ảnh hưởng của chế phẩm vi sinh olavit và hỗn hợp (calphovit + olavit + adeb. complex) lên năng suất và hiệu quả kinh tế của heo con sau cai sũa huyện phong điền tp.cần thơ - Pdf 30

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGUYỄN HỒNG NHUNG

ẢNH HƢỞNG CỦA CHẾ PHẨM VI SINH
OLAVIT VÀ HỖN HỢP (CALPHOVIT +
OLAVIT + ADEB. COMPLEX) LÊN NĂNG
SUẤT VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA HEO
CON SAU CAI SŨA HUYỆN PHONG ĐIỀN
TP.CẦN THƠ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH CHĂN NUÔI – THÚ Y

2013
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG


o0o

ẢNH HƢỞNG CỦA CHẾ PHẨM VI SINH
OLAVIT VÀ HỖN HỢP (CALPHOVIT +
OLAVIT + ADEB. COMPLEX) LÊN NĂNG
SUẤT VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA HEO
CON SAU CAI SŨA HUYỆN PHONG ĐIỀN
TP.CẦN THƠ

Cần Thơ, ngày…tháng…năm 2013 Cần Thơ, ngày… tháng… năm2013
CÁN BỘ HƢỚNG DẪN DUYỆT BỘ MÔN PGS.TS. Lê Thị Mến

Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2013
DUYỆT KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

LỜI CẢM TẠ
ii

Trong suốt 4 năm học tập và rèn luyện ở trường ĐHCT, được sự quan
tâm dạy dỗ và truyền đạt những kiến thức vô cùng quý báu của quý thầy cô.
Sau gần 4 tháng thực tập tại Trại chăn nuôi tậ p trung Thành đội Cần Thơ ,
tại đây được sự quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi của ban chỉ đạo, anh kỹ
thuật trại đã cho em học hỏi được rất nhiều kinh nghiệm cho bản thân và
iii

Thí nghiệm được tiến hành từ 7/2013-10/2013 tại Trại chăn nuôi tập
trung Thành Đội Cần Thơ, ấp Trường Thọ, xã Trường Long, huyện Phong
Điền Tp. Cần Thơ. Thí nghiệm được thực hiện trên 54 heo sau cai sữa được
nuôi luân phiên trên 8 ô chuồng sàn của dãy chuồng nuôi heo sau cai sữa.
Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 3
nghiệm thức (3 nhóm thức ăn) và 6 lần lặp lại (khối), tương ứng.
NT ĐC (không có bổ sung chế phẩm): có khối lượng đầu kỳ 9,0± 0,25
kg/con.
NT HH(NT bổ sung chế phẩm Calphovit): có khối lượng đầu kỳ
9,0±0,30 kg/con.
NT OLA (NT bổ sung chế phẩm Olavit): có khối lượng đầu kỳ
9,0±0,25 kg/con.
Thức ăn sử dụng cho thí nghiệm: là thức ăn cho heo sau cai sữa (giai
đoạn từ 8-15kg) Winer 2 -9204 của Công ty cổ phầ n Greenfeed Việ t Nam ,
sản xuất tại xã Nhựt Chánh , huyệ n Bế n Lứ c-tỉnh Long An. Heo được chăm
sóc và nuôi dưỡng theo quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng của trại.
Số liệu được theo dõi và ghi chép hằng ngày, thức ăn hỗn hợp cho heo
thí nghiệm được cân và trộn với chế phẩm bổ sung, lượng thức ăn được
điều chỉnh theo khối lượng của heo. Số liệu được xử lí bằng chương trình
Excel và Minitab Version 16.0.
Kết quả thí nghiệm được ghi nhận như sau:
Tăng trọng bình quân cuối kỳ (kg/con) ở NT HH là cao nhất kế đến là
NT OLA và thấp nhất là ở NT ĐC.
HSCHTĂ của NT ĐC là 1,36 và NT HH là 1,29 và NT OLA là 1,31.
Tỷ lệ tiêu chảy ở NT ĐC cao hơn NT OLA và NT HH.
Hiệu quả kinh tế về mặt thức ăn ở NT ĐC là 100% cao hơn NT HH là
v MỤC LỤC
Tóm lƣợc ii

