TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGUYỄN VĂN ĐỂ ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH GÂY HẠI TRÊN ỔI, CA CAO
VÀ KHẢO SÁT TÍNH ƯA THÍCH CỦA BỌ XÍT MUỖI
HELOPELTIS THEIVORA WATERHOUSE
ĐỐI VỚI ỔI, MẬN VÀ CA CAO
TRONG ĐIỀU KIỆN NHÀ LƯỚI
Luận văn tốt nghiệp
Ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT
Lớp: BVTV K36 Cần Thơ, 2013
i
Luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Bảo Vệ Thực Vật với đề tài: “ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH GÂY HẠI TRÊN ỔI, CA
CAO VÀ KHẢO SÁT TÍNH ƢA THÍCH CỦA BỌ XÍT
MUỖI HELOPELTIS THEIVORA WATERHOUSE ĐỐI
VỚI ỔI, MẬN VÀ CA CAO TRONG ĐIỀU KIỆN NHÀ
LƢỚI”
Do sinh viên Nguyễn Văn Để thực hiện và đề nạp
Kính trình lên Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
- - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - Hội động chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành
Bảo Vệ Thực Vật với đề tài:
“ĐIỀU TRA HÌNH TÌNH GÂY HẠI TRÊN ỔI, CA
CAO VÀ KHẢO SÁT TÍNH ƢA THÍCH CỦA BỌ XÍT
MUỖI HELOPELTIS THEIVORA WATERHOUSE ĐỐI
VỚI ỔI, MẬN VÀ CA CAO TRONG ĐIỀU KIỆN NHÀ
LƢỚI”
Do sinh viên Nguyễn Văn Để thực hiện và bảo vệ trước Hội đồng
Ý kiến của Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp:
…………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
Luận văn tốt nghiệp được Hội đồng đánh giá ở mức: ………
DUYỆT KHOA Cần thơ, ngày….tháng… .năm 2013
Trƣởng Khoa Nông Nghiệp & SHƢD Chủ tịch Hội đồng
…………………………………………… …………………………………….
iv
TIỂU SỬ CÁ NHÂN
Họ và tên: Nguyễn Văn Để
Ngày, tháng, năm sinh: 04/03/1992
Dân tộc: Kinh
Họ và tên cha: Nguyễn Văn Út Em
Họ và tên mẹ: Phan Thị Nguyệt
Quê quán: số nhà 270, ấp Sơn Tân, xã Vọng Đông, huyện Thoại Sơn, Tỉnh An
Giang
Quá trình học tập:
Năm 1998 – 2003: cấp 1 tại trường Tiểu Học A Vọng Đông
Năm 2003 – 2007: cấp 2 tại trường THCS Vọng Đông
Năm 2007 – 2010: cấp 3 tại trường THPT Nguyễn Văn Thoại
Năm 2010 – 2014: sinh viên ngành Bảo Vệ Thực Vật khóa 36, Khoa Nông
Nghiệp & SHƯD, Trường Đại Học Cần Thơ.
TÓM LƢỢC
Đề tài: “Điều tra tình hình gây hại trên ổi, ca cao và khảo sát tính ưa thích của bọ
xít muỗi Helopeltis thivora Waterhouse đối với ổi, mận và ca cao trong điều kiện
nhà lưới” được thực hiện từ tháng 12 năm 2012 đến tháng 9 năm 2013 tại bộ môn
Bảo Vệ Thực Vật, khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại học Cần
Thơ, các khu vực trồng ca cao và ổi thuộc 2 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long.
Bọ xít muỗi (BXM) trên ca cao và ổi gây hại nặng nhất là vào mùa mưa. giai đoạn
cho trái trên cây ca cao và giai đoạn ra đọt non trên ổi có ảnh hưởng đến tỷ lệ gây
hại của BXM.
