phân lập và tuyển chọn các dòng nấm mốc trong viên men cơm rượu - Pdf 30



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
VIỆN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ SINH HỌC LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH CÔNG NGHỆ SINH HỌC PHÂN LẬP VÀ TUYỂN CHỌN CÁC DÒNG NẤM MỐC
TRONG VIÊN MEN CƠM RƯỢU
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: SINH VIÊN THỰC HIỆN:
PGS.TS. NGUYỄN VĂN THÀNH THẠCH CAO TRÚC LINH
MSSV: 3102746
Lớp: CNSH K36
Cần Thơ, Tháng 12/2013


CÁN BỘ HƯỚNG DẪN SINH VIÊN THỰC HIỆN

PGS.TS. Nguyễn Văn Thành Thạch Cao Trúc Linh DUYỆT CỦA HỘI ĐỒNG BẢO VỆ LUẬN VĂN

…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………….

Cần Thơ, ngày tháng năm 2013
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

LỜI CẢM TẠ
Đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn cha mẹ đã có công sinh thành và nuôi
dưỡng, dạy dỗ tôi cho đến ngày hôm nay.
Xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn tới Ban Giám Hiệu Trường, Ban Lãnh Đạo

tại 10 địa điểm ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đã được tiến hành. Kết quả đã
phân lập được 22 dòng nấm mốc, khảo sát hoạt tính của các dòng nấm mốc phân lập
được và chọn được dòng nấm mốc M.8.1 cho hoạt tính đường hóa cao nhất với thể
tích dịch rỉ là 30,3ml và đạt 28,73
o
Brix. Đồng thời chọn dòng nấm mốc M.8.1 làm
nguồn giống chủng sản xuất bột mốc. Tiến hành khảo sát hoạt tính bột mốc theo các
nghiệm thức khác nhau được bố trí theo 3 tỷ lệ bột mốc (1%, 2% và 3%) tương ứng
với thời gian đường hóa là 2 ngày, 3 ngày và 4 ngày. Kết quả nghiệm thức với tỷ lệ bột
mốc là 1% và thời gian đường hóa là 3 ngày, cho thể tích dịch rỉ 30ml và đạt 29
o
Brix
cao hơn so với các nghiệm thức còn lại ở mức tin cậy 95%.
Từ khóa: bột mốc, độ Brix, đường hóa, men cơm rượu, nấm mốc, phân lập.

Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 36 – 2013 Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành Công nghệ Sinh học ii Viện NC&PT Công nghệ sinh học
MỤC LỤC
Trang
PHẦN KÝ DUYỆT
LỜI CẢM TẠ…………………………………………………………………………………
TÓM LƯỢC………………………………………………………………………………… i
MỤC LỤC ii
DANH SÁCH BẢNG v
DANH SÁCH HÌNH vi
TỪ VIẾT TẮT vii
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu 2
CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3

5.1. Kết luận 41
5.2. Đề nghị 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 1. MỘT SỐ HÌNH ẢNH THÍ NGHIỆM
PHỤ LỤC 2. CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH
2.1. Phương pháp đếm trực tiếp số lượng bào tử nấm mốc bằng buồng đếm hồng
cầu
2.2. Phương pháp đếm sống trên môi trường Crapek Dox Broth
PHỤ LỤC 3. CÁC LOẠI MÔI TRƯỜNG
3.1. Môi trường 1: Phân lập nấm mốc khoai tây - glucose - agar (PGA)
3.2. Môi trường 2: Khoai tây - glucose (PG)
3.3. Môi trường 3: Crapek Dox Broth có bổ sung agar Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 36 – 2013 Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành Công nghệ Sinh học iv Viện NC&PT Công nghệ sinh học
PHỤ LỤC 4. KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM
4.1. Thí nghiệm 2: Khảo sát hoạt tính của các dòng nấm mốc phân lập được
Bảng 6. Kết quả khảo sát hoạt tính đường hóa của các dòng nấm mốc phân lập
4.2. Thí nghiệm 4: Khảo sát hoạt tính bột mốc
Bảng 7. Kết quả hoạt tính đường hóa của bột mốc theo tỷ lệ và thời gian ủ
PHỤ LỤC 5. KẾT QUẢ THỐNG KÊ
5.1. Thí nghiệm 2: Khảo sát hoạt tính của các dòng nấm mốc phân lập được
5.2. Thí nghiệm 4: Khảo sát hoạt tính bột mốc
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 36 - 2013 Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành Công nghệ Sinh học v Viện NC & PT Công nghệ Sinh học
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 1. Các địa điểm thu men cơm rượu dùng cho phân lập nấm mốc 19
Bảng 2. Đặc điểm của các dòng nấm mốc phân lập 30

