và thực hành của
một lĩnh vực cụ thể, (ii) là vốn hiểu biết trong một lĩnh vực nhất định hoặc hiểu biết
chung, bao gồm thực tiễn và thông tin, (iii) sự quan tâm hoặc am hiểu có được từ kinh
nghiệm về một tình huống hoặc sự kiến nhất định. Tóm lại, kiến thức quy về hiểu biết
liên quan đến kết quả thực hiện công việc. Hiểu biết là cái mà con người cần phải biết
để có thể thực hiện được một công việc một cách hợp lý.
Kỹ năng là khả năng tiếp thu để có thể thực hiện được một kết quả nhất định
trong khoảng thời gian và công sức bỏ ra ít nhất. Kỹ năng có thể phân loại thành kỹ
năng chung và kỹ năng cụ thể trong một lĩnh vực nhất định. Kỹ năng thường đòi hỏi
những bối cảnh hoặc kích thích nhất định từ môi trường để đánh giá mức độ kỹ năng
được bộ lộ và áp dụng.
Thái độ là khuynh hướng phản ứng lại các đối tượng, tình huống theo hướng tích
cực hoặc tiêu cực. Thái độ có thể ảnh hưởng đến sự lựa chọn về hành động, phản ứng lại
các thách thức, động cơ và khen thưởng của mỗi cá nhân.
Năng lực làm việc
19
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực làm việc của người lao động
việc.
20
CHƯƠNG 2
NGHỀ GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH VÀ NĂNG LỰC LÀM VIỆC CỦA LAO ĐỘNG
GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH TẠI HÀ NỘI
2.1 Các khái niệm cơ bản
2.1.1 Nghề giúp việc gia đình
Hiện nay ở Việt Nam chưa có quy định hay điều luật nào nêu chính xác, rõ ràng
về khái niệm của nghề giúp việc gia đình. Căn cứ sự tìm hiểu qua các nghiên cứu
trước đó, nhóm nghiên cứu đưa ra khái niệm sau:
“ Nghề giúp việc gia đình là một loại hình dịch vụ, trong đó những lao động giúp
việc gia đình bằng kiến thức và kỹ năng của mình sẽ tham gia vào các công việc gia
21
đình trong mối quan hệ việc làm. Công việc gia đình được định nghĩa là "công việc
được thực hiện trong hoặc cho một hộ gia đình hoặc nhiều hộ gia đình".
• Tính chất đặc thù: Thực hiện các công việc gia đình và chăm sóc gia đình, bao
gồm các công việc như dọn dẹp nhà, nấu ăn, giặt và ủi quần áo, chăm sóc trẻ
em, hoặc người cao tuổi hoặc người ốm trong gia đình, làm vườn, bảo vệ ngôi
nhà, lái xe cho gia đình, và cả việc chăm sóc vật nuôi trong nhà.
• Đối tượng khách hàng: Các hộ gia đình có nhu cầu sử dụng lao động giúp việc
gia đình.
2.1.2 Lao động giúp việc gia đình
Theo PGS.TS Nguyến Hữu Minh, Viện trưởng Viện Giới và Gia đình cho rằng:
Hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa cụ thể nào về người giúp việc gia đình trên thế
giới. Mỗi nhà nước đều đang tự áp dụng những định nghĩa khác nhau và thi hành
chính sách pháp luật khác nhau về khái niệm này và sử dụng thuật ngữ “lao động giúp
việc gia đình” để chỉ người lao động làm các công việc khác nhau trong gia đình bao
gồm cả công việc gia đình và chăm sóc gia đình. Ở Việt Nam, theo Dự thảo Bộ Luật
lao động sửa đổi Điều 191 nêu: “Người giúp việc gia đình là người lao động được
người sử dụng thuê để làm thường xuyên các công việc trong gia đình của một hoặc
có tác động qua lại lẫn nhau và là chuyển giao quyền sở hữu sản phẩm, dịch vụ hoặc
tiền tệ, nhằm thỏa mãn nhu cầu của hai bên cung và cầu về một loại sản phẩm hoặc
hàng hóa nhất định”.