Chƣơng 1: Đt vấn đề 1

Chƣơng 2: Lƣợc khảo tài liệu 2
2.1Giống heo ở Đồng bằng Sông Cửu Long 2
2.1.1Yorkshire 2
2.1.2 Landrace 2
2.1.3 Các nhóm giống heo lai 3
2.2 Đặc điểm sinh học của heo con 4
2.2.1 Những biến đổi sinh lý heo con cai sữa 4
2.2.2 Đặc điểm tăng trọngcủa heo con 5
2.2.3 Đặc điểm tiêu hóa của heo con 5
2.2.4 Đặc điểm về khả năng điều tiết thân nhiệt của heo con 7
2.2.5 Sự phát triển của hệ vi sinh vật đường ruột 8


3.3.3 Phương pháp tiến hành 29
3.3.4 Một số bệnh thường gặp ở heo con cai sữa ở trại 30
3.3.5 Xử lý số liệu 30
Chƣơng 4: Kết quả thảo luận 31
4.1 Ghi nhận tổng quát 31
4.2 Kế t quả về sinh trưở ng 31
4.2.1 Kết quả về tăng trọng hàng tuần của heo thí nghiệm theo nghiệm thức . 31
4.2.2 Kết quả về tăng trọng tuyệt đối của heo thí nghiệm 34
4.3 Tiêu tốn thức ăn và HSCHTĂ của heo thí nghiệm 36
4.4 Tỷ lệ tiêu chảy của heo thí nghiệm 38
4.5 Hiệ u quả kinh tế củ a thí nghiệ m 39
4.5.2 Hiệu quả kinh tế của toàn thí nghiệm 40

Chương 5: Kết luận và đề nghị 42
5.1 Kế t luậ n 42
5.2 Đề nghị 42

Tài liệu tham khảo 43
Phụ chƣơng hình 46
Phụ chƣơng bảng 49 vii DANH MỤC BẢNG

Hình 3.2: Sơ đồ khu vực trại chăn nuôi heo 21
Hình 3.3:Tổng thể của dãy chuồng nuôi heo 21
Hình 3.4: Dãy chuồng nuôi heo thí nghiệm 21
Hình 3.5: Các ô chuồng nuôi heo thí nghiệm 22
Hình 3.6: Bồn nước dùng trong thí nghiệm 24
Hình 4.1: Biểu đồ tăng trọng hàng tuần của heo thí nghiệm 34
Hình 4.2: Biểu đồ tăng trọng tuyệt đối của heo thí nghiệm 34
HÌnh 4.3: Biểu đồ tăng trọng toàn kỳ của heo thí nghiệm 36
Hình 4.4: Biểu đồ hệ số chuyển hóa thức ăn của heo thí nghiệm 37
1

Chƣơng 1: ĐT VẤN ĐỀ
Trong nhữ ng năm gầ n đây ngà nh chăn nuôi nướ c ta nói chung và chăn
nuôi heo nó i riêng đã có bướ c phá t triể n mạ nh mẽ và toà n diệ n gó p phầ n
quan trọ ng trong việ c tạo công ăn việ c là m cho khố i lượ ng lớ n hộ nông dân,
nâng cao chấ t lượ ng cuộ c số ng và thể chấ t con ngườ i.Theo Bộ Nông nghiệ p
và Phát triển nông thôn (2008), đị nhhướ ng phá t triể n nhanh đà n heo ngoạ i
theo hướ ng trang trạ i , công nghiệ p ở nơi có điề u kiệ n về đấ t đai , khả năng
kiể m soá t đượ c dị ch bệ nh, đưa đà n heo từ 26,8 triệ u con năm 2006 lên 29,9
triệ u con năm 2010; 32,9 triệ u con năm 2015 và 34,7 triệ u con năm 2020.
Ngành chăn nuôi heo phát triển đạ t năng suấ t cao , ngoài yếu tố giống , kỹ
thuậ t thì thức ăn là một yếu tố rất quan trọng để nâng cao năng suất và chất
lượ ng sả n phẩ m.
Trong các giai đoạn chăn nuôi heo, thì giai đoạ n heo con theo mẹ và

