TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG PHẠM THANH PHÚ ẢNH HƢỞNG CỦA CÁC PHƢƠNG PHÁP CHỦNG
PHÂN VI SINH DASVILA ĐẾN SINH TRƢỞNG
VÀ NĂNG SUẤT GIỐNG LÚA OM5464
TRỒNG TRONG NHÀ LƢỚI VỤ
ĐÔNG XUÂN 2012-2013 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH KHOA HỌC CÂY TRỒNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH KHOA HỌC CÂY TRỒNG CÁN BỘ HƢỚNG DẪN
TS. NGUYỄN THÀNH HỐI Cần Thơ - 2013
i
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
… Luận văn Kỹ sư ngành Khoa học cây trồng với đề tài:
ẢNH HƢỞNG CỦA CÁC PHƢƠNG PHÁP CHỦNG
PHÂN VI SINH DASVILA ĐẾN SINH TRƢỞNG
VÀ NĂNG SUẤT GIỐNG LÚA OM5464
TRỒNG TRONG NHÀ LƢỚI VỤ
ĐÔNG XUÂN 2012 - 2013 Do sinh viên Phạm Thanh Phú thực hiện.
Kính trình hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét.
DUYỆT KHOA
Trưởng khoa Nông Nghiệp và SHƯD
iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu, kết
quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ công trình luận văn nào trước đây.
Cần Thơ, ngày……tháng……năm 2013
Người viết
Phạm Thanh Phú
v
LỜI CẢM ƠN
Kính dâng Ba Mẹ những người suốt đời tận tụy vì con, người đã tạo mọi điều
kiện cho con học đến ngày hôm nay, xin cảm ơn những người thân đã giúp đỡ,
động viên con trong suốt thời gian qua.
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
Thầy Nguyễn Thành Hối và anh Mai Vũ Duy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ
và đóng góp những ý kiến xác thực giúp em trong suốt thời gian thực hiện và
hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Cố vấn học tập Thầy Lê Vĩnh Thúc và Cô Võ Thị Bích Thủy đã dẫn dắt em
trong suốt thời gian học tại trường.
Quý Thầy Cô Trường Đại học Cần Thơ, Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng
dụng đã truyền dạy những kiến thức quý báu cho em trong suốt thời gian học
tập tại trường. Đây sẽ là hành trang vững chắc giúp em bước vào đời.
Thân gửi đến
Bạn Nguyễn Thị Loan, Trần Trường Giang, Đinh Thanh Tông, Đinh Văn Tàu,
Lê Văn Hai, Tiền Vũ Linh, Huỳnh Đại Lộc và các em Khoa học cây trồng
K38 đã gắn bó với tôi đến khi hoàn thành thí nghiệm.
Chân thành cảm ơn tất cả các bạn lớp Khoa học cây trồng K36 đã giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình học tập.
vi
1.4.1 Số bông trên đơn vị diện tích 5
1.4.2 Số hạt/bông 5
1.4.3 Tỷ lệ hạt chắc 5
1.4.4 Trọng lượng 1.000 hạt 5
1.5 Giống lúa 5
1.6 Hiện tượng thất thoát đạm và cố định lân 6
1.6.1 Hiện tượng thất thoát đạm 6
1.6.2 Hiện tượng cố định lân 8
1.7 Cơ chế cố định đạm sinh học và hòa tan lân khó tan 9
1.7.1 Cơ chế cố định đạm sinh học 9
vii
1.7.2 Cơ chế hòa tan lân khó tan 9
1.8 Vai trò của phân đạm và phân lân đối với cây lúa 10
1.8.1 Phân đạm (N) 10
1.8.2 Phân lân (P) 10
1.9 Sơ lược phân vi sinh Dasvila 11
