vẻ đẹp tâm hồn nguyễn trãi qua thơ nôm - Pdf 30

1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
BÙI TẤN TÀI
MSSV: 6106427
VẺ ĐẸP TÂM HỒN NGUYỄN TRÃI QUA
THƠ NÔM
Luận văn tốt nghiệp Đại học
Ngành Ngữ Văn
Cán bộ hướng dẫn: ThS. BÙI THỊ THÚY MINH
Cần Thơ, năm 2013
2
ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
2. L
ịch sử vấn đề
3. Mục đích nghiên cứu
4. Phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
PHẦN NỘI DUNG
Chương một
NHỮNG CƠ SỞ HÌNH THÀNH HỒN THƠ NÔM NGUYỄN TRÃI
1.1. Bối cảnh lịch sử - xã hội
1.2. Bối cảnh văn học
1.3. Nguyễn Trãi - tác gia và tác phẩm
1.3.1. Tác gia Nguyễn Trãi
1.3.1.1. Cu
ộc đời Nguyễn Trãi
1.3.1.2. S

Vâng, câu thơ của Lê Thánh Tông - vị vua anh minh nhất thời thịnh Lê ngày
nào, như một lời đúc kết rất sâu sắc về tâm hồn của Nguyễn Trãi qua thơ văn của ông.
Lấp lánh như một ngôi sao Khuê trong tâm hồn nhạy cảm thanh tao, thi vị của một nhà
thơ tài hoa nhưng không kém phần thâm thúy sắc bén, đầy mưu lược của một nhà
chính tr
ị, nhà ngoại giao tài ba, Nguyễn Trãi đã tạc mình vào hình ảnh dân tộc, tồn tại
vĩnh hằng trong trái tim mỗi người dân Việt Nam, trong lịch sử dân tộc.
Suốt một khoảng thời gian dài ngồi trên ghế nhà trường, người viết chỉ được
tiếp xúc một phần rất ít ỏi trong cả sự nghiệp văn chương phong phú của Nguyễn Trãi,
ch
ỉ với một số bài thơ tiêu biểu cho sự nghiệp của ông như: Côn Sơn ca, Bảo kính
cảnh giới 43, và một áng thiên cổ hùng văn Bình Ngô đại cáo. Nhưng đã tạo cho người
viết một sự tò mò lẫn thích thú đối với văn chương của Nguyễn Trãi. Cho đến những
năm trên giảng đường đại học, người viết mới có điều kiện t
ìm hiểu rõ về sự nghiệp
văn chương to lớn của Nguyễn Tr
ãi và văn học Trung đại thời kì này. Người viết thật
sự bất ngờ, ngạc nhiên và cảm thấy thú vị khi biết được rằng ngoài những tác phẩm đã
được học ở chương trình phổ thông, thơ văn của ông thật là đa dạng và phong phú hết
sức. Nó chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong văn học thời kì này.
Văn học Trung đại việt nam là một bước chuyển mình mạnh mẽ trong toàn bộ
hệ thống nền văn học nước nhà. Tiếp theo xuất sắc thành tựu nền văn học dân gian,
bước sang văn học Trung đại
nền văn học viết chính thức ra đời đánh dấu sự trưởng
thành về ý thức dân tộc. Nhìn lại lịch sử thời kì văn học trung đại, chúng ta tự hào về
thế hệ trước với những chiến công gắn liền tên tuổi anh hùng dân tộc, trong đó có
Nguyễn Trãi không những minh chứng cho lịch sử là người trực tiếp tham gia vào
nh
ững biến động đó. Vì vậy, thơ ông luôn thể hiên rõ vốn sống ở độ chín, một suy
ngẫm sâu sắc về cuộc đời và tình cảm nhân hậu đối với thiên nhiên và con người. Tất