2.1Giống heo ở Đồng bằng Sông Cửu Long
2.1.1Yorkshire
- Nguồn gốc của heo Yorshire (Hình 2.1): heo có xuất xứ từ nước
Anh, lai tạo ở Anh thế kỷ XIX. Ngày nay, đây là giống heo dễ thích nghi và
nuôi khắp nơi trên thế giới(Nguyễn Thiện và ctv., 2005).
- Ngoại hình heo Yorshire (có 3 ngoại hình): kích thước lớn gọi là Đại
Bạch, Trung Bạch và cỡ nhỏ. Heo có tầm vóc lớn, thân mình dài nhưng
không năng nề, dáng đi chắc khỏe và linh hoạt. Màu sắc lông của heo trắng,
có ánh vàng, đầu to, trán rộng, mõm khá rộng, mắt lanh lợi, tai to đứng và
có hình tam giác hơi ngả về trước; vành tai của heo có nhiều lông mịn và
dài, lưng thẳng và rộng, bụng gọn, ngực rộng và sâu, đùi to và dài,4 chân
khỏe(Nguyễn Thiện, 2008).
- Tính năng sản xuất: đây là giống kiêm dụng hướng nạc-mỡ, heo cái
được sử dụng làm giống vào lúc 6-8 tháng tuổi. Heo nái đẻ sai và tốt sữa,
bình quân mỗi lứa có từ 10-12 heo con còn sống. Trọng lượng sơ sinh heo
con cai sữa không đồng đều lắm, khoảng cách hai lứa đẻ khoảng 231-240
ngày. Heo nuôi thịt 6 tháng tuổi đạt 90-100 kg. Tiêu tốn khoảng 3-4 kg thức
ăn cho 1 kg tăng trọng, tỉ lệ nạc 51-54% (Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị
Dân, 2000). (www.fwi.co.uk)
Hình 2.1: Heo Yorkshire
2.1.2 Landrace

Trương Lăng (2000)cho rằngmột số nái ở nước ta đã dùng là heo nái
Yorkshire lai 2 nền cho lai với đực giống Landrace, con lai nuôi thịt chóng
lớn, 6-7 tháng tuổi heo đạt khoảng 100 kg, tỷ lệ nạc là 52-57%, tiêu tốn 3,8-
4,2 kg cho 1 kg tăng trọng.
4 Hình 2.3: Heo lai 2 máu Yorkshire x Landrace
2.2 Đc điểm sinh học của heo con
2.2.1 Những biến đổi sinh lý heo con cai sữa
Những biến đổi về tiêu hoá
Đối với heo con đang theo mẹ, nếu ta tách mẹ ra và nuôi dưỡng
chúngvới khẩu phần thích hợp trong tuần đầu vẫn xảy ra xáo trộn trao đổi
chất. Vì thế cần phải có thời gian thích hợp để heo con làm quen với một số
khẩu phần thức ăn, lúc này cơ thể heo con hoàn toàn sử dụng nguồn năng từ
thức ăn cung cấp. Do quá trình tiêu hoá khác nhau, chức năng tiêu hoá tăng
dẫn đến chất dinh dưỡng hấp thu nhiều hơn (Trần Cừ, 1972).
Ảnh hƣởng của sự cho ăn lên sự tiêu hoá
Trương Lăng (2000)cho rằngkhi cho heo ăn nhiều bữa trong ngày (5
bữa so với 3 bữa) dịch vị tăng 79,43%, dịch tụy tăng 35,2%. Ăn thức ăn
khô dịch tiêu hóa tăng 12% so với ăn thức ăn ướt. Từ sơ sinh đến 23-35
ngày tuổi không tiết HCl, nhưng cho ăn sớm bằng ngũ cốc từ 14-20 ngày
thì tiết HCl, giúp tiêu hoá tốt hơn. Cho heo con ăn sớm kích thích tiết dịch
vị, tiết HCl khi thức ăn tác động cơ giới vào thành dạ dày. Bộ máy tiêu hoá
phát triển, ruột dài ra, tăng tiêu hoá và tăng trọngnhanh hơn.
Khả năng ức chế sau cai sữa
Cơ thể heo con dễ bị stress sau khi cai sữa do một số nguyên nhân sau:

đầu là ở tuần thứ 3 do nhu cầu sữa của heo con tăng, trái lại lượng sữa của
heo mẹ bắt đầu giảm, một số chất dự trữ trong cơ thể heo con giảm dần.
Lần 2 là lúc cai sữa do heo con tách hẳn mẹ từ dinh dưỡng phụ thuộc vào
sữa mẹ chuyển sang dinh dưỡng của thức ăn có nhiều chất thô. Nếu sự
chuyển biến này đột ngột sẽ có ảnh hưởng xấu đến tăng trọngcủa heo con
(Trần Cừ,1972).
2.2.3 Đc điểm tiêu hóa của heo con
Ở heo con các cơ quan đều chưa thành thục về chức năng, đặc biệt là
hệ thần kinh, do đó heo con phản ứng rất chậm chạp các yếu tố tác động lên
chúng. Một đặc điểm cần lưu ý, ở heo con có một giai đoạn không có HCl
trong dạ dày. Giai đoạn này được coi như một tình trạng thích ứng tự nhiên
của heo con, do vậy mới tạo được khả năng thẩm thấu các kháng thể có
trong sữa đầu của heo mẹ. Trong giai đoạn này, dịch vị không có hoạt tính
phân giải protein mà chỉ có hoạt tính làm vón sữa đầu và sữa. Còn huyết
thanh chứa albumin và globulin được chuyển xuống ruột và thẩm thấu vào
6

máu. Ở heo con đến 14-16 ngày tuổi tình trạng thiếu HCl ở dạ dày không
còn là trạng thái sinh lý bình thường nữa nên việc tập cho heo con ăn sớm
đặc biệt là khi cai sữa sớm đã rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl, hoạt hóa
hoạt động tiết dịch, tạo khả năng xây dựng nhanh chóng các đáp ứng miễn
dịch của chúng (Đào Trọng Đạt và ctv., 1996).
Nguyễn Thiện và ctv. (2008)cho rằngthời kỳ heo con cai sữa, đặc điểm
nổi bật của cơ quan tiêu hóa heo con đó chính là sự phát triển rất nhanh
song chưa hoàn thiện (Bảng 2.1). Sự phát triển nhanh thể hiện ở sự tăng về
dung tích và khối lượng của bộ máy tiêu hóa. Còn chưa hoàn thiện thể hiện
ở số lượng cũng như hoạt lực của một số men trong đường tiêu hóa heo con

(VCK), và nitơ trong nước bọt tăng theo tuổi (Trần Cừ, 1972).Trong nước
bọt chứa men amylase, maltase (chủ yếu là amylase). Ở heo sơ sinh, những
ngày đầu hoạt tính amylase nước bọt cao và lượng amylase đạt cao nhất lúc
2-3 tuần tuổi, sau đó giảm 50% và lượng nước bọt thay đổi tùy theo số lần
cho ăn, chất lượng thức ăn (Trương Lăng, 2003). Ở miệng hầu như không
có sự hấp thụ vì thức ăn dừng lại ở đây không lâu, chỉ có khả năng hấp thu
đường glucose, nhưng lượng này không đáng kể.

7

2.2.3.2 Tiêu hóa ở dạ dày
Tiêu hóa ở dạ dày là giai đoạn tiêu hóa quan trọng, tại đây thức ăn
chịu tác động cơ học do sự co bóp, vận động của dạ dày và tác động hóa
học do dịch vị tiết ra (Cù Xuân Dần, 1996).
Trương Lăng (2000) và Vũ Đình Tôn và Trần Thị Thuận (2005)cho
rằng tiêu hoá ở dạ dày được nghiên cứu khá đầy đủ. Khi mới sinh dịch vị
tiết ra ít và sau đó tăng nhanh theo sự tăng dung tích của dạ dày (Bảng 2.2).
Lượng dịch vị tăng nhanh nhất lúc 3-4 tuần tuổi và sau đó giảm dần. Trong
một ngày đêm lượng dịch vị tiết ra khác nhau và biến đổi theo tuổi. Trước
khi cai sữa, ban đêm heo con tiết nhiều dịch vị nhiều hơn do heo mẹ ban
đêm tiết nhiều sữa kích thích sự tiết dịch vị của heo con. Khi cai sữa lượng
dịch vị tiết ra ngày đêm gần bằng nhau.Số lượng và chất lượng khác nhau
làm tăng tính ngon miệng do dịch vị tiết ra nhiều, tiêu hóa cao. Ban đêm
khả năng tiêu hóa cao hơn ban ngày (Trương Lăng, 2003).
Bảng 2.2:Lượng dịch vị biến đổi tùy theo tuổi và ngày đêm của heo