1.9.1 Sơ lược về vi khuẩn cố định đạm Azospirillum lipoferum và hòa tan lân
Pseudomonas stutzeri 11
1.9.2 Phân vi sinh Dasvila 12
Chƣơng 2: Phƣơng tiện và phƣơng pháp 14
2.1 Phương tiện 14
2.1.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm 14
2.1.2 Giống lúa 14
2.1.3 Bồn thí nghiệm 14
2.1.4 Thời tiết 15
2.1.5 Phân bón và thuốc bảo vệ thực vật 15
2.1.6 Một số dụng cụ khác 15
2.2 Phương pháp thí nghiệm 16
3.3.2 Số hạt/bông 25
3.3.3 Tỷ lệ hạt chắc (% hạt chắc) 25
3.3.4 Trọng lượng 1.000 hạt 26
3.4 Năng suất thực tế và chỉ số thu hoạch (HI) 26
3.4.1 Năng suất thực tế 26
3.4.2 Chỉ số thu hoạch (HI) 27
3.5 Chiều dài rễ và trọng lượng khô của rễ 28
3.5.1 Chiều dài rễ 28
3.5.2 Trọng lượng khô của rễ 29
Chƣơng 4: Kết luận và đề nghị 30
4.1 Kết luận 30
4.2 Đề nghị 30
Tài liệu tham khảo 31
Phụ chƣơng 35
ix
DANH SÁCH HÌNH
Hình
Tên hình
Trang
1.1
Cấu tạo hoa lúa
3
1.2
Sơ đồ quá trình chuyển hóa urea
6
1.3
Các tiến trình chuyển hoá N trong đất lúa ngập nước
15
3.1
Chiều cao (cm) của giống lúa OM5464 ở các thời điểm sinh
trưởng theo phương pháp chủng phân vi sinh Dasvila trồng trong
nhà lưới vụ Đông Xuân 2012-2013
21
3.2
Số chồi/m
2
của giống lúa OM5464 ở các thời điểm sinh trưởng theo
phương pháp chủng phân vi sinh Dasvila trồng trong nhà lưới vụ
Đông Xuân 2012-2013
24
3.3
Các thành phần năng suất của giống lúa OM5464 theo phương pháp
chủng phân vi sinh Dasvila trồng trong nhà lưới vụ Đông Xuân
2012-2013
25
3.4
Năng suất thực tế (tấn/ha) và chỉ số thu hoạch (HI) của giống lúa
OM 5464 theo phương pháp chủng phân vi sinh Dasvila trồng trong
nhà lưới vụ Đông Xuân 2012-2013
27
3.5
Chiều dài rễ và trọng lượng khô rễ của giống lúa OM5464 theo
phương pháp chủng phân vi sinh Dasvila trồng trong nhà lưới vụ
Đông Xuân 2012-2013
28
suất cao và giúp tiết kiệm chi phí. Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn
toàn ngẫu nhiên một nhân tố. Ba nghiệm thức: không chủng (100 N + 60 P
2
O
5
+ 30 K
2
O kg/ha); chủng hạt [phân vi sinh Dasvila (1 lít Dasvila trộn đều cho
12 kg lúa giống đã nảy mầm 2-3 mm) kết hợp 50 N + 30 P
2
O
5
+ 30 K
2
O
kg/ha]; chủng rễ [phân vi sinh Dasvila (1 lít Dasvila + 4 lít nước ngâm 12 kg
rễ mạ 16-18 ngày đã rữa sạch) kết hợp 50 N + 30 P
2
O
5
+ 30 K
2
O kg/ha). Kết
quả cho thấy phương pháp chủng hạt và chủng rễ phân vi sinh Dasvila mang
lại hiệu quả cho việc gia tăng tỷ lệ hạt chắc, chiều dài rễ và trọng lượng khô
của rễ. Số chồi/m
2
ở nghiệm thức chủng hạt cao hơn nghiệm thức chủng rễ.
Năng suất thực tế ở các nghiệm thức tương đương nhau, dao động từ 4,15-4,24
sắt và các khoáng silicate. Bón nhiều phân hóa học sẽ làm thay đổi đặc tính lý,
hóa của đất, giảm độ phì, mất cân bằng sinh thái và gây ô nhiễm môi trường.
Bên cạnh đó, còn làm tổn hại đến sức khỏe con người và gia tăng chi phí.