Nguyễn Trãi nhằm góp phần tạo nên tiền đề trong việc xây dựng đất nước trong thời
đại mới.
2. Lịch sử vấn đề
Cuộc đời cũng như sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Trãi bao giờ cũng hiện hữu
trong lòng người Việt Nam, nó là một đề tài chưa bao giờ cạn và chưa bao giờ cũ đối
với các nhà nghiên cứu và phê bình, bình luận văn học. Có rất nhiều bài viết về
Nguyễn Trãi và thơ văn của ông đã được in thành sách. Khi nghiên cứu đề tài này thì
trước đó có nhiều tác giả có nhiều bài viết nghiên cứu về “Vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn
6
Trãi qua thơ Nôm” . Sau đây tôi điểm qua một vài sách báo của các nhà nghiên cứu
về đề tài này.
Tr
ần Thanh Mại với bài viết Vài nét về tư tưởng Nguyễn Trãi qua thơ văn của
ông
in trên Tạp chí văn học, số 9, 1962, nhận định về thơ của Nguyễn Trãi như sau:
“Nếu chúng ta chịu khó bỏ ra đôi chút thời giờ để cho tâm hồn lắng xuống, để tập
trung thông cảm sâu sắc với người xưa, thì tôi nghĩ thơ Nguyễn Trãi có thể làm cho
lòng ta
rung động xao xuyến” (dẫn theo [14 ;tr. 902]).
Bùi Văn Nguyên với b
ài viết Nguyễn Trãi qua thơ văn trong quyển Lịnh sử Văn
Học Việt Nam tập 2 văn học viết, NXB Giáo Dục, 1978. Bùi Văn Nguyên viết: “Hồn
thơ của Nguyễn Tr
ãi chan hòa với tạo vật vì Nguyễn Trãi có tư tưởng thanh cao, tình
yêu trong sáng. Đó có lẽ dĩ nhiên vì nội dung quyết định hình thức, nhưng cũng phải
nhận rằng Nguyễn Trãi có trí tưởng tượng kì diệu “Nằm trong thuyền mà ông tưởng
hồn trên mây ,nhìn bức tranh bá nho gãy đàn mà ông nghe tiếng nhạc văng vẵng nơi
chín đầm lạnh ngắt
” [8; tr. 79].
T

ần đây, có công trình luận án tiến sĩ Ngữ Văn Thơ chữ Hán và thơ chữ Nôm
của Nguyễn Trãi – quan niệm thẩm mĩ và phương thức nghệ thuật của Phạm Thị Ngọc
Hoa, Hà Nội, 2012. Luận án đã tìm ra một số đặc sắc trong quan niệm thẩm mỹ của
Nguyễn Trãi: coi trọng cái đẹp bình dị - quan niệm thẩm mỹ mang màu sắc dân chủ;
lấy con người làm hệ quy chiếu để xem xét cái đẹp thiên nhiên – quan niệm thẩm mỹ
mang màu sắc nhân văn. Luận án chỉ ra các phương thức nghệ thuật thơ chữ Hán và
thơ chữ Nôm Nguyễn Trãi: nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ thơ hàm súc, điển nhã; ngôn
ng
ữ bình đạm, thuần phác; nghệ thuật xây dựng kết cấu câu thơ; nghệ thuật sử dụng
câu hỏi tu từ; nghệ thuật xây dựng hệ thống hình ảnh, biểu tượng.
Trên đây là những ý kiến, nhận định mà người viết thu thập được trong quá
trình nghiên cứu tài liệu. Mặc dù đây chỉ là những nhận định mang tính tổng quát chưa
đi sâu vào phân tích tr
ình bày hoăc chứng minh cụ thể vấn đề nhưng nó sẽ là kim chỉ
nam dẫn đường cho người viết có được định hướng đúng đắn trong quá trình triển
khai đề t
ài của mình.
3. Mục đích nghiên cứu
Với mong muốn đóng góp một phần nào đó vào công trình nghiên cứu của
những người đi trước. Mặc dù vẫn không tránh khỏi những điều sao chép lại, nhưng
vẫn mong sẽ ghóp chút tài hèn sức mọn nhằm đóng ghóp cho mãnh đất nghiên cứu văn
học nhiều hứa hẹn, bất ngờ và thú vị này.
V
ới luận văn này, chúng tôi sẽ đi nghiên cứu về Vẻ đẹp trong tâm Hồn Nguyễn
Trãi qua thơ Nôm từ hai bình diện: nội dung và nghệ thuật, trên cơ sở vận dụng kiến
thức lịch sử văn hóa nhằm tìm hiểu sâu hơn về con người và sự nghiệp thơ văn của
Nguyễn Trãi được gợi lên từ những câu thơ Nôm mang đậm phong cách và vẻ đẹp của
tấm lòng nhân ái, tấm lòng yêu thương nhân dân, đất nước và làm vũ khí đánh vào tinh
th
ần của quân xâm lược. Ngoài ra, về phương diện giá trị nghệ thuật của Nguyễn Trãi