Nông dân phòng trị bọ xít muỗi bằng cách tỉa cành và phun thuốc là chủ yếu. Sự
gây hại của bọ xít muỗi trên ổi có chiều hướng giảm so với 2 năm trước đây.
Thành trùng BXM ưa thích chích hút trên đọt ổi và đọt mận hơn là trên đọt ca cao.
Nhưng chúng lại ưa thích đẻ trứng trên đọt ổi nhiều hơn trên đọt mận và đọt ca
cao.
Từ khóa: Bọ xít muỗi, ổi, sự gây hại, Helopeltis theivora.
vii
MỤC LỤC Trang
Tóm lược …………………………………… ………………………………vi
Mục lục …………………………………………………………………… vii
Danh sách chữ viết tắt ……………………………………………………… x
Danh sách bảng ……………………………………………….………………x
Danh sách hình …………………………………….…………………………xi
MỞ ĐẦU ………………………… …………………………………………… 1
Chƣơng 1: LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU ………………………………………… 2
1.1 Giới thiệu về cây ca cao ……………………………………………2
1.1.1 Nguồn gốc ………………………………… ………………… 2
2.1.2 Phân bón ……………………………………………………… 13
2.1.3 Vật liệu thí nghiệm …………………………………………… 13
2.2 Phương pháp …………………………………………………………13
2.2.1 Điều tra nông dân ……………………………………………… 13
2.2.2 Nguồn bọ xít muỗi ……………………………………………….14
2.2.2.1 Thu trực tiếp ngoài đồng …………………………………… 14
2.2.2.2 Nhân nuôi trong nhà lưới …………………………………….14
2.2.3 Nguồn cây thí nghiệm …………………… …………………….15
2.2.4 Khảo sát tính ưa thích của bọ xít muỗi đối với ổi, mận và ca .… 15
2.2.5 Xử lý số liệu …………………………………………………… 16
Chƣơng 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ………………………………………17
3.1 Kết quả điều tra nông dân ………………………………………… 17
3.1.1 Đặc điểm vườn canh tác của nông dân ………………………….17
3.1.1.1 Nông dân trồng ca cao ………………………………………18
3.1.1.2 Nông dân trồng ổi ………………………………………… 18
3.1.2Tình hình gây hại của bọ xít muỗi trên ca cao và ổi ở địa bàn điều
tra …………………………………………………………….19
3.1.2.1 Trên cây ca cao …………………………………………… 20
ix
3.1.2.2 Trên cây ổi ……………………… 20
3.1.3 Sự quan tâm và biện pháp phòng trị bọ xít muỗi của nông dân canh
tác ca cao và ổi 21
3.2 Khảo sát tính ưa thích của bọ xít muỗi đối với cây ổi, mận và ca cao.24
3.2.1 Sự chích hút của bọ xít muỗi 24
3.2.2 Sự sinh sản 26
Chƣơng 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 27
4.1 Kết luận 27
4.2 Đề nghị 27
TÀI LIỆU THAM THẢO 28
Trang
3.1
Tình hình canh tác ca cao tại huyện Chợ Gạo – Tiền Giang và ổi
tại huyện Phong Điền – TP. Cần thơ
19
3.2
Một số đặc điểm gây hại của bọ xít muỗi trên ổi tại huyện Phong
Điền và ca cao tại huyện Chợ Gạo
23
3.3
Đánh giá của nông dân trồng ca cao và ổi về BXM và biện pháp
phòng trừ tại huyện Phong Điền và huyện Chợ Gạo
24
3.4
3.5
Hiệu quả của biện pháp cắt tỉa và tình hình gây hại của BXM trên
cây ổi so với 2 năm trước đây tại huyện Phong Điền, TP. Cần Thơ
Số vết chích trên chậu của 3 loại cây (ký chủ) sau 3 ngày quan sát
trong lồng thí nghiệm, T
o
C = 28 - 29 và RH(%) =67 – 70
26
27
3.6
Bảng ước lượng tỷ lệ (%) cây bị gây hại trên chậu sau 3 và 10 ngày
làm thí nghiệm so với ban đầu
26
3.2
Vết chích của BXM chỉ xuất hiện trên thân non cây ca cao trong
điều kiện nhà lưới
29 1
MỞ ĐẦU
Bọ xít muỗi, Helopeltis theivora là một trong những loài côn trùng chích hút
đa ký chủ (Debnath and Rudprapal, 2011). Theo Kalita và ctv (2000), chúng có thể
gây hại đến 19 loài thực vật. Bọ xít muỗi xuất hiện và gây hại tại nhiều nơi như: Ấn
Độ, Indonesia và vùng Đông Dương (FAO, 2007). Thành trùng lẫn ấu trùng đều
chích đọt, lá, trái non để hút nhựa. Trên lá, đọt non xuất hiện những vết tròn màu
nâu, trên trái xuất hiện vết sần sùi dạng như ghẻ (Lâm Minh Đăng, 2012). Lá bị
biến dạng, co quắp lại và thậm chí đọt non bị chết khô (FAO, 2007).
