BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
VIỆN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ SINH HỌC
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGÀNH CÔNG NGHỆ SINH HỌC
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG THAY THẾ
CHẤT DINH DƢỠNG BỔ SUNG
HÓA HỌC BẰNG CHẤT HỮU CƠ
ĐỂ TRỒNG NẤM BÀO NGƢ XÁM NHẬT
(Pleurotus sajor–caju)
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN SINH VIÊN THỰC HIỆN
TS. BÙI THỊ MINH DIỆU NGÔ ĐĂNG KHOA
ThS. TRẦN VĂN NGOAN MSSV: 3102820
LỚP: CNSH K36
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN SINH VIÊN THỰC HIỆN
TS. BÙI THỊ MINH DIỆU NGÔ ĐĂNG KHOA
ThS. TRẦN VĂN NGOAN MSSV: 3102820
LỚP: CNSH K36
Cần Thơ, Tháng 11/2013 PHẦN KÝ DUYỆT
CÁN BỘ HƢỚNG DẪN SINH VIÊN THỰC HIỆN
TS. Bùi Thị Minh Diệu Ngô Đăng Khoa
Ths. Trần Văn Ngoan
DUYỆT CỦA HỘI ĐỒNG BẢO VỆ LUẬN VĂN
Cần Thơ, ngày tháng năm 2013 Ngô Đăng Khoa
Luận văn tốt nghiệp Đại Học khóa 36 - 2013 Trường ĐHCT
Chuyên ngành Công nghệ Sinh học i Viện NC & PT Công nghệ Sinh học
TÓM LƢỢC
Đề tài “Nghiên cứu khả năng thay thế chất dinh dưỡng bổ sung hóa học bằng
chất hữu cơ để trồng nấm Bào Ngư Xám Nhật (Pleurotus sajor-caju)” được tiến hành
nhằm mục đích tận dụng nguồn dinh dưỡng bổ sung phù hợp từ phụ phẩm nông - lâm -
công nghiệp để trồng nấm. Cơ chất được sử dụng là mạt cưa cao su và nguồn dinh
dưỡng bổ sung là cám gạo, bột bắp, bã bia, bã đậu nành và DAP. Kết quả thí nghiệm
cho thấy tơ nấm phát triển tốt (tơ dày, nhiều bào tử) và thời gian tăng trưởng nhanh
nhất trên cơ chất mạt cưa cao su có bổ sung 3% bã bia (38 - 43 ngày). Tuy nhiên,
nghiệm thức cho năng suất, đạt hiệu quả kinh tế và chất lượng của quả thể nấm cao
được lựa chọn là: nghiệm thức có bổ sung 1% bã đậu nành và 1% bã bia cho tơ nấm
phát triển tốt (38 - 48 ngày), quả thể nấm thu hoạch sớm (52 - 64 ngày), năng suất
cao (trung bình 3 đợt là 305,89g) hiệu suất sinh học đạt 25,49% và chất lượng quả thể
nấm tốt (hàm lượng ẩm: 91,80%, hàm lượng protein tổng/trọng lượng khô: 26,86%,
hàm lượng tro/trọng lượng khô: 7,61%).
Từ khóa: Cám gạo, bột bắp, bã bia, bã đậu nành, DAP, mạt cưa, Nấm bào ngư
xám Nhật, Pleurotus sajor-caju.