ọn lọc. Sau đó, so sánh, đối chiếu các ý kiến với nhau để rút ra những kết luận có
sức thuyết phục trong phần lịch sử nghiên cứu vấn đề. Người viết còn phải đọc hết 254
bài thơ chữ Nôm trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Tr
ãi nhiều lần để có thể nắm bắt
được nội dung và nghệ thuật nhằm làm sáng tỏ các vấn đề đã đặt ra trong phần mục
đích nghiên cứu. Sau đó tiến h
ành viết đề cương chi tiết và triển khai thành các phần ,
chương, mục trong luận văn.
Bên cạnh đó, người viết sử dụng các phương pháp chính sau: phương pháp hệ
thống, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh. Và trong từng phần, người viết áp
dụng để mà sáng tỏ vấn đề. Cụ thể là:
Phương pháp hệ thống được người viết sử dụng khi thu thập tài liệu, người viết
tiến hành hệ thống hóa các bài viết có liên quan đến đề tài. Đó là cơ sở lí thuyết phục
vụ cho việc tìm hiểu đề tài “Vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi qua thơ Nôm”.
9
Phương pháp thống kê được sử dụng để khảo sát số câu cao dao, tục ngữ, thành
ng
ữ, đã được Nguyễn Trãi vận dụng để đưa những yếu tố dân gian vào Việt hóa thể
thơ Đường luật. Đặc biệt l
à khảo sát tỉ lệ tỉ lệ số câu lục ngôn đuợc dùng xen trong thể
thơ bảy chữ m
à Nguyễn Trãi đã sử dụng, qua đó thấy được sự đóng góp của ông về
sáng tạo một thể thơ mới cho văn học Việt Nam.
Người viết sử dụng phương pháp so sánh để so sánh thơ chữ Nôm với thơ chữ
Hán của chính Nguyễn Trãi và so với các nhà thơ cùng thời như Nguyễn Mộng Tuân,
Lý Tử Tấn, với thơ văn giai đoạn thời Lí Trần, và với các nhà thơ trước và sau ông
như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Khuyến. Để rút ra đặc trưng của thơ ông cả về nội
dung lẫn nghệ thuật.
Trong quá trình nghiên cứu, các thao tác lập luận, chứng minh, phân tính, bình
lu

bài “
phù trần diệt hồ” tràn sang nước ta,Hồ quý ly đã tiến hành nhiều cuộc khỡi nghĩa
lại không được niềm tin theo nên đành thất bại dưới nhà Minh. Trong tình hình đó
nhiều cuộc khỡi nghĩa tiếp tục nổ ra nhưng điều bị thất bại .
Quá trình kháng chiến đòi hỏi một tinh thần trường kì, được tiến hành trog 10
năm dưới sự chỉ huy của Lê Lợi, ông đã tập hợp quần chúng dấy lên phong trào đấu
tranh mạnh mẽ. Ban đầu cuộc khởi nghĩa thiếu đường lối nên tất bại và sau đó nhờ tập
hợp sức mạnh của nhân dân, biết vận dụng những chiến lược, chiến thuật tài tình nên
11
đã phát triển mạnh và tiến đến thắng lợi hoàn toàn vào cuối năm 1427. Thành công của
cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã đánh dấu một bước ngoặt mới trên con đường trưởng
thành của dân tộc mở ra kỉ nguyên mới, kỉ nguyên thịnh trị của triều đại Hậu Lê. Có
m
ặt từ lúc cuộc khởi nghĩa còn trong trứng nước, cho đến khi thành công, Nguyễn Trãi
v
ới vai trò là một nhà quân sự, nhà chiến lược đã ghóp phần vào cho những chiến công
vang dội của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Cũng trong thời gian đó, Nguyễn Trãi đã cho
ra đời nhiều áng văn chính luận, thơ phú, đắc sắc như: Bình Ngô đại cáo, Chí Linh
sơn phú
, Quá trình gian khổ, kề vai sát cánh cùng nhân dân trong suốt cuộc kháng
chiến đã hình thành nên tình yêu quê hương, thiên nhiên, tư tưởng nhân nghĩa, nhân
cách người quân tử trong thơ chữ Hán v
à cả thơ chữ Nôm của ông sau này.
Kháng chi
ến thành công, Lê lợi lên ngôi vua lập nên vương triều hậu Lê. Tuy
nhiên Lê thái t
ổ chỉ là người đặt nền móng, phải đến triều đại Lê Thánh Tông, chính
qu
ền phong kiến mới thực sự bước vào giai đoạn cực thịnh, bao gồm tất cả các mặt về
kih tế, chính trị, văn hóa, khoa học đều phát triển mạnh mẽ.

