khảo sát hiệu quả phòng trịcủa canxi clorua, dịch trích lá neem (azadirachta indica) và lá lược vàng (callisia fragrans) trên nấm colletotrichum musaegây hại trái chuốigià và chuối xiêm sau thu hoạch - Pdf 30


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

TRIỆU PHƯƠNG LINH KHẢO SÁT HIỆU QUẢ PHÒNG TRỊ CỦA CANXI CLORUA, DỊCH TRÍCH
LÁ NEEM (
Azadirachta indica
) VÀ LÁ LƯỢC VÀNG (
Callisia fragrans
)
TRÊN NẤM
Colletotrichum musae
GÂY HẠI TRÁI CHUỐI GIÀ
VÀ CHUỐI XIÊM SAU THU HOẠCH

Luận văn tốt nghiệp
Ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT
TRÊN NẤM
Colletotrichum musae
GÂY HẠI TRÁI CHUỐI GIÀ
VÀ CHUỐI XIÊM SAU THU HOẠCH
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Ths. Lê Thanh Toàn Triệu Phương Linh
MSSV: 3103627
Lớp: TT1073A1
Cần Thơ, 2013 i

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Chứng nhận luận văn tốt nghiệp với đề tài:

KHẢO SÁT HIỆU QUẢ PHÒNG TRỊ CỦA CANXI CLORUA, DỊCH
TRÍCH LÁ NEEM (
Azadirachta indica
) VÀ LÁ LƯỢC VÀNG (
Callisia fragrans

KHẢO SÁT HIỆU QUẢ PHÒNG TRỊ CỦA CANXI CLORUA, DỊCH
TRÍCH LÁ NEEM (
Azadirachta indica
) VÀ LÁ LƯỢC VÀNG (
Callisia fragrans
)
TRÊN NẤM
Colletotrichum musae
GÂY HẠI TRÁI CHUỐI GIÀ
VÀ CHUỐI XIÊM SAU THU HOẠCH
” Do sinh viên Triệu Phương Linh thực hiện và bảo vệ trước Hội đồng, ngày
tháng năm 2013.
Luận văn được Hội đồng đánh giá ở mức:…………điểm
Ý KIẾN HỘI ĐỒNG……………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
DUYỆT KHOA NÔNG NGHIỆP & SHƯD CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
CHỦ NHIỆM KHOA

iii

Triệu Phương Linh
v

LỜI CẢM TẠ

Kính dâng lên ba mẹ, người đã yêu thương, nuôi dưỡng và chăm lo cho con
học tập đến ngày hôm nay.
Chân thành biết ơn:
Thầy Lê Thanh Toàn, cô Trần Thị Thu Thuỷ đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ
trong suốt quá trình làm Luận văn tốt nghiệp.
Thầy Cố vấn học tập Lê Văn Vàng đã giúp đỡ, chăm lo, động viên và tạo điều
kiện thuận lợi cho em suốt khóa học.
Quý thầy cô và toàn thể Cán bộ Bộ môn Bảo vệ thực vật, Khoa Nông nghiệp &
sinh học ứng dụng đã tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành tốt luận văn tốt
nghiệp.
Quý thầy cô Khoa Nông nghiệp & sinh học ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ
đã truyền đạt kiến thức cho em trong suốt khóa học.
Cám ơn các anh, chị, các bạn cùng nhóm và các bạn làm luận văn chung phòng
thí nghiệm đã luôn giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn.
Thân ái gởi về:
Tất cả các bạn trong lớp Bảo vệ thực vật K36 và toàn thể sinh viên Khoa Nông
nghiệp & sinh học ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ những lời chúc tốt đẹp và thành
đạt nhất.


là dung dịch CaCl
2
(20 mM, 40 mM và 60 mM) ở thời điểm 24 GSĐKT và CaCl
2
(20
mM) ở thời điểm 48 GSĐKT. Dịch trích lá Lược vàng không có hiệu quả ức nấm C.
musae.
Dịch trích lá Neem 2% và dung dịch CaCl
2
20mM được xử lý sau khi lây bệnh có
khả năng hạn chế bệnh thán thư trên trái chuối già và chuối xiêm nhưng hiệu quả còn
thấp. Trong khi đó, dịch trích lá Neem 2% và dung dịch CaCl
2
20mM được xử lý trước
khi lây bệnh thì không thể hiện hiệu quả.

vii

MỤC LỤC

Trang
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
1.1 Sơ lược về trái chuối 3
1.2 Phân loại 4
1.2.1 Nhóm chuối già (Cavendish) 5
1.2.2 Nhóm chuối xiêm (Pisang Awak) 5