Luận văn tốt nghiệp Đại Học khóa 36 - 2013 Trường ĐHCT
Chuyên ngành Công nghệ Sinh học ii Viện NC & PT Công nghệ Sinh học
MỤC LỤC
Trang
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục tiêu đề tài 2
3.1. Phƣơng tiện nghiên cứu 22
3.1.1. Địa điểm - Thời gian nghiên cứu 22
3.1.2. Vật liệu ngiên cứu 22
a. Vật liệu 22
b. Thiết bị - dụng cụ 23
c. Hóa chất 23
3.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 23
3.2.1. Khảo sát ảnh hưởng của chất dinh dưỡng hữu cơ bổ sung đến sự phát triển
và chất lượng của nấm 23
a. Chuẩn bị giống cấp 1 24
b. Chuẩn bị giống cấp 2 25
c. Sản xuất bịch phôi 25
d. Kỹ thuật trồng và chăm sóc nấm 26
e. Nhận biết bịch phôi nhiễm nấm lúc trồng 26
f. Thu hoạch nấm 27
g. Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp đánh giá 27
3.2.2. Phương pháp xử lý số liệu 28
4.1. Ảnh hƣởng của chất dinh dƣỡng bổ sung đến sự phát triển của tơ nấm bào
ngƣ xám Nhật. 29
4.1.1. Độ lan tơ của nấm sau khi cấy 29
4.1.2. Tơ lan kín khối cơ chất theo thời gian 30
4.2. Ảnh hƣởng của chất dinh dƣỡng bổ sung đến thời gian thu hoạch quả thể. . 31
4.3. Ảnh hƣởng của chất dinh dƣỡng bổ sung đến năng suất nấm 32
4.4. Ảnh hƣởng của chất dinh dƣỡng bổ sung đến hiệu suất sinh học 33
4.5. Ảnh hƣởng của chất dinh dƣỡng bổ sung đến hiệu quả kinh tế 34
CHƢƠNG 3. PHƢƠNG TIỆN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
CHƢƠNG 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 29
Luận văn tốt nghiệp Đại Học khóa 36 - 2013 Trường ĐHCT
Chuyên ngành Công nghệ Sinh học iv Viện NC & PT Công nghệ Sinh học
4.6. Ảnh hƣởng của chất dinh dƣỡng bổ sung đến thành phần dinh dƣỡng của
Bảng 9. Thành phần tro của bã bia 15
Bảng 10. Thành phần cellulose, hemicelluloses và lignin trong một số thực vật 17
Bảng 11. Thành phần hoá học trong mạt cưa cao su 17
Bảng 12. Bảng bố trí thành phần dinh dưỡng bổ sung vào cơ chất mạt cưa cao su 23
Bảng 13. Chiều dài tơ lan của nấm bào ngư xám ở các giai đoạn khảo sát (kể từ ngày
cấy phôi) 29
Bảng 14. Tỷ lệ số bịch phôi có tơ nấm phát triến lan khắp khối cơ chất theo thời gian
(đơn vị tính: %) 30
Bảng 15. Tỷ lệ số bịch phôi bắt đầu thu hoạch theo thời gian (đơn vị tính: %) 31
Bảng 16. Hiệu suất sinh học 33
Bảng 17. Lợi nhuận/1000 bịch phôi thu được sau khi thu hoạch quả thể nấm ở các
nghiệm thức qua 3 đợt 34
Bảng 24. Kết quả thống kê ảnh hưởng của các thành phần dinh duỡng bổ sung đến
chiều dài lan tơ 14 ngày sau khi cấy (Phụ lục 4)
Bảng 25. Kết quả thống kê ảnh hưởng của các thành phần dinh dưỡng bổ sung đến
chiều dài lan tơ 21 ngày sau khi cấy (Phụ lục 4)
Bảng 26. Kết quả thống kê ảnh hưởng của các thành phần dinh dưỡng bổ sung đến
năng suất nấm tổng 3 đợt (Phụ lục 4)
Luận văn tốt nghiệp Đại Học khóa 36 - 2013 Trường ĐHCT
Chuyên ngành Công nghệ Sinh học vi Viện NC & PT Công nghệ Sinh học
Bảng 27. Kết quả thống kê ảnh hưởng của các thành phần dinh dưỡng bổ sung đến
hiệu suất sinh học (Phụ lục 4)
Bảng 28. Kết quả thống kê ảnh hưởng của các thành phần dinh dưỡng bổ sung đến
hàm lượng ẩm (Phụ lục 4)
Bảng 29. Kết quả thống kê ảnh hưởng của các thành phần dinh dưỡng bổ sung đến
hàm lượng protein tổng số (Phụ lục 4)
Bảng 30. Kết quả thống kê ảnh hưởng của các thành phần dinh dưỡng bổ sung đến
hàm lượng tro tổng số (Phụ lục 4)
Luận văn tốt nghiệp Đại Học khóa 36 - 2013 Trường ĐHCT
TỪ VIẾT TẮT
B.E : Biological efficiency
DAP : Di-amoni-photphate
DNTN : Doanh nghiệp Tư Nhân
ĐC : Đối chứng
NT : Nghiệm thức
Tp : Thành phố
VCK : Vật chất khô Luận văn tốt nghiệp Đại Học khóa 36 - 2013 Trường ĐHCT
Chuyên ngành Công nghệ Sinh học 1 Viện NC & PT Công nghệ Sinh học
CHƢƠNG 1. GIỚI THIỆU
1.1. Đặt vấn đề
Từ xa xưa, nấm đã được truyền tụng như là một đặc sản quí, là quà tặng của
thượng đế và món ăn cao cấp dành cho vua chúa. Ngày nay giá trị của loại sản phẩm
này càng tăng lên nhờ chứng minh của khoa học về dinh dưỡng và khả năng điều trị
bệnh của chúng.