và phát triển trong thời kì trước như một thứ vũ khí sắc bén phục vụ cho chiến thuật
“Tâm công” đặc sắc. Các tác giả trong giai đoạn này thường ca ngợi chính nghĩa, xem
đó là cơ sở giá trị chiến thắng :
Nếu không gặp thánh tổ sau được gọi là hiếm
Nếu không nhân chiến thắng sau truyền mãi danh
Hơn thế nữa các tác giả còn ca ngợi, so sánh công lao của lê lợi với công lao
của Hán cao tổ :
Cờ nghĩa vua ta cao phất
Che rợp cả bật hán đường
Ngoài ra còn ca ngợi công cuộc xây dựng đất nước thời kì mới :
Phòng ngưa bờ cõi cần ra sức
Giữ vẫn cơ đồ phải gắng công.
Thơ chữ Hán vẫn chiếm vị trí cao trong đời sống sáng tác, nhưng đây cũng là
giai đoạn xuất hiện nhiều thơ chữ Nôm, nổi bật và thành công nhất trong đó có nhiều
tác phẩm của Nguyễn Trãi (Quốc âm thi tập), Trần Quý Khoáng, Nguyễn Biểu. Nửa
sau thế kỉ XV, có tác phẩm nổi tiếng Hồng Đức quốc âm thi tập của các nhà thơ trong
hội Tao Đàn.
Do tình hình l
ịch sử quyết định, văn học ở thời kì này tập trung ca ngợi cuộc
kháng chiến chống Minh và người anh hùng Lê Lợi cũng được tập trung thể hiện trong
các tác ph
ẩm ở giai đoạn nửa cuối thế kỉ XV, thơ văn viết về đề tài này tập trung vào
giai đoạn nửa cuối thế kỉ XV.
Văn học thời này ca ngợi sự thịnh trị của triều đại hậu Lê và vua Lê Thánh
Tông ngoài ra văn học trong giai đoạn này thể hiện rõ nét hình ảnh quần chúng
những người làm nên lịch sử và những quan niêm mới về đất nước, dân tộc của nhà tư
tưởng hậu Lê. Văn học thế kỉ
XV chứng kiến sự đột phá về số lượng lẫn chất lượng
của tác phẩm. Lượng lượng sáng tác chủ yếu nho sĩ quan liêu nhất là các triều thần
13

Nguyễn Trãi - thời chuẩn bị bước vào đời
Nguyễn Trãi (1380-1442), hiệu Ức Trai, tổ tiên quê ở xã Chi Ngại, lộ Lạng
Giang (nay thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương). Đến đời Trần, họ Nguyễn chuyển
14
đến làng Ngọc Ổi, huyện Thượng Phúc, lộ Đông Đô (nay thuộc tỉnh Nhị Khê, huyện
Thường Tín, tỉnh H
à Tây).
Nguy
ễn Trãi được kết tinh từ một mối tình đẹp và nên thơ nhưng theo quan niệm
phong kiến thì không “môn đăng, hộ đối”. Cha là Nguyễn Ứng Long, một nho sĩ
nghèo, xuất thân từ tầng lớp bình dân, mẹ là Trần Thị Thái – con gái thứ tư của quan
Tư đồ Trần Nguyên Đán
– cháu bốn đời của Trần Quang Khải.
Nguyễn Ứng Long ra sức dùi mài kinh sử và đỗ bảng nhãn vào năm Giáp Dần
niên hiệu Long Khánh thứ hai (1374), dưới triều của vua Trần Duệ Tông. Không được
nhà Trần trọng dụng, Nguyễn Ứng Long về quê dạy học. Tại làng Nhị Khê, ông có
nhi
ều học trò và được mọi người mến phục. Lúc này, Nguyễn Trãi sống với ông ngoại
và mẹ ở Kinh đô Thăng Long. Tuổi thơ Nguyễn Trãi là một thời kỳ thanh bần nhưng
ông vẫn quyết chí gắng công học tập, nổi tiếng là một người học rộng, có kiến thức
rộng về nhiều lĩnh vực, có ý thức về nghĩa vụ của một kẻ sĩ yêu nước thương dân. Tuổi
thơ Nguyễn Tr
ãi là một thời kỳ thanh bần nhưng ông vẫn quyết chí gắng công học tập,
nổi tiếng là một người học rộng, có kiến thức rộng về nhiều lĩnh vực, có ý thức về
nghĩa vụ của một kẻ sĩ yêu nước thương dân.
Năm 1385, bất m
ãn với chính sự triều đình, Trần Nguyên Đán cáo quan về nghỉ
hưu ở động Thanh Hư
– Côn Sơn, Nguyễn Trãi cùng theo ông ngoại về sống ở đó.
Cũng trong năm đó, bà Trần Thị Thái – mẹ của Nguyễn Trãi mất. Đến năm Canh Ngọ