Thời gian


độ cơ thể giảm tới 5
o
C. Do bị mất nước, mất nhiệt nhanh, cơ thể bị lạnh làm
hoạt động chức năng của các bộ máy trong cơ thể bị rối loạn. Heo sơ sinh
trao đổi năng lượng và trao đổi vật chất rất cao trong khi đó nhiệt độ cơ thể
lại giảm nhanh vì thế nhu cầu ẩm với heo con rất quan trọng, 7 ngày đầu
heo cần nhiệt độ 32-34
o
C, 7-10 ngày sau cần 29-30
o
C, sau 10 ngày tuổi heo
con mới tự cân bằng nhiệt được.
Khả năng điều tiết thân nhiệt của gia súc non rất kém, do đó nó rất
nhạy cảm với sự thay đổi khí hậu bên ngoài, nhất là nhiệt độ lạnh dễ làm
gia súc non bị bệnh.Ở gia súc non từ 15-20 ngày tuổi thân nhiệt mới dần ổn
định (Trần Thị Dân, 2004).
Lê Hồng Mận (2006)cho rằngheo mới sinh lớp mỡ dưới da chưa phát
triển và glycogen trong cơ còn thấp, da mỏng, lông thưa nên khả năng giữ
nhiệt cho cơ thể còn hạn chế, heo dễ bị nhiễm bệnh.
Bảng 2.3: Nhiệt độ thích hợp cho heo con
Trọng lượng heo
Nhiệt độ
Nhiệt độ tối ưu (
o
C)
Nhiệt độ giới hạn
(
o
C)


khỏe mạnh, có rất nhiều typ vi khuẩn hiếm khí. Trong đó nhóm vi khuẩn
hiếm khí bắt buộc như Bifidobacteria, Lactobacilli và Bacteroidaceae
chiếm đến 90% của tổng vi sinh vật.
2.2.6Sự phát triển của hệ thống miễn dịch
Ở heo sơ sinh quá trình hấp thu imminoglobulin và những tiểu phần
protein khác của sữa mẹ bằng con đường chủ động chọn lọc hoặc bằng ẩm
bào. Nhờ đó imminoglobulin ngay những giờ đầu sau khi đẻ đã tăng trong
máu heo con (từ 3,5-7%). Những tiểu phần protein sữa tuần hoàn trong máu
không gây nguy hiểm với heo con vì trong thời gian này heo con không
hình thành kháng thể bản thân và protein đối với chúng không phải là kháng
nguyên. Sự thành thục về miễn dịch học của heocon xuất hiện sau một
tháng tuổi (Trương Lăng, 2003).
2.2.7 Hệ thống enzyme tiêu hóa
Trần Cừ (1972) và Trương Lăng (2003)cho rằngquá trình tiêu hóa hóa
học ở heo cũng như các động vật khác nhờ vào hệ thống enzym có thể chia
ra 3 nhóm chính enzym tiêu hóa protid gồm có pepsin, trypsin,
chimotrypsin,…Enzym tiêu hóa lipid gồm có lipase.Enzym tiêu hóa glucid
có amylase, maltase và lactase.
Lưu ý khi thay thế sữa mẹ bằng một chế độ thức ăn heo con sẽ có
nhiều rối loạn về tiêu hóa do thiếu một số enzyme cần thiết phải bổ sung
protein động vật cần thiết. Vì với protein thực vật thì các enzyme tiêu hóa
tác động ít hơn so với protein động vật.Cai sữa 5 tuần tuổi thì heo con sử
dụng được protein thực vật tương đối dễ dàng (Trương Lăng, 2003).
2.2.7.1 Enzyme tiêu hóa glucid
Glucid được tiêu hóa nhờ các men: Amylase, maltase, lactase,
saccharase. Các enzyme tiêu hóa biến đổi rất rõ theo tuổi: Amylase do
tuyến nước bọt tiết ra ở heo con có hoạt lực thấp, tăng cao nhất lúc 2-3 tuần
tuổi sau đó lại giảm, còn amylsae tụy lại có ngay trong thời kỳ sơ sinh song
hoạt lực thấp và tăng cao dần ở 4-6 tuần tuổi. Đây là loại men có vai trò rất

acid béo. Do đó khi xem xét nhu cầu dinh dưỡng của heo người ta thường
chú ý đến năng lượng, protein, acid amin, vitamin, và các chất khoáng đa,
vi lượng (Nguyễn Thiện và ctv., 2008).
2.3.1 Nhu cầu năng lƣợng
Năng lượng do thức ăn cung cấp trước hết được trao đổi và tiêu hao
trong mọi hoạt động của cơ thể heo: ăn uống, đi lại, hô hấp, tuần hoàn,…kể
cả lúc ngủ. Đa phần các nguyên liệu thức ăn nuôi heo có giá trị năng lượng
trao đổi bằng 94-97% giá trị năng lượng tiêu hóa. Heo cần năng lượng để
duy trì cơ thể bình thường, để lớn lên và để sinh sản (Bảng 2.4). Các thức
ăn cung cấp năng lượng là các thành phần chủ yếu trong khẩu phần
(Trương Lăng, 2000 và NRC, 2000).