Hầu hết các loại nấm ăn và đặc biệt là nấm bào ngư có khả năng sử dụng các hợp
chất hữu cơ giàu carborhydrate để sinh trưởng và phát triển. Do đặc điểm trên nên cơ
chất sử dụng để trồng nấm rất phong phú và đa dạng như rơm rạ, bã mía, mạt cưa, xơ
dừa, lõi bắp, lá chuối,… Hiện nay, mỗi năm trên toàn thế giới tạo ra hàng triệu tấn phụ
phế phẩm từ nông nghiệp và lâm nghiệp riêng ở Việt Nam có khoảng 47 triệu tấn được
thải ra mỗi năm (Việt Báo, 2008 _trích bởi Châu Thị Chấp Ngãnh, 2010). Các phụ phế
phẩm được thải ra mà không qua xử lý là nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường
và ảnh hưởng đến sức khỏe của con người. Có nhiều giải pháp để giải quyết các phụ
phế phẩm trên như sử dụng làm phân bón sinh học, nhiên liệu sinh học, chế biến thức
ăn chăn nuôi, …; trong đó giải pháp sử dụng nguồn carbon hữu cơ này để trồng nấm
ăn là một giải pháp khả thi và mang lại hiệu quả kinh tế cao, tạo thêm việc làm cho
người lao động. Đồng thời nguyên liệu sau khi trồng nấm sẽ được sử dụng làm phân
chitin, có hoặc không có cellulose và một số hợp chất hữu cơ phức tạp khác. Nấm có
thể cấu tạo từ một tế bào (nấm men – yeast) hoặc nhiều tế bào (nấm mốc – mould)
(Sharma, 1998).
Tế bào sinh dưỡng của nấm về cơ bản có cấu tạo giống với các sinh vật chân
hạch khác, bao gồm vỏ tế bào, màng tế bào chất, nhân và hạch nhân, ribosome, ty thể,
mạng lưới nội chất, thể Golgi, không bào, thể biên, vi quản, thể chitin (Nguyễn Lân
Dũng, 2008). Tuy nhiên nấm vẫn có những đặc trưng riêng:
a. Cơ thể nấm là một tản (thallus), nghĩa là cơ thể có bộ máy dinh dưỡng chưa phân
hóa thành những bào quan chuyên biệt.
b. Mỗi tế bào trong một sợi nấm chưa có hoạt động trao đổi chất độc lập vì chưa có
những giới hạn rõ rệt. Tế bào sinh dưỡng có thể có một nhân hoặc nhiều nhân.
c. Nấm có những đặc điểm riêng về mặt hóa học tế bào. Nhìn chung, thành tế bào
của nấm chủ yếu có một hoặc hai các chất sau: chitin, glucan, manan và
polygalactozamin. Phần lớn không chứa cellulose trong thành tế bào.
d. Tế bào nấm không có chất diệp lục nên không thể quang hợp tự dưỡng như ở
thực vật mà chỉ có thể sống hoại sinh, ký sinh hoặc cộng sinh. Nấm không dự trữ
chất dinh dưỡng ở dạng tinh bột như thực vật mà là dạng glycogen như ở động
vật.