2.2 Phương pháp 15
2.2.1 Thí nghiệm 1: Khảo sát ảnh hưởng các nồng độ của CaCl
2
và dịch trích
thực vật đến sự phát triển khuẩn ty nấm trong điều kiện phòng thí nghiệm 15
2.2.2 Thí nghiệm 2: Đánh giá hiệu quả của việc xử lý CaCl
2
và dịch trích thực vật
sau khi lây bệnh nhân tạo trên trái chuối già và chuối xiêm 16
2.2.3 Thí nghiệm 3: Đánh giá hiệu quả của việc xử lý CaCl
2
và dịch trích thực vật
trước khi lây bệnh nhân tạo trên trái chuối già và chuối xiêm 17
2.2.4 Xử lý số liệu thống kê 18
CHƯƠNG III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 19
3.1 Ảnh hưởng của CaCl
2
và dịch trích thực vật đến sự phát triển của khuẩn ty
nấm 19
3.2 Hiệu quả của việc xử lý CaCl
2
và dịch trích thực vật sau khi lây bệnh nhân
tạo trên trái 25
3.2.1 Trên trái chuối già 25
3.2.2 Trên trái chuối xiêm 26
3.3 Hiệu quả của việc xử lý CaCl
2
và dịch trích thực vật trước khi lây bệnh nhân
tạo trên trái 29


thí nghiệm
15
3.1
Đường kính (mm) của khuẩn ty nấm Colletotrichum musae
trong điều kiện phòng thí nghiệm
21
3.2
Hiệu quả ức chế (%) sự phát triển khuẩn ty nấm
Colletotrichum musae trong điều kiện phòng thí nghiệm
23
3.3
Chiều dài vết bệnh (mm) do nấm Colletotrichum musae gây
hại trên trái chuối già
25
3.4
Hiệu quả ức chế (%) sự phát triển vết bệnh do nấm
Colletotrichum musae gây ra trên trái chuối già
26
3.5
Chiều dài vết bệnh (mm) do nấm Colletotrichum musae gây
hại trên trái chuối xiêm
27
3.6
Hiệu quả ức chế (%) sự phát triển vết bệnh do nấm
Colletotrichum musae gây ra trên trái chuối xiêm
28
3.7
Chiều dài vết bệnh (mm) do nấm Colletotrichum musae gây
hại trên trái chuối già
29

Colletotrichum musae ở 120 GSĐKT
24
3.2
Hiệu quả giảm chiều dài vết bệnh trên trái chuối già
ở thời điểm 7 NSLB
26
3.3
Hiệu quả giảm hiều dài vết bệnh trên trái chuối xiêm
ở thời điểm 7 NSLB
28
3.4
Hiệu quả giảm chiều dài vết bệnh trên trái chuối già
ở thời điểm 7 NSLB
30
3.5
Hiệu quả giảm chiều dài vết bệnh trên trái chuối xiêm
ở thời điểm 6 NSLB
32

1

MỞ ĐẦU
Chuối (Musa spp.) được trồng ở hơn 120 quốc gia và xếp hạng thứ hai trong
sản xuất trái cây trên thế giới. Ngành công nghiệp sản xuất chuối là một nguồn quan
trọng cho thu nhập, việc làm và doanh thu xuất khẩu đối với hầu hết các nước xuất
khẩu mà chủ yếu là các nước đang phát triển ở Châu Mỹ Latin, Tây Ấn, Đông Nam
Á và Châu Phi (Lassois và ctv., 2010). Ở Việt Nam, chuối là một trong những loại
trái cây quan trọng nhất, tổng diện tích gieo trồng được ước tính khoảng 99.340 ha
và sản lượng khoảng 1,2 triệu tấn, trong đó 20% là dành cho xuất khẩu (Natsuaki,
2011).


Do đó, đề tài “Khảo sát hiệu quả phòng trị của CaCl
2
, dịch trch lá Neem
(Azadirachta indica) v lá Lược vng (Callisia fragrans) trên nm
Colletotrichum musae gây hi trái chuối gi v chuối xiêm sau thu hoch” được
thực hiện nhằm:
(1) Tìm ra nồng độ hiệu quả của CaCl
2
và dịch trích thực vật đối với nấm
Colletotrichum musae trong điều kiện phòng thí nghiệm.
(2) Xác định hiệu quả phòng và trị bệnh thán thư trên trái chuối già và chuối
xiêm của dung dịch CaCl
2
và dịch trích thực vật.