Tại Việt Nam, loài H. theivora cũng xuất hiện trên nhiều loại cây khác nhau.
Đặc biệt, gây hại nặng trên cây trà tại miền Bắc và Lâm Đồng (Đỗ Ngọc Quỹ,
2003), trên cây ca cao (Nguyễn Thị Thuận, 2009) và điều tại vùng Đông Nam Bộ
(Peng và ctv, 2008). Riêng tại Đồng bằng Sông Cửu Long, chúng gây hại nặng trên
cây ổi và mận (Đào Thị Kim Ngân, 2012). Lúc không có cây ký chủ thì mật số rất
thấp, nhưng có cây ký chủ thì mật số tăng lên rất nhanh. Do đó, khảo sát về khả
năng ưa thích của chúng đối với một số cây trồng phổ biến ở Đồng bằng sông Cửu
Long (ĐBSCL), là điều kiện cần thiết để góp phần theo dõi mật số và áp dụng biện
pháp phòng trị kịp thời.
Từ đó, đề tài: “Điều tra tình hình gây hại trên ổi, ca cao và khảo sát tính
ƣa thích của bọ xít muỗi Helopeltis theivora Waterhouse đối với ổi, mận và ca
cao trong điều kiện nhà lƣới” nhằm đánh giá thực trạng gây hại của bọ xít muỗi,
xác định phổ cây ký chủ của chúng nhằm tìm cách làm giảm sự duy trì mật số của
chúng trong năm.
lễ. Sự phát triển lá liên quan đến tình trạng nước của cây. Ca cao trồng không che
bóng các đợt ra lá nhanh hơn là trồng trong điều kiện có bóng che ( Phạm Hồng
Đức Phước, 2009).
Lá trên thân chính hoặc cành vượt có cuống dài từ 7 – 9 cm và mọc theo hình
xoắn ốc. Lá trên cành ngang có cuống ngắn từ 2 – 3 cm, mọc đối cách trên cành và
3
chịu được cường độ ánh sáng cao hơn lá trên thân chính ( Phạm Hồng Đức Phước,
2009).
1.1.2.4 Hoa của ca cao
Hoa xuất hiện trên sẹo lá ở trên thân, cành. Đợt hoa đầu tiên trên cây trồng từ
hạt có thể nở vào khoảng 14 – 20 tháng sau khi trồng. Cây ghép hay giâm cành có
thể ra hoa sớm hơn từ 9 – 18 tháng sau khi trồng. Nhưng nơi có đủ nước, cây ra hoa
quanh năm nhưng vẫn có cao điểm ra hoa rộ vào mùa mưa. Hoa ca cao ra nhiều
nhưng tỷ lệ thụ phấn, đậu quả thấp chỉ từ 1 – 5 %. Phần lớn hoa nở mà không được
thụ phấn sẽ rụng sau 48 giờ (Phạm Hồng Đức Phước, 2009).