e. Nấm có thể sinh sản vô tính hoặc hữu tính: sinh sản vô tính bằng cách nảy chồi,
phân đôi, phát triển từ một phần thể quả hoặc nảy mầm từ bào tử vô tính. Để sinh
sản hữu tính, nấm tạo bào tử hữu tính bằng cách hòa hai nhân đơn bội (n) vào
nhau tạo thành hợp tử nhị bội (2n). Hợp tử này giảm phân tạo ra bốn tế bào đơn
bội (n). Mỗi tế bào đơn bội sau quá trình giảm nhiễm phát triển thành một bào tử
hữu tính.
f. Nấm không có chu trình phát triển chung. Chu trình sống của nấm đảm bắt đầu
từ đảm bào tử hữu tính nảy mầm cho hệ sợi khuẩn ty sơ cấp gồm những tế bào
đơn nhân, khuẩn ty thứ cấp là những tế bào nhân kép và phát triển bởi sự hợp
Luận văn tốt nghiệp Đại Học khóa 36 - 2013 Trường ĐHCT
Chuyên ngành Công nghệ Sinh học 4 Viện NC & PT Công nghệ Sinh học
nhân của 2 tế bào đơn nhân, kết thúc chu trình là sự hình thành cơ quan sinh sản
Luận văn tốt nghiệp Đại Học khóa 36 - 2013 Trường ĐHCT
Chuyên ngành Công nghệ Sinh học 5 Viện NC & PT Công nghệ Sinh học
ghi nhận là giàu K, Na, Ca, P, Mg. Chúng chiếm từ 56 - 70% lượng tro tổng cộng,
trong đó P và Fe thường hiện diện ở phiến và mũ nấm. Ở quả thể trưởng thành thì
lượng Na và P giảm, trong khi K, Ca và Mg giữ nguyên. Ăn nấm bảo đảm bổ sung đầy
đủ cho nhu cầu về khoáng mỗi ngày.
Bảng 1. Thành phần phân tích của một số loài nấm trồng phổ biến.
Loài nấm ăn
Lƣợng chứa (g/100g chất khô)
Nƣớc
Protein
Lipid
Dẫn xuất
không đạm
Chất xơ
Cất
khoáng
Agaricus bisporus
90,55
47,42
3,30
31,49
9,38
8,41
Volvariella vol vacea
-
33,77
3,52
30,51
18,40
thích hợp cho người bị bệnh thận.
2.1.2. Tổng quan về nấm bào ngƣ
Nấm bào ngư là tên dùng chung cho các loài thuộc giống Pleurotus (tên khoa
học: Pleurotus spp.). Theo Singer (1975) có tất cả 39 loài và chia làm 4 nhóm. Trong
đó, có hai nhóm lớn:
- Nhóm ra quả thể ở 10 – 20
o
C.
- Nhóm ra quả thể ở 20 – 30
o
C. Đây là nhóm có nhiều loài được nuôi trồng nhất
ở Pháp, có 7 loài (P.cornucopiae, P.ostreatus, P.sapidus, P.florida, P.du
Québec, P.columbinus, P.pulmonarius).
Theo Lê Duy Thắng (2006) thì ở các nước Châu Á còn thấy có loài P.flabellatus
(Indonesia, Ấn Độ, Philippines), P.sajor-caju (Ấn Độ, Thái Lan và Úc), P.abalonus
(Đài Loan và Thái Lan), ngoài ra còn P.fossulatus, P.corticatus, P.eryngii,
Ở Việt Nam, nấm bào ngư trước đây mọc chủ yếu hoang dại và có nhiều tên gọi:
Luận văn tốt nghiệp Đại Học khóa 36 - 2013 Trường ĐHCT
Chuyên ngành Công nghệ Sinh học 6 Viện NC & PT Công nghệ Sinh học
nấm bào ngư (abalone), nấm dai (miền Nam), nấm sò (oyster), nấm hương trắng hay
chân ngắn (miền Bắc). Việc nuôi trồng loài nấm này bắt đầu khoảng 20 năm trở lại
đây với nhiều chủng loại: P.florida, P.ostreatus, P.pulmonarinus, P.sajor-caju,…
Hình thái quả thể của nấm bào ngư là tai nấm dạng phễu lệch, phiến mang bào tử
kéo dài xuống đến chân, cuống nấm gần gốc có lớp lông nhỏ mịn. Tai nấm bào ngư
còn non có màu sắc sậm hoặc tối, nhưng khi trưởng thành màu trở nên sáng hơn.