Việc nghiên cứu ứng dụng các vi khuẩn có khả năng cố định đạm và hòa
tan lân để góp phần vào việc thay thế một phần lượng phân hóa học và cần
thiết cho sự phát triển nông nghiệp bền vững. Việc mất đạm và lân ngày càng
được quan tâm, ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu để giảm thiểu
việc thất thoát đạm và lân trong canh tác lúa. Phân vi sinh Dasvila chứa 2 dòng
vi khuẩn cố định đạm Azospirillum lipoferum và hòa tan lân Pseudomonas
stutzeri là loại phân vi sinh đáp ứng được các yêu cầu trên. Theo kế t quả thí
nghiệm của Cao Ngọc Điệp et al. (2009) cũng cho thấy khi chủng hai loại vi khuẩn
cố định đạm Azospirillum lipoferum và hòa tan lân Pseudomonas stutzeri giúp tăng
năng suất lúa và giảm được 50% lượng phân hóa học.
Giống lúa OM5464 thích hợp trên nhiều loại đất, chống chịu điều kiện
nhiễm mặn khoảng 0,3-0,4%, chống chịu rầy nâu và bệnh đạo ôn tốt, chống
chịu bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá khá. Đây là giống lúa triển vọng mới được
nông dân ưa thích và được canh tác khá nhiều trong một vài vụ gần đây tại
ĐBSCL (Lê Thị Dự, 2009). Tuy nhiên, những nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu
quả sử dụng phân bón và gia tăng năng suất đối với giống lúa OM5464 còn
hạn chế.
Vì vậy đề tài: “Ảnh hưởng của các phương pháp chủng phân vi sinh Dasvila
đến sinh trưởng và năng suất giống lúa OM5464 trồng trong nhà lưới vụ Đông
Xuân 2012-2013” được thực hiện với mục tiêu tìm ra phương pháp chủng thích hợp
đến sinh trưởng và năng suất giống lúa OM5464, đem lại năng suất cao giúp và tiết
kiệm chi phí.
2
CHƢƠNG 1
LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 Đặc tính thực vật của cây lúa
và mật độ đóng hạt trên bông phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng, kỹ thuật canh
tác, thời tiết và tính di truyền của từng giống lúa (Võ Tòng Xuân et al., 1993).
3
Sau khi ra đủ số lá nhất định thì cây lúa sẽ trổ bông, thời gian trổ dài hay ngắn
tùy thuộc vào giống, điều kiện môi trường và độ đồng đều của ruộng lúa. Theo
số lượng hoa trên một bông có thể chia bông ra 4 nhóm gồm nhóm bông bé,
nhóm bông trung bình, nhóm bông to, nhóm bông rất to (Vũ Văn Hiển và
Nguyễn Văn Hoan, 1999).
Hoa lúa là hoa lưỡng tính tự thụ, mỗi một hoa lúa đều có cấu tạo gồm:
râu, vỏ trấu ngoài, vỏ trấu trong, cuống hoa, mày kém phát triển, 2 mày trấu, 6
nhị đực (mỗi nhị đực có chỉ nhị và bao phấn) và nhụy (nhị cái gồm bầu nhụy
và 2 vòi nhụy).
1. Râu 2. Bao phấn 3. Chỉ nhị 4. Vỏ trấu trong 5. Vỏ trấu ngoài
6. Vòi nhụy 7. Bầu nhụy 8. Mày trấu 9. Mày kém phát triển 10. Cuống hoa
Hình 1.1 Cấu tạo hoa lúa (Vũ Văn Hiển và Nguyễn Văn Hoan, 1999)
1.2 Các giai đoạn sinh trƣởng cây lúa
1.2.1 Giai đoạn tăng trƣởng
Theo Nguyễn Tiến Huy (1999) thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng chia ra
hai thời kỳ: thời kỳ mạ và thời kỳ đẻ nhánh. Thời kỳ mạ bao gồm các giai
đoạn: nẩy mầm, từ nẩy mầm đến 3 lá và từ 3 lá đến cấy. Thời kỳ này dài hay
ngắn là tùy thuộc giống và chủ yếu là cấy mạ non hay già, làm mạ theo
phương thức nào. Thời kỳ đẻ nhánh bao gồm các giai đoạn: cấy-bón chân, đẻ
nhánh hữu hiệu, đẻ nhánh vô hiệu-thời kỳ này cũng phụ thuộc vào giống, biện
pháp canh tác và điều kiện môi trường.
1.2.2 Giai đoạn sinh sản
Giai đoạn sinh sản tính từ lúc phân hóa đòng đến khi cây lúa trổ bông.