11

Bảng 2.4: Nhu cầu năng lượng cho heo con
Chỉ tiêu
Trọng lượng heo (kg)
3-5
5-10
10-20
DE trong khẩu phần (Kcal/kg)
3400
3400
3400

đến sự tổng hợp các nucleotid, hemoglobin, duy trì trạng thái bình thường
của cơ thể. Thiếu Lys con vật lười ăn, da khô, giảm khối lượng. Met có ảnh
hưởng đến sự sinh trưởng, sự hoạt động của gan, sự điều hoà của tuyến
giáp, khử độc các chất xâm nhập vào cơ thể. Thiếu Met sẽ giảm khả năng
sinh trưởng, giảm mức sử dụng nitơ và quá trình trao đổi chất bị rối loạn.
Bảng 2.5: Nhu cầu acid amin trong khẩu phần heo con (90%VCK)
AA (%)
Trong lượng (kg)
3-5
5-10
10-20
Arg
1,4
2,4
4,2
His
1,1
1,9
3,2
Ile
1,8
3,2
5,5
Leu
3,4
6,0
10,3
Lys
3,4
5,9
12

2.3.3 Nhu cầu khoáng
Trương Lăng (2000) và Dương Thanh Liêm và ctv. (2002)cho
rằngchất khoáng rất cần thiết cho các cấu trúc và chức năng chuyển hóa
trong cơ thểheo, có thể được phân thành chất khoáng đa và vi lượng (Bảng
2.6). Khoáng đa gồm các nguyên tố cần được bổ sung vào khẩu phần heo:
Ca, P, Mg, Na, K, Cl, S. Khoáng vi lượng gồm các nguyên tố: Fe, Cu, Mn,
Co, Zn, Si, Se,Cr… Cả 2 nhóm khoáng đều có vai trò quan trọng trong quá
trình trao đổi chất, nhưng nhóm khoáng đa lượng có hàm lượng cao hơn
nhiều so với nhóm khoáng vi lượng. Chất khoáng có vai trò chính như sau
đối với vật nuôi: hầu hết các chất khoáng có vai trò xúc tác cho các phản
ứng sinh hóa trong tế bào. Chất khoáng giữ vai trò cân bằng chất điện giải,
giữ ổn định pH của máu và dịch tế bào, duy trì áp suất thẩm thấu.
Bảng 2.6:Nhu cầu khoáng trong khẩu phần heo con
Khoáng
Trọng lượng heo con
4-11
12-18
19-46
Ca (%)
0,85
0,75
0,65
P (%)

0,3
(Trương Lăng, 2000)
Trương Lăng và Nguyễn Văn Hiền (2000)cho rằng Ca chiếm khoảng
99% và P khoảng 80% giữ vai trò chính trong cấu tạo bộ xương và trong
răng, ngoài ra còn thực hiện nhiều chức năng sinh lý khác. Vai trò của Ca
còn thể hiện trong sự đông máu và co cơ, vai trò của P với sự trao đổi năng
lượng. Nếuthiếu Ca, P sẽ làm yếu xương sườn hoặc cột sống, chân vòng
kiền, dễ gãy. Nhiều Ca (trên 1%) có thể gây thiếu kẽm (Zn), tỉ lệ tối đa cho
Ca:P là 1-1,3/1.
2.3.4 Nhu cầu vitamin
Nhu cầu vitamin (vit) của heo rất ít nhưng nó rất cần thiết cho quá
trình trao đổi chất bình thường của cơ thể (Nguyễn Thiện và ctv., 2008).
Lê Hồng Mận (2006)cho rằng cơ thể động vật cần khoảng 15 loại vit
với lượng rất ít nhưng có vai trò lớn trong quá trình trao đổi chất, các hoạt
động của các enzyme và hormon. Thiếu hay thừa một loại vit nào đều có
ảnh hưởng xấu đến tiêu hóa hấp thu dinh dưỡng của động vật. Vit chia làm
13