Chu trình sống của nấm bào ngư cũng như các loài nấm đảm khác, bắt đầu từ
đảm bào tử hữu tính, nảy mầm cho hệ sợi tơ dinh dưỡng (sơ và thứ cấp), kết thúc là sự
hình thành cơ quan sinh sản là quả thể (tai nấm). Tai nấm sinh ra các đảm bào tử và
chu trình lại tiếp tục (Hình 1).
Từ giai đoạn phễu sang bán cầu lệch có sự thay đổi về chất (giá trị dinh dưỡng
tăng), còn từ giai đoạn bán cầu lệch sang dạng lá có sự nhảy vọt về khối lượng (trọng
lượng tăng). Vì vậy thu hái nấm bào ngư nên chọn lúc tai nấm vừa chuyển sang dạng
lá.
Nấm bào ngư thuộc loại phá gỗ, sống chủ yếu hoại sinh, mặc dù một số loài có
đời sống ký sinh, như P.ostreatus, P.eryngii (Kreiself, 1961). Trong giai đoạn phát
triển của nấm bào ngư tiết ra hệ enzyme ngoại bào như cellulase, hemicellulase,
laccase, xylase,… và nhất là trong giai đoạn tạo quả thể nấm tiết ra rất nhiều laccase
nên sử dụng lignin mạnh, do đó cơ chất sử dụng trồng nấm bào ngư rất phong phú có
thể là bã mía, mạt cưa, mụn dừa, trấu, rơm rạ, cùi bắp, …
Về thành phần dinh dưỡng nấm bào ngư có nhiều đường (carbohydrate) hơn cả
Luận văn tốt nghiệp Đại Học khóa 36 - 2013 Trường ĐHCT
Chuyên ngành Công nghệ Sinh học 8 Viện NC & PT Công nghệ Sinh học
nấm rơm, nấm mỡ, nấm đông cô (như P.ostreatus). Đạm và khoáng không thua gì các
loài nấm kể trên. Xét về năng lượng, nấm bào ngư cung cấp năng lượng ở mức tối
thiểu, thấp hơn đông cô, tương đương với nấm rơm, nấm mỡ, rất thích hợp cho những
người ăn kiêng.
Ngoài ra, còn phát hiện ở nấm bào ngư có chất kháng sinh là Pleurotin, ức chế
hoạt động của vi khuẩn Gram dương (Robins et al., 1947_trích bởi Lê Duy Thắng,
2006). Lê Duy Thắng trình bày kết quả nghiên cứu của Yoshika và các cộng sự năm
1975, tìm thấy hai polysaccharid có hoạt tính kháng ung bướu, cả 2 đều có nguồn gốc
là glucose. Trong đó chất được biết nhiều nhất, bao gồm 69% beta (1 - 3) glucan, 13%
galactose, 6% mannose, 13% uronic acid. Ngoài ra, nấm chứa nhiều acid folic rất cần
cho những người bị thiếu máu.
Bảng 2. Hàm lƣợng dinh dƣỡng trong hai loại nấm bào ngƣ phổ biến.
Vitamin (mg/100g nấm khô)
Pleurotus sajor-caju
Pleurotus florida
Vitamin C
111
Luận văn tốt nghiệp Đại Học khóa 36 - 2013 Trường ĐHCT
Chuyên ngành Công nghệ Sinh học 9 Viện NC & PT Công nghệ Sinh học
2002). Lúc đầu được nuôi trồng ở Ấn Độ, sau nhập vào Trung Quốc, Việt Nam, Ở
nước ta nấm được trồng phổ biến ở miền Nam, nhất là ở Thành phố Hồ Chí Minh và
các tỉnh miền Đông, miền Tây Nam Bộ.