Minh bắt. Tướng giặc nhà Minh bắt Nguyễn Trãi ra làm quan nhưng Nguyễn Trãi kiên
quy
ết từ chối. Nguyễn Trãi được tha chết nhưng chúng bắt ông phải sống ở Đông
Quan dưới sự giám sát, theo d
õi của quân đội nhà Minh. Đây là khoảng thời gian xuất
hiện của bài thơ Thủ vĩ ngâm nổi tiếng.
Từ 1407 – 1416, Nguyễn Trãi bị giam lỏng ở thành Đông Quan nhưng tài liệu
lịch sử cũng như văn của ông không thất đề cập gì đến hoạt động của ông vào giai
đoạn này. Phải chăng trong 10 năm này, Nguyễn Trãi đã sống ẩn dật để tránh sự kiểm
soát của kể thù, âm thầm vạch kế sách chống giặc mà sau này gọi là Bình Ngô sách?
Nguy
ễn Trãi tìm đến với Lê Lợi khi Lê Lợi đặt tổng hành dinh ở Lỗi Giang
(1420 -1421) và trong cuộc gặp gỡ này Nguyễn Trãi đã dâng Bình Ngô sách cho Lê
L
ợi (1420). Tâm đắc sách lược công tâm, chủ yếu đánh vào lòng người ấy. Từ khi có
Bình Ngô sách của Nguyễn Trãi, hoạt động của quân đội Lam Sơn không ngừng được
mở rộng, hàng loạt những đợt tiến công liên tục được diễn ra.
Ngày 12 tháng 12 năm Đinh Mùi (ngày 28 tháng 12 năm 1427), Vương Thông
đem toàn bộ quân Minh c
òn lại rút về nước. Cuộc kháng chiến của dân tộc ta đi đến
thắng lợi hoàn toàn, mở ra nền thái bình thịnh trị cho nước nhà.
Nguyễn Trãi - thời hòa bình
Năm Mậu Thân (1428), Lê Thái Tổ lên ngôi và tiến hành luận công, ban thưởng
cho 227 công thần, Nguyễn Trãi được phong tước Quan Phụ hầu, giữ chức Nhập nội
hành khiển Lại bộ Thượng Thư, kiêm quản công việc Khu Mật viện. Dù được giữ
16
chức vị chủ chốt trong triều nhưng Nguyễn Trãi vẫn hết lòng trung thành, phụng sự
triều đình nhà Lê trong buổi đầu đất nước thống nhất, bước vào sự nghiệp kiến quốc.
Theo Khâm Định Việt sử thông giám cương mục của triều Nguyễn, sức khỏe
vua Lê Lợi ngày một yếu, hoàng tử Nguyên Long lại còn rất nhỏ, Lê Lợi rất lo ngại

Năm 1467, vua Lê Thánh Tông xuống chiếu rửa oan cho Nguyễn Tr
ãi và sai
Tr
ần Khắc Kiệm sưu tập lại thơ văn ông. Năm 1480, Trần Khắc Kiệm hoàn thành sứ
mệnh và đề Tựa cho quyển Ức Trai di tập. Nhưng trải qua nhiều năm loạn lạc về sau,
sách ấy bị thất lạc. Năm Tự Đức thứ 21 (1868 – dưới triều Nguyễn), Dương Bá Cung,
17
người đồng hương với Nguyễn Trãi, sau nhiều năm công phu sưu tầm lại một lần nữa,
đ
ã hoàn thành và đề Tựa bộ Ức Trai di tập.
Năm 1962, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kỷ niệm 520 năm ngày
Nguy
ễn Trãi mất (19/9/1442 – 19/9/1969).
Năm 1980, Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Tổ chức
UNESCO của Liên hiệp quốc tổ chức lễ Kỷ niệm lần thứ 600 năm sinh danh nhân văn
hóa Nguyễn Trãi (1380 – 1980).
Cu
ộc đời Nguyễn Trãi là cuộc đời chiến đấu không ngừng nghỉ- chiến đấu
chống bạo lực xâm lược và chống gian tà. Tư tưởng nhân nghĩa là đỉnh cao chói sáng
trong thơ ông. Quan điểm xem văn chương là vũ khí chiến đấu thể hiện r
õ trí tuệ sáng
suốt của một thiên tài và bản lĩnh của một chiến sĩ dũng cảm. Cuộc đời Nguyễn Trãi
cho chúng ta bài h
ọc quý báu về tinh thần nhân đạo, nhiệt tình chiến đấu, quan điểm
mạnh dạn đổi mới, sáng tạo.
1.3.1.2. Sự nghiệp văn chương
Trong lịch sử văn chương Trung đại, Nguyễn Trãi là một trong tác giả viết
nhiều nhất, ông để lại khối lượng tác phẩm tương đối lớn bao gồm văn xuôi, thơ chữ
Hán và thơ chữ Nôm. Nhưng sau thảm án Lệ Chi Vi
ên, hầu hết tác phẩm của Ức Trai