Hình 3. Nấm mốc Mucor 11
Hình 4. Nấm mốc Rhizopus 12
Hình 5. Nấm mốc Aspergillus 13
Hình 6. Nấm mốc Penicillium 14
Hình 7. Cấu trúc phân tử amylose 15
Hình 8. Cấu trúc phân tử amylopectin 16
Hình 9. Sơ đồ phân cắt tinh bột bằng enzyme 17
Hình 10. Quy trình thí nghiệm phân lập nấm mốc lên men rượu 22
Hình 11. Sơ đồ bố trí thí nghiệm khảo sát hoạt tính của các dòng nấm mốc 24
Hình 12. Quy trình sản xuất bột mốc 26
Hình 13. Sơ đồ thử hoạt tính bột mốc khảo sát trên môi trường gạo hấp 28
Hình 14. Một số dòng nấm mốc phân lập 33
Hình 15. Khảo sát hoạt tính bột mốc PL1
Hình 16. Bột mốc PL1
Hình 17. Máy ly tâm lạnh PL1
Hình 18. Nồi chưng cách thủy (waterbath) PL1
Hình 19. Tủ cấy PL1
Hình 20. Tủ ủ PL1

Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 36 - 2013 Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành Công nghệ Sinh học vii Viện NC & PT Công nghệ Sinh học