Giai đoạn này kéo dài khoảng 27-35 ngày, trung bình 30 ngày. Lúc này, số
chồi vô hiệu giảm nhanh, chiều cao tăng lên rõ rệt do sự vươn dài của 5 lóng
C,
nhiệt độ giới hạn cao biến động từ 30-45
0
C và nhiệt độ tối thích biến động từ
20-30
0
C (Đinh Thế Lộc, 2006).
1.3.4 Ánh sáng
Theo Yoshida (1981) yếu tố á nh sáng ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng ,
phát triể n và phát dục của cây lúa trên 2 phương diện chủ yếu là cường độ ánh
sáng và độ dài chiếu sáng trong ngày (quang kỳ). Cường độ ánh sáng ảnh
hưởng trực tiếp đến sự quang hợp của cây lúa. Cường độ ánh sáng thích hợp
cho cây lúa là 250-300 cal/cm
2
/ngày.
1.4 Các yếu tố cấu thành năng suất
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008), năng suất lúa được hình thành và chịu
ảnh hưởng trực tiếp của bốn yếu tố gọi là bốn thành phần năng suất lúa. Đó là
5
các yếu tố: số bông trên đơn vị diện tích, số hạt/bông, tỉ lệ hạt chắc và trọng
lượng 1.000 hạt.
1.4.1 Số bông trên đơn vị diện tích
Số bông trên đơn vị diện tích có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất lúa,
tương quan thuận với lượng đạm của cây hấp thu vào lúc trổ bông, lượng đạm
được cây hấp thu nhiều thì số bông cũng tăng. Số bông đóng góp 74% năng
suất, trong khi đó số hạt và trọng lượng hạt chỉ đóng góp khoảng 26%
(Nguyễn Đình Giao et al., 1997). Số bông chịu ảnh hưởng bởi kỹ thuật canh
tác và điều kiện ngoại cảnh. Ngoài ra, nó còn phụ thuộc vào khả năng nở bụi
của cây lúa.
đất, chống chịu điều kiện nhiễm mặn khoảng 0,3-0,4%, chống chịu rầy nâu và
bệnh đạo ôn tốt, chống chịu bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá khá (Lê Thị Dự,
2009).
1.6 Hiện tƣợng thất thoát đạm và cố định lân
1.6.1 Hiện tƣợng thất thoát đạm
Theo các kết quả nghiên cứu cho thấy cây trồng chỉ hấp thu khoảng 50%
lượng phân N bón vào (Belder et al., 2005), còn lại bị thất thoát do bay hơi,
phản nitrate hóa, rửa trôi, thấm lậu và chảy tràn.
1.6.1.1 Mất đạm urea theo con đƣờng NH
3
bay hơi
Theo Liao et al. (2012), amoniac bay hơi là một trong những con đường
mất đạm quan trọng nhất, chiếm khoảng 10-60% lượng đạm bón vào. Sự bốc
thoát ammonia (NH
3
) là con đường gây mất N nhiều nhất trên đất lúa (Toufiq
Iqbal, 2005). Bón phân đạm chứa ammonium hoặc urea vào đất chúng nhanh
chóng bị thủy phân thành ammonia và bị mất dưới dạng NH3 (Đỗ Thị Thanh
Ren, 1999). Theo Hassell (2013), sự hiện diện của enzyme urease cộng thêm
độ ẩm từ đất thì urea lập tức bị thủy phân và chuyển hóa sang hai phân tử
ammoniac (Hình 1.2).
Hình 1.2 Sơ đồ quá trình chuyển hóa urea (Hassell, 2013)
Harper et al. (1983) cho rằng một lượng lớn NH
3
)
2
CO
3
+ H
2
O
2NH
3
+ H
2
O + CO
2
Urease
Hydrolysis
NH
3
bay hơi
7
trường khác (Jayaweera và Mikkelsen, 1991). Toufiq Iqbal (2005) cho rằng
lượng NH3 bốc thoát gia tăng cùng với sự gia tăng liều lượng phân urea. Với
lượng bón là 0, 90, 180, 270, 360 kg N/ha thì lượng NH3 bốc thoát lần lượt là
7,08; 11,97; 22,68; 30,20 và 56,21 kg N/ha, và lượng phân N mất đi khoảng 6-
49% tổng lượng N bón vào.