ngoại Nguyễn Trãi , một người sáng suốt nhìn trước diễn biến của lịch sử .
Dư địa chí (1434)
Năm 1434, Lê Thái Tông lệnh cho Nguyễn Trãi soạn tác phẩm này. Sách gồm
có 42 mục, do Nguyễn Thiên Túng tâp chú , Lí Tử Tấn thông luận ,chép sơ lược địa lí
hành chính và tự nhiên nước ta qua các giai đoạn lịch sử.
Lam sơn vĩnh bia (1435)

Bài văn này được khắc trên bia viết bằng chữ Hán ,nêu lên rõ nguồn xuất thân
của Lê Lợi, đề cao tấm lòng nhân đức của ông , đặt vai trò sáng lập nhà Lê đối với nền
độc lập của dân tộc Việt.
Về thơ
Sáng tác của Nguyễn Trãi hiện còn một số phần viết bằng chữ Hán hơn một
trăm bài, trong Ức trai thi tập và một phần viết bằng chữ Nôm trong Quốc âm thi tập.
Ức trai thi tập
Viết bằng chữ Hán, gồm hơn 105 bài thơ thất ngôn hoặc ngũ ngôn. Xét về hình
th
ức, phần lớn các bài viết theo thể thất ngôn bát cú như: Kí sự, Mạn Hứng, Oan
tháng Ngoài ra có các bài viết theo thể ngũ ngôn bát cú như: Du sơn tự, Dục thúy
sơn,
Tặng hữu nhân Và một vài bài theo thể thất ngôn tứ tuyệt , như: Mộng sơn
trung, Vãn Tập, Đề Đông Sơn Tự. Nhìn chung các bài trong Ức trai thi tập đã bộc lộ
tư tưởng, tính cách con người Nguyễn Tr
ãi, phản ánh tấm bi kịch người anh hùng.

19
1.3.2. Khái quát chung về tác phẩm Quốc âm thi tập
Tác phẩm bất hủ Quốc âm thi tập là tác phẩm xưa nhất bằng tiếng Việt mà
chúng ta còn gi
ữ được, là một cống hiến to lớn của Nguyễn Trãi cho văn học Việt
Nam, là nguồn tài liệu quí báu để nghiên cứu ngôn ngữ và văn học dân tộc. Thế nhưng