1.1.2.5 Trái ca cao
Sau khi thụ phấn trái tăng trưởng chậm trong khoảng 40 ngày đầu và đạt tốc
độ tối đa sau 75 ngày. Sau khi thụ phấn 85 ngày, sự tăng trưởng của trái chậm lại,
trong khi hạt bên trong trái bắt đầu tăng trưởng nhanh, đây cũng là thời kỳ hạt tích
lũy chất béo. Lớp cơm nhầy hình thành khoảng 140 ngày sau khi thụ phấn. Khi hạt
tăng trưởng tối đa, trái vào giai đoạn chín. Trái chín không nở bụng ra và ít khi bị
rụng khỏi cây. Trái có cuống hóa gỗ nên rất dai. Trái non có 5 ngăn trong đó hạt
được phân chia đều, khi trái chín vách ngăn này biến mất chỉ còn lại một hốc chứa
đầy hạt. Từ khi thụ phấn đến trái chín kéo dài từ 5 – 6 tháng tùy theo giống. Trái ca
cao rất đa dạng về hình dáng và màu sắc tùy theo giống (Phạm Hồng Đức Phước,
2009).
1.1.2.6 Hạt ca cao
Mỗi trái chứa từ 30 – 40 hạt. Mỗi hạt có lớp cơm nhầy bao quanh có vị chua,
ngọt, thơm và xếp thành 5 dây. Hạt có vỏ mỏng màu hồng, nhiều đường gân. Hạt rất
Platyngomiriodes, Pseudodoniella, Sahlbergella.
Theo Phạm Hồng Đức Phước (2009), các loài sâu hại chính trên cây ca cao
gồm: Bọ xít muỗi (Helopeltis spp.), rầy hoa (chưa định danh), sâu hồng (Zeuzera
sp.), bọ cánh cứng hại lá (Adoretus spp., Apogonia spp.), rầy mềm (T. auratii), rệp
sáp (Planococcus hispidus), sâu khoang (Spodoptera litura), sâu đo xám
(Hyposidra talaca), sâu đục vỏ trái (Cryptophlebia encarpa), sâu đục vỏ thân
(Endoclita hosei), sâu đục trái (Conopomorpha cramerella) và mối (chưa định
danh).
Theo Nguyễn Thị Thuận (2009), đã ghi nhận được 12 loài sâu hại chính trên
cây ca cao ở Trảng Bom – Đồng Nai và Thủ Đức – TP Hồ Chí Minh bao gồm các
loài: Bọ xít muỗi (Helopeltis theivora Wat.), rầy mềm đen (Toxoptera aurantii
B.de.F), rệp sáp (Plannococcus sp.), rầy bướm trắng ( Lawana sp.), ve sầu sừng
(chưa định danh), sâu đục thân mình hồng (Zeuzera coffeae Neitn.), sâu khoang
(Spodoptera litura Fab.), sâu kèn ( chưa định danh), sâu đục vỏ trái (Conogethes
punctiferalis Gunenée.), mọt đục cành cà phê (Xyleborus morstatii Hag.), bọ nâu
(Adoretus sp.), mối (chưa định danh).
1.3 GIỚI THIỆU VỀ CÂY ỔI
1.3.1 Nguồn gốc
Cây ổi thuộc họ sim (Myrtaceae) và chi Psidium, chi này gồm khoảng 150
loài là dạng cây bụi và cây gỗ, nguồn gốc ở vùng nhiệt đới châu Mỹ và bán nhiệt
đới, trong đó loài Psidium guajava L. là quan trọng nhất (Lim và Khoo, 1990 trích
dẫn bởi Viện Cây Ăn Quả Miền Nam, 2009).