Hình 3. Nấm Bào Ngƣ Xám Nhật (P. Sajor-caju)
(* Nguồn: ngày
30/7//2013)
2.2. Các nhân tố ảnh hƣởng đến quá trình trồng nấm bào ngƣ
Theo Lê Duy Thắng (2006) ngoài yếu tố dinh dưỡng từ các chất có trong nguyên
liệu trồng nấm bào ngư thì sự tăng trưởng và phát triển của nấm có liên quan đến nhiều
yếu tố khác nhau như nhiệt độ, ẩm độ, pH, ánh sáng, oxy, …
- Nhiệt độ: nấm bào ngư phát triển ở nhiệt độ tương đối rộng. Ở giai đoạn ủ tơ, một
số loài cần nhiệt độ từ 20 – 30
o
C, một số loài khác cần từ 27 – 32
o
C, thậm chí
35
o
C như loài P.tuber-regium. Nhiệt độ thích hợp để nấm ra quả thể ở một số loài
Nhiệt độ tối ƣu
(
o
C)
Phân hóa
Phát triển
Pleurotus ostreatus
10-35
24-27
7-22
13-17
Pleurotus sajor-caju
10-35
23-28
-
20-30
Pleurotus abalorus
20-35
25-28
-
26-28
(*Nguồn: Nguyễn Lân Dũng, 2001)
- Độ ẩm: độ ẩm rất quan trọng đối với sự phát triển tơ và quả thể của nấm. Trong
giai đoạn tăng trưởng tơ, độ ẩm nguyên liệu yêu cầu từ 50 - 60%, độ ẩm không
khí không được nhỏ hơn 70%. Ở giai đoạn tưới đón nấm ra quả thể, độ ẩm không
khí tốt nhất là 70 - 95%. Ở độ ẩm không khí 50%, nấm ngừng phát triển và chết,
nếu nấm ở dạng phễu lệch và dạng lá thì sẽ bị khô mặt và cháy vàng bìa mũ nấm.
Nhưng nếu độ ẩm cao trên 95% tai nấm dễ bị nhũn và rũ xuống.
Bảng 4. Sự thay đổi độ ẩm của một số loại nấm bào ngƣ
Loài nấm bào ngƣ
nấm ít, cuống nấm dài, tán trắng, hình dạng không bình thường (Trần Văn Mão,
2004).
- Thông thoáng: nấm cần có oxy để phát triển vì vậy nhà trồng cần có độ thông
thoáng vừa phải, nhưng phải tránh gió lùa trực tiếp. Giai đoạn sinh trưởng sợi
Luận văn tốt nghiệp Đại Học khóa 36 - 2013 Trường ĐHCT
Chuyên ngành Công nghệ Sinh học 11 Viện NC & PT Công nghệ Sinh học
nấm có thể chịu được CO
2
chỉ cần không khí ở trại nuôi thay đổi là được. Khi
nồng độ CO
2
15 - 20% sợi nấm vẫn sinh trưởng tốt, nhưng lên đến 30% sinh
trưởng giảm mạnh. Giai đoạn mọc thể quả không chịu CO
2
, khi nồng độ CO
2
ở
trại nuôi khoảng 0,06% cuống nấm kéo dài, tán nấm nhỏ và xuất hiện hiện tượng
ra hoa cải suplơ (Trần Văn Mão, 2004).
- Thời vụ nuôi trồng: nhìn chung với khí hậu miền Nam nấm bào ngư có thể trồng
quanh năm, nhất là đối với nhóm ưa nhiệt (Pleurotus florida, P.sajor-caju) và
một số giống mới thích hợp gần đây. Đây là một nghề thích hợp cho bà con nông
dân trong mùa nước nổi.
- Nguyên liệu trồng: nấm bào ngư có thể trồng trên nhiều loại nguyên liệu như gỗ
khúc, mạt cưa, rơm rạ, bã mía, võ cây đậu, cùi bắp,… tỉ lệ C/N tốt nhất ở khoảng
20 - 30. Đối với nấm bào ngư xám P.sajor-caju thì tỉ lệ C/N tốt nhất là khoảng
20.