TỪ VIẾT TẮT
CFU Colony Forming Unit

lợi cho sức khoẻ con người.
Khi làm cơm rượu nếp, sự kết hợp giữa xôi nếp và bánh men qua quá trình ủ đã
tạo ra hương vị thơm ngọt, chất đường tăng lên, tính chất bổ dưỡng của món ăn này
cũng được gia tăng.
Tuy nhiên lên men cổ truyền cũng có nhược điểm do đây là quá trình lên men
trong điều kiện tự nhiên, được thực hiện bởi các vi sinh vật tự nhiên và vật chất lên
men trong tự nhiên. Cả vi sinh vật và vật chất sử dụng trong quá trình lên men tự nhiên
rất phức tạp, không đồng đều về chủng loại và số lượng. Mặt khác quá trình lên men là
quá trình không kiểm soát nên chất lượng sản phẩm không được ổn định và đồng nhất.
Cơm rượu là món ăn bổ dưỡng được ưa chuộng ở cả hai miền Nam và Bắc. Ở
miền Nam, cơm rượu được làm thành viên có nước bao quanh, trong khi cơm rượu ở
miền Bắc ở dạng khô hơn và xới lên như xôi.
Trong sản phẩm cơm rượu, phải trải qua giai đoạn đường hóa, tức là giai đoạn
chuyển tinh bột thành đường. Có nhiều cách để thủy phân tinh bột như: dùng chế
phẩm enzyme thu nhận từ malt, dùng acid làm tác nhân thủy phân tinh bột sau đó
trung hòa bằng carbonate hoặc sử dụng nấm mốc làm nguồn giàu amylase để thủy
phân tinh bột (Nguyễn Đức Lượng, 2002). Nấm mốc có vai trò thủy phân dịch hồ tinh
bột thành đường (Lương Đức Phẩm, 1982). Nhiều loài khác nhau thuộc Aspergilus,
Penicillium, Mucor và Rhizopus được tìm thấy trong bánh men cơm rượu cổ truyền,
trong đó có Mucor và Rhizopus phát triển nhiều hơn cả. Để cải tiến và nâng cao chất
lượng rượu ở nước ta thì yếu tố góp phần rất quan trọng là phân lập, tuyển chọn ra các
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 36 - 2013 Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành Công nghệ Sinh học 2 Viện NC & PT Công nghệ Sinh học
dòng nấm mốc có hoạt lực đường hóa cao để sản xuất ra những viên men chất lượng
cao phục vụ hữu ích cho công nghệ lên men.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Phân lập và tuyển chọn những dòng nấm mốc có khả năng đường hóa cao để làm
nguồn giống chủng sản xuất bột mốc.
phẩm vi sinh rất đặc biệt. Trong đó có sự tồn tại hài hòa nhiều vi sinh vật khác nhau,
tạo được thế cân bằng giữa các quá trình chuyển hóa.
Ở Việt Nam căn bản chỉ sử dụng 2 loại men dạng viên. Muốn làm cơm rượu
người ta sử dụng loại men gọi là men ngọt. Còn muốn nấu rượu đế (rượu trắng) thì
người ta dùng loại men gọi là men đắng.
2.1.1. Phân loại bánh men rượu
Hiện nay có nhiều loại bánh men được sản xuất hoàn toàn thủ công ở nước ta.
Mỗi địa phương mỗi dân tộc có phương pháp sản xuất riêng. Để sản xuất bánh men
người ta dùng các vị thuốc từ các loại thảo mộc khác nhau trộn chung với bột gạo và
bánh men giống để làm.
Tùy vào từng địa phương, việc sử dụng các vị thuốc là rất khác nhau. Tạm có
thể chia thành 3 loại:
 Bánh men rượu không có thuốc Bắc (bánh men thường).
 Bánh men rượu có thuốc Bắc.
 Bánh men rượu có lá rừng chứa tinh dầu (bánh men lá).
Bánh men không có thuốc Bắc (còn gọi là bánh men thường):
Thành phần chính của bánh men thường là gạo và giống vi sinh vật (men
giống).
Ở bánh men không có thuốc Bắc người ta cho thêm một ít kháng sinh để ức chế
sự phát triển của một số vi sinh vật (gọi là bánh men rượu thuốc Tây để phân biệt với
bánh men rượu thuốc Bắc).
Bánh men thuốc Bắc:
Thành phần chính: Bột gạo, giống vi sinh vật, vị thuốc Bắc.
Việc cho thuốc Bắc vào được cho rằng có tác dụng kích thích sinh trưởng của
vi sinh vật trong bánh men, có khả năng xác trùng. Ngoài ra, nó còn có tác dụng tạo
hương vị đặc trưng cho sản phẩm lên men. Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 36 - 2013 Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành Công nghệ Sinh học 5 Viện NC & PT Công nghệ Sinh học

là vi khuẩn acid lactic như Lactobacillus, Streptococcus và vi khuẩn acid acetic như A.
aceti, A. suboxydans, vi khuẩn gây thối (Lee và Fujio, 1998).

Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 36 - 2013 Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành Công nghệ Sinh học 6 Viện NC & PT Công nghệ Sinh học
2.2. Giới thiệu chung về nấm mốc
Nấm mốc có cấu tạo hình sợi, có sinh bào tử, không có diệp lục tố, không có
khả năng tổng hợp chất hữu cơ mà sử dụng chất hữu cơ có sẵn để sinh sống. Nấm mốc
mọc tốt trong môi trường có nhiều không khí, vì vậy chúng thường phát triển trên bề
mặt cơ chất dưới dạng các nhóm hình sợi lún phún, lớp mạng nhện hay khối bông.
2.2.1. Đặc điểm chung của nấm mốc
Hình dạng, kích thước và cấu tạo
Nấm mốc có dạng hình sợi, có vách ngăn (đa bào) hay không có vách ngăn
(đơn bào). Sợi nấm thường là một ống hình trụ dài có kích thước lớn nhỏ khác nhau
tùy loài. Đường kính của sợi nấm thường từ 3 - 5μm, có khi đến 10μm, thậm chí đến
1mm. Chiều dài của sợi nấm có thể tới vài chục centimet. Các sợi nấm phát triển chiều
dài theo chiều tăng trưởng ở ngọn. Các sợi nấm có thể phân nhánh và các nhánh có thể
lại phân nhánh liên tiếp tạo thành hệ sợi nấm khí sinh như bông. Trên môi trường đặc
và một số cơ chất trong tự nhiên, bào tử nấm, tế bào nấm, hoặc một đoạn sợi nấm có
thể phát triển thành một hệ sợi nấm có hình dạng nhất định gọi là khuẩn lạc nấm.
Vách tế bào nấm cấu tạo bởi vi sợi chitin và có hoặc không có cellulose. Chitin
là thành phần chính của vách tế bào ở hầu hết các loài nấm trừ nhóm Omycetina,
những vi sợi chitin được hình thành nhờ vào enzyme chitin syntase.
Tế bào chất của tế bào nấm chứa mạng nội mạc, không bào, ty thể và hạt dự trữ
(glycogen và lipid), đặc biệt cấu trúc ty thể ở tế bào nấm tương tự như cấu trúc ty thể ở
tế bào thực vật. Ngoài ra, tế bào nấm còn có ribosome và những thể khác chưa rõ chức
năng.
Tế bào nấm không có diệp lục tố, một vài loài nấm có rải rác trong tế bào một
loại sắc tố đầu tiên ly trích được gọi là neocercosporin (C
29

C. Nói
chung nấm mốc có thể phát triển tốt ở môi trường acid (pH = 6,0) nhưng pH tối thích
là 5,0 - 6,5, một số loài phát triển tốt ở pH < 3 và một số ít phát triển ở pH > 9 (Cao
Ngọc Điệp, 2006).
Oxy cần cho sự phát triển của nấm mốc vì chúng là nhóm sinh vật hiếu khí bắt
buộc và sự phát triển sẽ ngưng khi không có oxy và dĩ nhiên nước là yếu tố cần thiết
cho sự phát triển. Nấm mốc có thể phát triển liên tục trong 400 năm hay hơn nếu điều
kiện môi trường thích hợp cho sự phát triển của chúng.
Nấm mốc không có diệp lục tố nên chúng cần được cũng cấp dinh dưỡng từ bên
ngoài (nhóm dị dưỡng), một số sống sót và phát triển nhờ khả năng kí sinh (sống kí
sinh trong cơ thể động vật hay thực vật) hay hoại sinh (saprophytes) trên xác bã hữu
cơ, cũng có nhóm nấm rễ hay địa y sống cộng sinh với nhóm thực vật nhất định.
Các giống nấm mốc đều thuộc loại nấm sợi, từ một tế bào hay một sợi nấm khi
gặp điều kiện thuận lợi sẽ phát triển thành một hệ sợi nấm hay khuẩn ty, thời gian để
các bào tử nảy mầm và tốc độ phát triển của khuẩn ty thay đổi tùy thuộc vào điều kiện
môi trường, cơ chất và loại nấm mốc. Trong cùng điều kiện môi trường số lượng bào
tử nấm mốc nảy mầm được tự điều chỉnh sao cho không quá nhiều bào tử nảy mầm
trong cùng thời gian (Nout, 1995).
Trong điều kiện hiếu khí nấm mốc phát triển mạnh về sinh khối và tăng nhiệt.
Trong điều kiện yếm khí, một số loài nấm mốc (Rhizopus oligosporus, Penicillium
Roqueforti, ) cũng có khả năng biến dưỡng tạo năng lượng qua quá trình lên men, quá
trình này cho năng lượng thấp hơn một số sản phẩm lên men như: etanol, acid lactic,
và nhiều CO
2
(De Reu et al., 1995).
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 36 - 2013 Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành Công nghệ Sinh học 8 Viện NC & PT Công nghệ Sinh học
Trong điều kiện môi trường không thuận lợi (đặc biệt nguồn nitơ bị hạn chế) sẽ
hình thành bào tử, từ một hệ khuẩn ty có thể hình thành khoảng vài chục triệu bào tử
(Bùi Xuân Đồng, 1999). Bào tử là dạng tiềm sinh giúp nấm mốc có thể sống sót trong