5
1.3.2 Một số đặc điểm sinh học và hình thái
1.3.2.1 Đặc điểm sinh học
Về đặc điểm, cây ổi nhỏ hơn cây vải, cây nhãn, cây ổi có chiều từ 1,8 m đến
7,62 m, cao nhất có thể khoảng 10 m, đường kính thân tối đa 30 cm. Những giống
mới có thể nhỏ và lùn hơn. Thân cây chắc, khỏe, ngắn vì phân cành sớm. Thân
nhẵn, rất ít bị sâu đục thân, vỏ già có thể tróc ra từng mảng, phía dưới vỏ già lại có
theivora), sâu đục trái (C. Punctiferalis), ruồi đục trái (Bactrocera dorsalis), rệp sáp
(planococcus sp.).
6
1.5 BỌ XÍT MUỖI HELOPELTIS THEIVORA WATERHOUSE
1.5.1 Một số đặc điểm của họ Miridae
Họ Miridae là họ rất lớn trong bộ cách nữa cứng (Hemiptera) với khoảng
1750 loài đã được ghi nhận tại Bắc Mỹ. Bọ xít hiện diện rất phổ biến trên thực vật.
Đa số chúng thuộc nhóm gây hại trên thực vật, một số ít thuộc nhóm ăn mồi, có ích
cho nông nghiệp. Bọ xít có kích thước nhỏ dài (3 – 4 mm) và có nhiều màu sắc khác
nhau. Râu đầu có 4 đốt, vòi có 4 đốt, không có mắt đơn. Trên phần cứng của cánh
trước có sự hiện diện của phiến embolium và phiến cuneus. Phần màng có 1 – 2
buồng cánh, còn các mạch cánh khác đều tiêu biến (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2010).
Loài gây hại phổ biến: các loài bọ xít muỗi Helopeltis theivora W. và
Helopeltis antonii gây hại trên Chè, Ca cao, Điều… Loài có ích phổ biến như bọ xít
mù trên lúa Cyrtorhinus lividipennis (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2010).
1.5.2 Vị trí phân loại
- Phân loại:
+ Bộ: cánh nửa cứng (Hemiptera).
+ Họ: bọ xít (Miridae)
+ Giống: Helopestis
+ Loài: Theivora
- Tên khoa học: Helopestis theivora Waterhouse (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2010).
1.5.3 Phân bố và ký chủ
H. theivora là một trong những loài côn trùng chích hút đa ký chủ (Debnath
and Rudprapal, 2011). Ngoài cây trà (Camellia sinensis) và ca cao (Theobroma
cacao), H. theivora có thể chích hút trên 19 loài cây khác, mặc dù chúng chỉ đẻ
trứng trên 7 loại cây và hoàn thành dòng đời trên 5 loài cây gồm: cây dành dành
màu vàng cam hoặc xanh lá mạ khi mới lột xác. Ấu trùng dùng chân giữ thăng
bằng, cơ thể dựng ngược lên từ từ đẩy phần đầu lên ra khỏi lớp vỏ xác, cơ thể ấu
trùng mới được đẩy ra khỏi lớp vỏ xác cũ ((Đào Thị Kim Ngân, 2012).
Ấu trùng màu xanh lá cây, lợt lúc mới nở và đậm dần ở các tuổi sau. Hình
dạng ấu trùng cũng giống như thành trùng nhưng nhỏ hơn, kích thước từ 1,5 mm
khi mới nở cho đến khoảng 5 mm khi đủ lớn, không có cánh, rồi xuất hiện hai mầm
cánh ở phần ngực từ tuổi 4 trở đi (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011). Bọ xít
non đã có chùy trên lưng. Tuổi 1 cơ thể màu vàng, tuổi lớn chuyển dần sang màu
xanh ánh vàng. Kích thước trung bình từ tuổi 1 đến tuổi 5 lần lượt là 1,72 x 0,48
mm; 2,34 x 0,82 mm; 3,72 x 0,95 mm; 4,0 x 1,0 mm; 4,3 – 5,0 x 1,0 – 1,2 mm
(Nguyễn Đức Khiêm, 2005).