“Thị trường lao động là nơi diễn ra sự trao đổi giữa người sử dụng lao động và
người lao đông. Thị trường lao động là một bộ phận khó tách rời trong nền kinh tế thị
trường và chịu sự ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường. Một thi trường lao động tốt là thị
trường có lượng cầu và lượng cung tương ứng”
“Thị trường lao động giúp việc gia đình là thị trường lao động mà ở đó có sự
trao đổi giữa chủ sở hữu lao động giúp việc gia đình và lao động giúp việc hợp tác,
thỏa thuận với nhau làm những công việc gia đình và chăm sóc gia đình để đem đến
lợi ích cho cả hai bên”. Thị trường lao động giúp việc có đặc điểm khác với những thị
trường lao động khác. Thông thường lao động giúp việc gia đình đa số thường xuất
phát từ nông thôn, người lao động thường có hoàn cảnh gia đình và điều kiện kinh tế
khó khăn. Hiện nay, ở Việt Nam thị trường lao động giúp việc đang được đánh giá cao
và có số lượng cầu khá lớn trên thị trường lao động.
23
2.1.4 Năng lực làm việc của lao động giúp viêc gia đình
Năng lực làm việc của lao động giúp việc gia đình là kiến thức, kỹ năng và thái độ
cần có của người giúp việc khi tham gia vào các công việc gia đình và chăm sóc gia
đình như công việc nội trợ, quản gia, chăm sóc trẻ, chăm sóc người bệnh, chăm sóc
người già, lái xe, làm vườn và các công việc khác cho hộ gia đình nhưng không liên
quan đến hoạt động thương mại. Nó đòi hỏi phải được trang bị những kiến thức cần
thiết, kỹ năng cơ bản, thái độ và hành vi của lao động giúp việc gia đình nhằm đảm
bảo cho người đó có thể thực hiện được công việc của họ và đạt kết quả tốt.
2.2 Tổng quan về thị trường lao động giúp việc gia đình ở Hà Nội
Trải qua gần 30 năm đổi mới và phát triển, Việt Nam đã đạt được những thành
tựu to lớn nhất định trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. Kinh
tế thị trường phát triển khá nhanh, ổn định và đang có xu hướng tăng mạnh, đời sống
nhân dân được cải thiện rõ rệt ở mọi tầng lớp, nhất là ở các đô thị. Số lượng các gia
đình có mức thu nhập ổn định và khá giả ngày càng tăng nhanh, do đó nhu cầu tiếp cận
đồng một tháng.
Báo cáo nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu Giới, Gia đình và Phát triển
cộng đồng đã nêu rõ vai trò của lao động giúp việc gia đình trong việc giải quyết việc
làm, giải phóng phụ nữ và đóng góp giá trị kinh tế cho các quốc gia.Cũng như ở các
quốc gia châu Á khác, nhu cầu giúp việc gia đình đang ngày một tăng lên ở Việt Nam.
Đặc biệt, cùng với sự mở rộng của tầng lớp trung lưu dự báo rằng số lượng lao động
giúp việc gia đình trong năm 2015 sẽ tăng khoảng 63% so với năm 2008 (từ 157.000
lên 246.000 lao động) với 98,7% lao động là nữ giới. Tuy nhiên, thực trạng lao động
giúp việc gia đình tại Việt Nam vẫn bị đánh giá thấp và ít được pháp luật đề cập đến.
25
CHƯƠNG 3
PHÂN TÍCH NĂNG LỰC LÀM VIỆC
CỦA LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH TẠI HÀ NỘI
3.1 Giới thiệu về mẫu điều tra
3.1.1 Thông tin chung về mẫu
Nghiên cứu được tiến hành với 170 mẫu điều tra, kết quả thu về được 143
phiếu. Sau khi loại bỏ 23 phiếu không chính xác, còn lại 120 phiếu hợp lệ cho phân
tích.
Bảng 3.1: Đặc điểm mẫu điều tra
Nhóm mẫu Tần suất Tỷ lệ
Giới tính
Nữ 75 62,5%
Nam 45 37,5%
Vị trí trong gia
đình
Người ra quyết định 55 45,8%
Thành viên 65 54,2%
Nghề nghiệp
Kinh doanh tự do 53 44,2%
Công chức Nhà nước 35 29,2%