Tính nhạy cảm với môi trường: nấm bào ngư là một trong những loài nấm nhạy
cảm với môi trường nhất. Ngoài yếu tố nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng, pH, nồng độ CO
2
khi phát sinh bệnh, nhất là mốc phải ngưng ngay. Tuy nhiên, quan trọng vẫn là khâu
chế biến và ủ nguyên liệu. Nguyên liệu chuẩn bị tốt năng suất sẽ cao. (Lê Duy Thắng,
2006)
2.3.3. Thành phần dinh dƣỡng của một số phụ gia
a. Cám gạo
Cám gạo thường có dạng bột, mềm và mịn chiếm khoảng 10 - 12% khối lượng
lúa chưa xay xát. Cám được hình thành từ lớp vỏ nội nhũ, mầm phôi của hạt, những
hạt gạo bị gãy vỡ, cũng như một phần từ tấm. Cám gạo lau thì không có chứa những
hạt gạo gãy vỡ và hàm lượng tấm chiếm tỷ lệ cao. Thành phần của cám gạo có nhiều
loại vitamin, chất béo và nhiều xơ dễ tiêu. Cám rất nhanh bị ôi chỉ vài giờ sau khi chế
biến, nguyên nhân là do cám có một số enzymes (chất men) nội tại hoạt động rất mạnh
sẽ oxy hóa các nhóm béo chưa no. Thêm vào đó do công nghệ xay xát gạo chưa cao lại
ít được đầu tư theo hướng thu cám sạch nên cám thường lẫn rất nhiều loại tạp chất (vỏ
trấu, sạn đá,…). Vì lý do đó mà hầu hết lượng cám thu được thường được bà con nông
dân dùng nuôi các loại gia súc, gia cầm. Hàng năm trên thế giới có khoảng 40 - 45
triệu tấn cám được sản suất và 90% là nằm ở châu Á, nơi sản xuất lúa gạo lớn nhất thế
giới. (Viện Chăn nuôi Quốc gia, 2001)
Luận văn tốt nghiệp Đại Học khóa 36 - 2013 Trường ĐHCT
Chuyên ngành Công nghệ Sinh học 13 Viện NC & PT Công nghệ Sinh học
Bảng 5. Thành phần hóa học của một vài loại cám gạo
Thành phần hóa học
(% trọng lƣợng khô)
Cám gạo tẻ
xay xát loại 1
Cám gạo tẻ
xay xát loại 2
Cám gạo
lau
Cám gạo
9,30
Ca (%)
0,17
0,32
0,28
0,11
Phospho (%)
1,56
0,54
0,17
1,22
(*
Nguồn: Viện Chăn nuôi Quốc gia, 2001)
b. Bắp và sản phẩm từ bắp
Hiện nay có nhiều giống bắp đang được trồng ở nước ta, các giống này cho hạt
với màu sắc khác nhau như màu vàng, đỏ, trắng. Bắp chứa nhiều tinh bột và hàm
lượng xơ thấp, giá trị năng lượng trao đổi cao. Bên cạnh đó hàm lượng protein trong
bắp biến động lớn từ 80 - 120g/ kg phụ thuộc vào giống. Tỷ lệ chất béo trong hạt bắp
tương đối cao (4 - 6%) chủ yếu tập trung trong mầm bắp. Bột bắp khó bảo quản hơn
hạt vì chất béo dễ bị oxy hóa. (Viện Chăn nuôi Quốc gia, 2001)
Bảng 6. Thành phần hóa học của một số loại bắp và sản phẩm từ bắp
Thành phần hóa học (% trọng
lƣợng khô)
Hạt bắp
tẻ trắng
Hạt bắp
tẻ vàng
Hạt bắp
tẻ đỏ
2,70
3,05
3,00
2,20
33,50
Dẫn xuất không đạm (NFE) (%)
70,00
69,90
70,08
70,40
65,10
48,60
Khoáng (Ash) (%)
1,31
1,40
1,50
1,60
2,40
1,40
Ca (%)
0,14
0,22
0,09
0,22
0,06
0,10
Phospho (%)
0,30
0,30
0,15