ập thơ này của Nguyễn Trãi đã thể hiện lên nội dung sâu sắc tình yêu thiên
nhiên tha thi
ết; sự giải bài của tâm sự u uẩn; tấm lòng yêu nước thương dân, tư tưởng
nhân nghĩa và chí khí nhân cách người quân tử. So với thơ chữ Hán, tập thơ Nôm đại
thành của Nguyễn Trãi có khả năng thể hiện sâu sắc tâm hồn dân tộc, cảm quan về
20
thiên nhiên, quê hương, đất nước. Ðây cũng chính là vấn đề nhạy cảm, dễ khơi gợi
niềm yêu thương, gắn bó cùng xứ sở, được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đạt tới
những trang viết lắng sâu, ân nghĩa. Ngoài ra, nhờ sử dụng ngôn ngữ dân tộc, Nguyễn
Trãi có thể bộc lộ các cung bậc tình cảm, các sắc thái trữ tình, thế giới nội tâm và mọi
nỗi ưu phiền một cách tự do, linh động hơn.
1.4. Nguyễn Trãi trên đường phát triển nền văn học chữ Nôm
Ngay từ khi các nhà văn đưa vào trong sáng tác văn học, chữ Nôm ngày càng
được khẳng định vị trí của mình bên cạnh chữ Hán vốn đã có ảnh hưởng âu sắc trong
văn học thời
LÍ Trần. Sự phát triển văn học chữ nôm khẳng định ý thức dân tộc ngày
càng được phát triển cao hơn, biểu hiện long tự hào của dân tộc, ý thức bảo vệ ngôn
ngữ, văn hóa dân tộc, chống lại âm mưu đồng hóa kẻ thù.
Tuy nhiên
ở thời Lý Trần, việc sử dụng chữ Nôm trong sáng tác văn học bác
học chưa phổ biến. Từ thế kỉ XV, Nguyễn Trãi mạnh dan đưa chữ Nôm vào trong sáng
tác. Thơ Nôm của ông dù chưa thật sự trao chuốt nhưng đâm đà bản sắc dân tộc.
Thành công của Nguyễn trãi chính là tiền đề cho con đường phát triển văn học chữ
Nôm Việt Nam tiến đến đỉnh cao Truyện Kiều.
Nguyễn Trãi là danh nhân văn hóa lớn của dân tộc Việt Nam, được UNESCO
công nhận là danh nhân văn hóa thế giới. Ông có một sự nghiệp trước tác đồ sộ, về
nhiều lãnh vực. Ông làm nhiều thơ, bằng Hán văn và cả bằng chữ Nôm. Sau khi ông bị
hại, tác phẩm của ông bị thất tán nhiều nơi. Đến năm 1467, vua Lê Thánh Tông cử
người (Trần Khắc Kiệm) sưu tầm di cảo của ông, nhờ đó mới giữ một phần những tác
phẩm quý giá của ông. Dựa vào kết quả sưu tầm của Trần Khắc Kiệm ở thế kỷ XV,

ừ thờiTrần và có một số thành tựu đáng ghi nhận trong
th
ế kỉ XV nhưng đến sau này nền văn học chữ Nôm mới thực sự phát triển hầu hết về
thể loại. Về thơ đường luật Bạch vân quốc ngữ thi của Nguyễn Bỉnh Khiêm và Ngự
đề thi
ên hòa danh bách vịnh của Trịnh căn là một bước tiếp nối đầy ý nghĩa từ hai tập
thơ N
ôm ở thế kỉ XV.

Văn học chữ Nôm trong giai đoan này với thơ Nôm Nguyễn Trãi và các nhà thơ
hồng đức không thiếu phần trao chuốt, sáng đẹp hơn nhưng khi chúng nhìn ở phương
diện tổng thể .
Văn học chữ Nôm đến giai đoạn sau mới được chuyển mình đầy lạc quan như
vậy một phần khá quan trọng vào trog ưu thế của tiêng việt với khả năng đáp ứng được
nhu cầu đa dạng của luc lượng đông đảo và phức tạp về khuynh hướng sáng tác .
Sự phát triển truyền bá sâu rộng văn học chữ Nôm trong thời kì này một mặt là
ti
ếp thu thành tựu của tác tác phẩm quốc âm thi tập chứa đựng ý thức đối lập .
1.5. Hai dòng văn học chủ yếu trong thơ Nôm Nguyễn Trãi
1.5.1. Ch
ủ nghĩa yêu nước
Lịch sử dân tộc Việt Nam đã đánh dấu bước chuyển mình mạnh mẽ qua
những chiến công hiển hách của dân tộc ta trãi qua các triều đai đấu tranh giữ nước
giành lại độc cho nước nhà, chống giặc ngoại xâm: Nhà Tiền Lê, Nhà Lý chống
Tống, nhà Trần chống Nguyên Mông, nhà hậu Lê chống giặc Minh, Quan Trung
22
chống giặc Thanh. Những chiến thắng vẻ vang của quân và dân ta không những tôi
luyện thêm ý chí, nâng cao bản lĩnh lòng tự hào của dân tộc, tự tin khí thế hào hùng
c
ủa dân tộc mà còn góp phần tạo ra truyền thống về đấu tranh đánh giặc giữ nước