1.6.1.2 Mất đạm ở dạng khí NO, N
2
O, N
2
bị mất dưới thể hơi.
1.6.1.3 Sự cố định Ammonium
Dạng NH
4
+
ở đất lúa được cố định bởi khoáng sét 2:1 (Vermiculite,
Smectites) và bị kẹt lại giữa hai phiến sét trở thành dạng khó trao đổi. Trong
đất có thành phần khoáng sét 2:1 cao thì sự cố định này có thể đến 5-10% N
tổng số trong lớp đất mặt và 20-41% N tổng số của tầng đất bên dưới (Ngô
Ngọc Hưng, 2004).
8
1.6.1.4 Sự chảy thoát
Do đặc tính của phân đạm là hòa tan và khuếch tán nhanh vào trong đất
nên lượng đạm mất do chảy thoát trên mặt đất ruộng một lượng đáng kể,
lượng đạm mất này thay đổi từ 2,6-5,6 kg N/ha tùy thuộc vào điều kiện chế độ
nước và phân bón (Ngô Ngọc Hưng, 2004).
1.6.1.5 Sự rửa trôi
Đạm NO
3
-
ít bị keo đất hấp thụ , vì vậy rất dễ bị rử a trôi (Ngô Ngọc
Hưng, 2004). Theo Pandle và Adak (1971) cho biết đạm mất do sự rử a trôi
chiếm khoả ng 11-33% khi bón nhiều lần và 45-60% tổng lượng đạm bón mộ t
lần.
1.6.2 Hiện tƣợng cố định lân
1.6.2.1 Phản ứng của lân trong đất chua
Sự cầm giữ lân bởi các thành phần khoáng của đất chua thường là kết
Phản ứng với các Hydroxyt Fe, Al
Hầu hết sự cố định lân trong đất chua có thể xảy ra khi ion H
2
PO
4
-
phản
ứng với các bề mặt của các oxid Fe, Al, Mn không hòa tan như gibbsite
(Al
2
O
3
.3H
2
O) và goethite (Fe
2
O
3
.3H
2
O). Số lượng chất lân bị giữ bởi các tinh
khoáng trên trong đất chua lớn hơn số lượng bị kết tủa hóa học bởi các ion Fe,
Al và Mn hòa tan (Đỗ Thị Thanh Ren, 2004).
Al(OH)
3
+ H
2
PO
4
-
2
PO
4
(trong sét) (không hòa tan)
Lê Văn Căn (1979) báo cáo rằng khi bón phân P cho đất phù sa sông
Hồng, thì sau 20 giây có 23,6% P bị hấp phụ và 79,4% sau 2 giờ, trong khi đối
với đất đỏ bazan trị số này là 81 và 100%, đất chua mặn Hải Phòng là 86,7 và
100%. Phân lân bón vào đất phèn chủ yếu chuyển sang dạng Fe-P sau 15 ngày
ngập nước, chiếm 80-90% tổng lượng lân của 4 nhóm lân vô cơ. Hàm lượng
Al-P giảm đi nhanh chóng sau 15-20 ngày (Dương Hoa Xô, 1996). Đất ở điều
kiện oxy hóa cố định nhiều P hơn dưới điều kiện oxy, do hàm lượng Fe, Al
hòa tan cao hơn (Đỗ Thị Thanh Ren, 1994).
1.6.2.2 Phản ứng của lân trong đất kiềm
Khi bón phân superphosphate chứa ion H
2
PO
4
-
vào đất kiềm có pH = 8,0
ion H
2
PO
4
-
phản ứng nhanh chóng với các hợp chất calcium tạo thành các hợp
chất lân ít hữu dụng (Đỗ Thị Thanh Ren, 2004).
1.7 Cơ chế cố định đạm sinh học và hòa tan lân khó tan
1.7.1 Cơ chế cố định đạm sinh học
Phản ứng cố định đạm sinh học xảy ra ở một số vi sinh vật là nhờ sự xúc
tác của một enzyme riêng biệt là nitrogenase. Enzyme này xúc tác phản ứng
dibasic phosphate và monobasic là các dạng phosphate vô cơ dễ tiêu. Mặt
khác, các dạng phosphate bị cố định trong đất như phosphate sắt và phosphate
nhôm cũng được chuyển hóa thành các dạng dễ tiêu dưới tác dụng của vi sinh
vật trong đất (Phạm Văn Kim, 2006).