+ Ấu trùng tuổi 1 có màu vàng óng ánh đồng nhất, cơ thể phủ nhiều lông.
Phần đầu và ngực có màu nhạt hơn phần cuối bụng. Lúc mới nở phần đầu có màu
trắng trong suốt. Phần cuối bụng cong lên phía lưng và có màu vàng bóng. Mắt ấu
trùng tuổi 1 ban đầu có màu đỏ tươi sau đó đậm dần. Ấu trùng tuổi 1 chưa thấy xuất
hiện mầm cánh bên ngoài cơ thể (Đào Thị Kim Ngân, 2012).
+ Ấu trùng tuổi 2 có màu vàng cam và có một vết đỏ dài rất rõ trên lưng của
ấu trùng. Phía trên đỉnh đầu của ấu trùng có màu vàng nâu hơi tím ánh lên. Trên
8
lưng ngực có cái chùy nghiêng về phía sau, nhìn thẳng từ trên xuống thì núm chùy
có hình tròn. Nhìn nghiêng cái chùy giống như cái phiểu. Bộ phận chùy chưa xuất
hiện ở ấu trùng tuổi 1 nhưng trên chân và râu có nhiều sợi lông trông giống như gai.
Mầm cánh chưa xuất hiện ở giai đoạn tuổi 2. Phía cuối chóp đuôi bụng của ấu trùng
có màu vàng đậm hơn so với màu vàng toàn cơ thể (Đào Thị Kim Ngân, 2012).
+ Ấu trùng tuổi 3 đã xuất hiện mầm cánh. Chiều dài mầm cánh dao động từ
0,4 – 0,5 mm. Ấu trùng có hai màu là màu xanh lá cây và màu vàng cam. Bộ phận
chùy trên lưng ấu trùng tuổi 3 trông rất rõ, chùy có màu vàng nhạt và đậm dần lên
đỉnh. Hầu hết phần bụng của ấu trùng có màu trắng ánh xanh. Phía cuối đuôi bụng
của ấu trùng có màu vàng trong suốt. Phía đầu râu và chân của ấu trùng có màu
Bọ xít muỗi có sự thay đổi màu sắc trong đó thành trùng đưc có 3 màu sắc và
thành trùng cái có 6 màu sắc (Roy và ctv., 2009). Thành trùng cái có 4 màu sắc như
: Màu vàng, màu nâu đỏ, màu nâu vàng và màu nâu sáng. Trong đó tỷ lệ bọ xít
muỗi màu nâu vàng cao nhất và tỷ lệ bọ xít muỗi màu nâu đỏ với những đốm đen là
thấp nhất (Sarmah và Bandyopadhyay, 2009).
Theo Phạm Hồng Đức Phước (2003), thành trùng có màu vàng nâu hay xám
nhạt, mình mềm, dài khoảng 6 mm, có chân và râu đầu dài.
1.5.5 Đặc điểm sinh học
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2011), Thành trùng có thể sống 2 –
3 tuần và con cái bắt đầu đẻ trứng từ 3 – 6 ngày sau khi vũ hóa. Con cái có thể đẻ
hàng trăm trứng, với tỉ lệ nở rất cao, khoảng 90%. Trứng nở trong vòng 4 – 7 ngày,
ấu trùng như vậy trải qua 5 tuổi sau mỗi lần lớn lên và lột xác, với thời gian phát
triển từ độ 2 tuần lễ. Như vậy vòng đời từ trứng đến con cái để ra trứng của thế hệ
kế tiếp khoảng 3 tuần lễ. Bọ xít muỗi sau khi vũ hóa 2 – 6 ngày bắt đầu giao phối,
sau đó 1 – 3 ngày đẻ trứng. Đẻ trứng vào mô ở phần non ngọn chè và vào gân chính
lá chè non. Một bọ xít cái đẻ 12 – 74 quả trứng. Bọ xít có tập tính tự rơi. Thời gian
phát dục trung bình ở nhiệt độ 21- 27
o
C và độ ẩm 79 – 86%. Thời gian trứng là 5 –
10 ngày, bọ xít non qua 5 tuổi 9 – 19 ngày, trưởng thành trước đẻ trứng 3 – 6 ngày.