tùy loài.
Giống Geotrichum và Oospora có sợi nấm kéo thẳng, vuông hay chữ nhật và tế
bào vách dầy gọi là bào tử đốt.
Sinh sản hữu tính
Sinh sản hữu tính xảy ra khi có sự kết hợp giữa hai giao tử đực và cái có trải
qua giai đoạn giảm phân. Quá trình sinh sản hữu tính trải qua 3 giai đoạn:
Tiếp hợp tế bào chất với sự hòa hợp 2 tế bào trần của 2 giao tử.
Tiếp hợp nhân với sự hòa hợp 2 nhân của 2 tế bào giao tử để tạo một nhân nhị
bội.
Giảm phân giai đoạn này hình thành 4 bào tử đơn bội qua sự giảm phân từ 2n
NST (nhị bội) thành n NST (đơn bội).
Theo Holzapel (1997), tất cả các giai đoạn trên kể cả giai đoạn tạo cơ quan sinh
dục được điều khiển bởi một số kích thích tố sinh dục.
Cơ quan sinh dục của nấm mốc có tên là túi giao tử có 2 loại: cơ quan sinh dục
đực gọi là túi đực chứa các giao tử đực còn cơ quan sinh dục cái gọi túi noãn chứa giao
tử cái hay noãn, khi có sự kết hợp giữa giao tử đực và noãn sẽ tạo thành bào tử, bào tử
di động được gọi là bào tử động.
Kiểu hai sợi nấm có giới tính đực và cái tiếp hợp nhau sinh ra bào tử có tên là
tiếp hợp tử, tiếp hợp tử là đặc trưng của nhóm nấm Myxomycetes. Bào tử sinh dục khi
hình thành có dạng túi gọi là nang và túi này chứa những bào tử gọi là bào tử nang.
Nang và bào tử nang là đặc trưng của nhóm Ascomycetes.
Trong nhóm Basidiomycetes, 4 bào tử phát triển ở phần tận cùng của cấu trúc
thể quả gọi là đảm và bào tử được gọi là bào tử đảm. Nhóm nấm bất toàn gồm những
nấm cho đến nay chưa biết rõ kiểu sinh sản hữu tính của chúng.
2.2.2. Vị trí vai trò của nấm mốc trong lên men rượu
Nấm mốc tác động đến đời sống con người một cách trực tiếp bằng cách làm hư
hỏng, giảm chất lượng lương thực, thực phẩm trước và sau thu hoạch, trong chế biến,
bảo quản. Nấm mốc còn gậy hư hại vật dụng quần áo, hay gây bệnh cho con người
động vật và cây trồng. Tuy nhiên trong quá trình chế biến thực phẩm có liên quan đến
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 36 - 2013 Trường Đại học Cần Thơ


Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 36 - 2013 Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành Công nghệ Sinh học 11 Viện NC & PT Công nghệ Sinh học
Mucor:
Mucor: M. rouxii, M. indicus, M. circinelloides,… sợi nấm màu trắng phân nhánh
nhiều nhưng không có vách ngăn ngang, chứa nhiều nhân. Khi trưởng thành sợi nấm
(sợi nằm ngang trong hoặc trên giá thể) mọc lên một sợi đứng mang trên đầu cơ quan
sinh sản gọi là bào tử phòng bên trong chứa các bào tử không roi. Bào tử này khi được
phóng thích ra ngoài gặp điều khiện thuận lợi sẽ nảy mầm thành sợi mốc mới.
Mốc Mucor có khuẩn ty đơn bào, phân nhánh mạnh, sinh bào tử nang. Mucor phát
triển ở các hạt, thức ăn gia súc, thực phẩm,… bị ẩm, tạo thành lớp lông tơ màu xanh.
Một số loài Mucor có khả năng lên men rượu và oxi hóa. Chúng được dùng trong sản
xuất acid hữu cơ, rượu và chế phẩm enzyme (Lương Đức Phẩm, 1998). Chi Mucor là
tiêu biểu của họ Mucoraceae (bộ Mucorales), đặc trưng bởi hệ sợi nấm không có các
đoạn sợi nấm bò và rễ giả, các nang bào tử kín với cuống nang phân nhánh hoặc không
phân nhánh, đơn độc hay thành cụm, mọc từ các sợi nấm. Các đặc điểm hình thái (hình
dạng, kích thước, màu sắc,…) của khuẩn lạc, nang bào tử kín và các bộ phận của nang,
bào tử kín và bào tử tiếp hợp (nếu có) đặc trưng cho mỗi loài của chi.
Nhiều loài của chi Mucor phân bố rộng rãi trong đất, không khí gây mốc các sản
phẩm công nông nghiệp. Một số loài có hoạt tính biến đổi sinh học các hợp chất
steroid. Các loài M. racemosus, M. tonkinensis được dùng để lên men rượu, thủy phân
tinh bột (Bùi Xuân Đông, 2004).

Hình 3. Nấm mốc Mucor
(Nguồn:http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/c/c5/Mature_sporangium_of_a_Mucor_sp._fu
ngus.jpg, ngày 01/08/2013)

Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 36 - 2013 Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành Công nghệ Sinh học 12 Viện NC & PT Công nghệ Sinh học
Rhizopus:

Phẩm, 1998).
Chi Aspergillus đặc trưng bởi những đặc điểm sau:
Hệ sợi nấm gồm các sợi ngăn vách, phân nhánh, không màu, màu nhạt hoặc
trong một số trường hợp trở thành nâu hay màu đậm khác ở các vùng nhất định của
khuẩn lạc. Bộ máy mang bào tử trần phát triển từ một tế bào có đường kính lớn hơn,
màng dầy hơn các đoạn lân cận của sợi nấm (tế bào chân). Giá bào tử trần phát triển từ
tế bào chân, như là một nhánh của sợi nấm, gần thẳng góc với trục của tế bào chân và
thường ở trên mặt cơ chất.
Giá bào tử trần không có nhánh, không có hoặc rất ít vách ngang, có phần đỉnh
to ra thành bọng hình chùy, hình elip, hình bán cầu hay hình cầu. Bọng hữu thụ này
mang các thể bình.
Thể bình có một tầng hay hai tầng. Trong trường hợp sau, mỗi thể bình cấp 1
mang một cụm 2 - 3 (hoặc nhiều hơn) thể bình cấp 2 ở phần đỉnh. Các bào tử trần
được tạo thành nối tiếp nhau trong miệng thể bình, thành chuỗi hướng gốc (bào tử ở
ngay miệng thể bình là những bào tử non nhất, càng xa miệng thể bình càng già),
không phân nhánh.
Bào tử trần không ngăn vách, thay đổi về hình dạng, kích thước, màu sắc, dấu
vết ở mặt ngoài (nhẵn, có gai, có nốt sần) tùy từng loại. Khối bào tử trần đỉnh bọng có
thể có các dạng hình cột (các chuỗi bào tử trần song song, sát nhau), hình cầu hoặc
hình tia tỏa tròn (Bùi Xuân Đông, 2004).

Hình 5. Nấm mốc Aspergillus
(Nguồn:http://en.wikipedia.org/wiki/File:Aspergillus_niger_01.jpg,ngày 01/08/2013)
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 36 - 2013 Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành Công nghệ Sinh học 14 Viện NC & PT Công nghệ Sinh học
Penicillium:
Khuẩn ty có vách ngăn và phân nhánh. Một đầu sợi lại chia thành các nhánh và
từ các nhánh này mới mọc ra các cuống đính bào tử. Toàn bộ nhánh sinh đính bào tử
có hình dáng giống cái chổi. Bào tử đính có hình cầu và khi chín có màu xanh hoặc
trắng, nhưng các mốc Penicillium thường gặp có màu xanh và người ta cũng thường


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status