hương mảnh đất mà chính nơi mình sinh ra và lớn lên, và có nhiều tác phẩm đã thể
hiện niềm tự hào, nỗi nhớ quê hương và niềm hạnh phúc ao ước trở về quê và tác
gi
ả đã luôn trăn trở với khác vọng mãnh liệt chưa làm được gì cho quê hương và
23
không thực hiện cho quê hương. Bên cạnh đó còn có nhiều tác phẩm đã thể hiện
lòng căm thù giặc sâu sắc qua những trang văn dầy khí chất hào hùng và đây cũng
là vũ khí đấu tranh lợi hại trên mặt trận chính trị. Tác phẩm thời này cũng đã nói
kên v
ề ý thức cũng như về trách nhiệm của mỗi con người việt nam mọi người phải
đoà
n kết và có trách nhiêm bảo vệ Tổ quốc giành độc lập cho dân tộc Việt Nam.
Những thập niên đầu thế kỉ XV , dân tộc ta đã đứng trước tình thế mất nước , trong
hoàn cảnh lúc bấy giờ nhiều tác giả đã thể hien tâm trạng đau xót và tuyệt vọng của
mình trước tình thế đầy khó khăn:
“Quốc thù vị báo đầu tiên bạch
Kỷ độ long tuyền đái nguyệt ma”
Trong hoàn cảnh đầy bế tắc, sự phát triển ngày càng lớn mạnh của cuộc
khởi Lam sơn có tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến mọi tầng lớp nhân dân. Khắp
mọi nơi cuộc khỡi nghĩa bùng nổ với niềm tin và hi vọng lớn đưa đất nước lập lại
hòa bình:
“Lại trời cho gió cả lên
Cho c
ờ vua bình địn bay lên kinh thành”
Thắng lợi vẻ vang của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn là bước ngoặc quan trọng
t
ạo nên tiền đề lớn cho lịch sử cũng như nền văn học nước nhà. Trong số tác phẩm
ấy B
ình Ngô Đại Cáo được xem là tác phẩm tiêu biểu có giá trị nhất, ngoài ra
chúng ta còn nh


Đức cao lồng lọng chin châu đươm nhuần ”
Những người tán tụng người lãnh đạo của cuộc khỡi nghĩa Lam Sơn không
tránh khỏi có những hình ảnh quen thuộc mang tính ước lệ và ngôn từ mang đậm
màu s
ắc trang trọng của tác giả đối với Lê Lợi và đây cũng là hình ảnh trung tâm
cho văn
học yêu nước về chủ nghĩa anh hùng của dân tộc.
1.5.2. Chủ nghĩa nhân đạo
Văn học do con người sang tạo nên và tất yếu phải phục vu lại cho con
người . V
ì vậy, tinh thần nhân đạo là một phẩm chất cần có để tác phẩm trở thành
b
ất tử với nhân loại. Điều này cũng có nghĩa là, trong xu hướng chung của phát
triển văn học nhân loại, văn học trung đại Việt Nam hướng đến thể hiên những vấn
đề của chủ nghĩa nhân đạo
. Khát vọng hòa bình, vấn đề quyền sống, quyền hạnh
phúc của con người, nỗi khổ đau của nhân dân trong các cuộc chiến tàn khốc, bóc
l
ột của các thế lực thống trị; khát vọng đấu tranh cho lẽ công bằng, tự do cho sự tồn
tại của những con người cá nhân có ý thức tự khẳng định mình.
T
ừ những đặc điểm trên cho thấy văn học trung đại việt nam có sự phát triển
theo xu hướng văn học của nhân loại. Cho nên nhiều tác phẩm như Truyện kiều
25
của Nguyễn Du, Chinh Phụ Ngâm của Đăng Trần Côn, thơ Nôm của Hồ Xuân
Hương …là bước ngoặc lớn in đậm dấu ấn “tinh thần phục hưng”. Chủ nghĩa nhân
đạo cũng l
à tiếng nói phản kháng quyết liệt đối với thế lực phi nhân, khát vọng tình
yêu h

Nguyễn Ánh phải để chúng buôn bán tự do tại cửa biển Sơn Trà
- Đà Nẵng. Không
lâu sau khi thành lập, triều đại Tây Sơn bị lật đổ, Nguyễn Ánh khôi phục lại vương
triều phong kiến chuyên chế (1802-1945). Đây được xem là giai đoạn phát triển tột
bậc, rực rỡ nhất của văn học phong kiến Việt Nam. Cảm hứng xuyên suốt thời kì
này là c
ảm hứng nhân đạo. Bởi lúc này số phận và quyền sống của con người bị đe

Trích đoạn Tình yêu nước thương dân, tư tưởng nhân nghĩa cao đẹp Một chí khí hào hùng, nhân cách cao thượng của người quân tử Tâm hồn mang đậm dấu ấn con người cá nhân Nghệ thuật sử dụng thể thơ thất ngôn xen lục ngôn Sự mở rộng và sáng tạo các tiểu loại đề tài, chủ đề
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status