Quặng khó tan phospho dễ tan
Pseudomonas là một trong các loại vi khuẩn hòa tan phosphate mạnh
nhất bằng cách sản xuất acid hữu cơ tham gia quá trình khoáng hóa của
phosphate hữu cơ trong đất và có tác dụng hòa tan AlPO
4
khó tan (Illmer
Barbato và Schinner, 1995; Rodriguez và Fraga, 1999). Vi khuẩn
Pseudomonas làm cho đất màu mỡ hơn (Illmer và Schinner, 1992) tăng năng
suất mùa vụ ở lúa. Chúng hoạt động mạnh ở vùng rễ và tiết enzyme hòa tan
phosphate khó tan thành phosphate dễ tan cây trồng hấp thu được (Rodriguez
và Fraga, 1999). Đối với đất cằn cỗi khi chủng vi khuẩn hòa tan lân
Pseudomonas sẽ làm gia tăng lượng phosphate trong cây và cả trong đất
(Illmer và Schinner, 1992).
1.8 Vai trò của phân đạm và phân lân đối với cây lúa
1.8.1 Phân đạm (N)
Trong số các nguyên tố đa lượng thiết yếu thì đạm được xem là nguyên
tố quan trọng nhất cho quá trình sinh trưởng thân, lá, nở hoa và hình thành hạt
lúa (Mengel et al., 1987). Đạm là thành phần cấu tạo nên cơ thể thực vật, đạm
được hút từ đất lên, kết hợp với glucide hình thành trong quá trình quang hợp
tạo thành acid amin, các acid amin kết hợp thành protein (Togagi, 1968).
Thiếu đạm: cây lúa sẽ sinh trưởng chậm lại, cây còi cọc và lùn, lá vàng
úa và mau già, cây đẻ nhánh kém bông lúa ít và nhỏ, năng suất thấp. Ngược
lại, thừa đạm sẽ làm cho lá lúa to, dài, phiến lá mỏng, nảy chồi vô hiệu nhiều,
lúa trổ muộn, cây cao, dẫn đến hiện tượng lúa lốp, đổ non (Nguyễn Đình Giao
lúa mùa ở ĐBSCL, cũng có những đặc tính tốt như cố định đạm cao, hòa tan
lân nhiều cũng như tổng hợp IAA khá được sử dụng làm phân sinh học (Lăng
Ngọc Dậu et al., 2007). Vi khuẩn Azospirillum lipoferum có thể sinh trưởng và
phát triển dưới cả hai điều kiện hiếu khí và yếm khí nhưng thích hợp nhất
trong điều kiện vi hiếu khí. Vi khuẩn Azospirillum lipoferum cố định đạm
trong không khí thành đạm hữu dụng để cây trồng có thể hấp thụ được. Theo
kết quả nghiên cứu của Trần Văn Chiêu và Nguyễn Hữu Hiệp (2010) lúa có
chủng vi khuẩn Azospirillum có bón 25% N hoặc 50% N có năng suất tương
đương với lúa bón đến 100% N. Đối với kết quả thí nghiệm của Trương Văn
Phúc Giao (2009) cho thấy, việc chủng vi khuẩn với liều lượng khác nhau có
tác dụng tốt đến quá trình tăng trưởng phát triển của cây lúa. Với lượng bón
50% N có chủng vi Azospirillum lipoferum kết quả tốt nhất không khác biệt so với
nghiệm thức bón 100% N mà không chủng vi khuẩn nhưng rất khác biệt so với
nghiệm thức đối chứng (không bón đạm). Ngoài ra, theo kế t quả nghiên cứ u củ a
Cao Ngọc Điệp et al. (2009) nhận thấy khi bón cho lúa bằng chủng dịch phân sinh học
có chứa vi khuẩn cố định đạm Azospirillum lipoferum thì giảm được 50 N kg/ha.
Ngoài ra, theo Nguyễn Tiế n Huy (1979) sử dụng phân đạm vi sinh (nhóm
Azospirillum, loài Pseudomonas, Enterobacter, ) cho thấy lúa có thể tăng