2 loại: nhóm vit hòa tan trong dầu và nhóm vit hòa tan trong nước được đưa
từ thức ăn vào cơ thể (Bảng 2.7).
Dương Thanh Liêm và ctv. (2002)cho rằng muốn cho heo tăng trưởng
tốt thì thức ăn phải được cung cấp đầy đủ vit, nhất là vit A và vit nhóm B
giúp cho sự biến dưỡng các dưỡng chất những vit này cần được chú ý trong
khẩu phần của heo.
Bảng 2.7: Nhu cầu vitamin hàng ngày của heo cho ăn tự do (90% VCK)
Chỉ tiêu
Trọng lượng heo (kg)

7,50
12,50
18,55
Riboflavin (mg/kg)
1,75
3,00
4,64
Thiamin (mg/kg)
0,50
1,00
1,86
Vit B
6
(mg/kg)
0,75
1,50
1,86
Vit B
12
(mg/kg)
8,75
15,00
18,55
(NRC, 2000)
2.3.5 Nhu cầu về chất béo
Khả năng tiêu hóa chất béo của heo con tăng dần lên theo tuổi của
chúng. Mặc dù chất béo bổ sung không có tác dụng đối với mức tăng
trưởng của heo con trong 1, 2 tuần đầu sau khi cai sữa nhưng không gây
nên hiện tượng mất
chất béo trong thời gian đó. Trong 2 tuần đầu sau khi cai sữa lượng chất béo

Bổ sung chất xơ vào khẩu phần của heo sẽ làm giảm năng lượng tiêu
hóa DE của khẩu phần. Để duy trì năng lượng tiêu hóa ăn vào heo phải ăn
nhiều hơn. Tuy nhiên, khi lượng chất xơ vượt quá 10-15% khẩu phần,
lượng thức ăn ăn vào có thể sẽ bị giảm do độ choáng quá nhiều hoặc do tính
ngon miệng của thức ăn thấp. Khẩu phần năng lượng (chất xơ cao) sẽ cho tỷ
lệ tăng trưởng tương đương với tỷ lệ tăng trưởng của heo đực ăn khẩu phần
năng lượng cao trong giai đoạn nhiệt độ môi trường thấp nhưng khẩu phần
loại này thường làm giảm tỷ lệ tăng trưởng khi nhiệt độ môi trường cao
(NRC, 2000).
2.4Chế phẩm sinh học
2.4.1 Khái niệm
Dương Thanh Liêm và ctv. (2002)cho rằngchế phẩm sinh học có thể
hiểu là những vi sinh vật sống được đưa vào thể dưới dạng chất bổ sung để
tạo môi trường đường ruột trở nên thuận lợi hơn cho các vi sinh vật có lợi
phát triển và ngược lại ức chế sự phát triển của vi khuẩn có hại. Nhóm vi
sinh vật chủ yếu được sử dụng là Lactobacillus aciddophilus và một số ít
các loại khác như Streptococcus faecium, Bacillus subtillis và nấm men(Hội
chăn nuôi Việt Nam, 2002). Các vi khuẩn này vào đường ruột lên men
thành lactose tạo nên acid nên làm cho pH đường ruột trở nên acid (pH≤4)
hơn và do đó hạn chế sự phát triển của vi khuẩn có hại (E. coli,
Salmonella,…) vốn thường phát triển mạnh ở môi trường acid yếu (pH≥4)
(Lê Thị Mến, 2010).
15

Metchnikoff (1908) là người đầu tiên đề nghị dùng chế phẩm có
chứaLactobacilli bổ sung vào khẩu phần để ngừa rối loạn trong tiêu hóa với
tên “probiotic”. Đến 1974, Parker đề nghị dùng probiotic để chỉ vi sinh vật

Tình trạng sức khỏe và dinh dưỡng của heo, sự hiện diện của yếu tố gây
stress, khác biệt về di truyền giữa các giống heo, sức sống và tính ổn định
của chất trợ sinh, tính đặc hiệu của trợ sinh theo giống heo, liều và số lần
dùng trợ sinh.

Trích đoạn Các chỉ tiêu theo dõi Ghi nhận tổng quát
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status