Bọ xít trưởng thành sống 8 – 13 ngày. Vòng đời 17 – 38 ngày (Nguyễn Đức Khiêm,
2005). Theo Phạm Hồng Đức Phước (2003), Con cái đẻ trứng rải rác hay từng cặp
vào các mô mềm của các nhánh non, cành vượt hay dưới da vỏ trái.
Theo Nguyễn Thị Thuận (2009), vòng đời bọ xít muỗi trên trái ca cao kéo dài
từ 14 – 27 ngày. Thời gian trứng kéo dài từ 4 – 7 ngày (trung bình là 5,1±1,1 ngày)
ở điều kiện nhiệt độ 29,3
o
C, ẩm độ không khí 76%, Tổng số trứng đẻ trên một
thành trùng cái là 100,8 ± 36,93 trứng, biến động 27 – 147 trứng. Tỷ lệ trứng nở là
91,89 ± 8,36 %, biến động từ 72,27 - 100,00 %. Tỷ lệ sống sót của ấu trùng là
ra, do việc đẻ trứng trong mô cây của thành trùng cái nên sự gây hại của BXM có
thể dẫn đến sự tắc nghẽn các bó mạch bên trong chồi non làm ảnh hưởng đến sinh
lý cây trồng gây ra sự tăng trưởng còi cọc và đôi khi làm chết cây. Diện tích lá bị
tổn thương do ấu trùng và thành trùng gây ra trên bề mặt lá lên đến 412,43 mm
2
mỗi
ngày (Bhuyan và Bhattacharyya, 2006).
Theo Nguyễn Đức Khiêm (2005), mùa hè BXM hoạt động vào sáng sớm và
chiều tối. Sau cơn mưa trời hửng nắng, bọ xít muỗi phát triển mạnh. Buổi trưa trời
nắng, BXM ít hoạt động và ẩn nấp trong tán trà. Ngày âm u, BXM hoạt động cả
ngày. Mùa đông, BXM hoạt động vào buổi trưa và buổi chiều. Qui luật phát sinh
của BXM hằng năm có liên quan đến các yếu tố sinh thái, nhiệt độ 20 – 25
o
C và ẩm
độ trên 90% là điều kiện thích hợp cho sự phát triển của BXM.
Vào mùa hè và mùa thu trà bị hại nặng hơn mùa đông. Tại Phú Thọ trà bị hại
nặng nhất vào tháng 7. Sự gây hại của BXM làm cho nhiều năm không có búp trà
để hái vào tháng 7 và tháng 8 ở vùng trung du Bắc Bộ. Trong một năm có nhiều lứa
BXM nhưng hại nhiều nhất vào 3 thời kỳ: tháng 4 – 5 phát sinh ít hại nhiều, tháng 7
– 8 phát sinh nhiều hại rất nặng, tháng 10 – 11 phát sinh nhiều hại nặng (Nguyễn
Đức Khiêm, 2005).
11
1.6 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ BỌ XÍT MUỖI
1.6.1 Biện pháp canh tác
Theo Phạm Hồng Đức Phước (2009), để giảm bớt mật độ gây hại của bọ xít
muỗi cần: Giảm ẩm độ trong vườn bằng cách vệ sinh vườn sạch sẽ, tỉa bớt cành và
nhánh không cần thiết.
Theo Nguyễn Văn Bình và ctv., 1996, Trương Quốc Tùng và Lê Văn Thuyết
(2005), Trên cây trà có thể phòng trừ BXM bằng các biện pháp canh tác như xới
thuốc hóa học có hoạt chất: Dimethoate, Emamectin benzoate.