3

CHƯƠNG I
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.1 SƠ LƯỢC VỀ TRÁI CHUỐI
Chuối là một trong năm loại quả trao đổi chủ yếu trên thì trường thế giới.
Theo FAO, sản lượng chuối sản xuất hàng năm trên thế giới rất lớn: năm 1982 đạt
62 triệu tấn trong đó chuối ăn tươi là 40 triệu tấn và chuối nấu là 22 triệu tấn. Đối
với nhiều dân tộc ở châu Á và châu Phi chuối là lương thực chủ yếu như cây khoai
tây ở các nước ôn đới (Trần Thế Tục, 1998).
Chuối là loại trái cây có nhiều cơm, có hột chứa nhiều noãn nhưng không
dùng hột để làm giống. Trái phát triển theo hướng không thụ tinh. Buồng chuối phát
triển hướng xuống đất, trái cong lên. Các cụm hoa tạo thành một nải trên buồng có

Hm lượng
Nước
79,2 g
Protein
1,8 g
Lipid
0,2 g
Glucid
18,0 g
Cellulose
0,2 g
Tro
0,8 g
Canxi
10,0 mg
Phosphorus
24,0 mg
Sắt
1,3 mg
Sodium
18,0 mg
Potassium
435,0 mg
Vitamin A
80,0 UI
Riboflavin
0,04 mg
Niacin
0,6 mg
Vitamin C

trung bình (2,0-2,5 m) và thấp (1,5-2,0 m). Chúng được trồng dọc theo các con sông
và các khu vực ẩm ướt. Đây là giống cho năng suất cao từ 20-25 kg/buồng với 8-14
nải. Trái có đường kính 2,8-3,5 cm, trái chín ngọt và thơm, vỏ và thịt quả có màu
vàng. Thời gian sinh trưởng từ 14-15 tháng. Chuối già được sử dụng cho xuất khẩu
và thị trường nội địa (Natsuaki, 2011).
Theo Nguyễn Minh Châu (2009) thì nhóm chuối già gồm:
- Chuối già cui: trung bình có 14-17 quả/nải, quả có hình dạng hơi cong, dài từ
21-25 cm, cuống quả dài hơn 21 mm, có nhiều lông. Mặt cắt ngang quả có hình hơi
chóp có cạnh, đỉnh quả hình cổ chai ngắn. Quả khi chín có màu xanh nhạt hoặc
vàng nhạt, ở những nơi có nhiệt độ thấp như Lâm Đồng, khi chín quả chuyển sang
màu vàng tươi tự nhiên, thịt quả màu vàng hoặc da cam và không có hạt.
- Chuối già Laba (hay chuối già Đà Lạt): buồng chuối già Laba có nhiều nải và
số quả/nải nhiều (>16 quả), độ dài quả ngắn (15-20 cm), hình dạnh quả hơi cong.
Mặt cắt ngang quả có hình hơi chóp, đỉnh quả hình cổ chai, đầu quả bằng. Quả khi
chín có màu vàng nhạt, thịt quả màu vàng, dẽo, rất thơm và không có hạt.
- Chuối già hương có số quả/nải khoảng 14 quả, độ dài ngắn (15-20 cm), hình
dạng quả thẳng phần ngoài. Mặt cắt ngang quả có hình hơi chóp có cạnh, đỉnh quả
hình cổ chai ngắn không rõ. Quả khi chín có màu vàng nhạt, thịt quả màu vàng hoặc
da cam rất thơm và không có hạt.
- Chuối già lùn: số quả/nải của chuối già Lùn khoảng 16 quả, độ dài quả
khoảng 20-25 cm, hình dạng quả cong đều. Mặt cắt ngang có hình hơi chóp, đỉnh
quả hình cổ chai ngắn. Quả khi chín có màu vàng nhạt, thịt quả màu vàng hoặc da
cam và không có hạt.
1.2.2 Nhóm Chuối xiêm (Pisang Awak)
Chuối xiêm (ABB): còn gọi là chuối tây, được trồng trong cả nước từ vùng
đồng bằng đến các vùng đồi núi. Năng suất từ 18-20 kg/buồng với 8-12 nải. Trái có
chiều dài từ 9-11 cm, đường kính 3,0-3,5 cm. Trái chín có vỏ màu vàng đến vàng
sẫm, thịt ngọt và thơm, đôi khi có hạt. Đây là giống chịu được hạn và đất nghèo
dinh dưỡng. Chuối xiêm chủ yếu được tiêu dùng trong nước, được sử dụng để ăn
tươi hoặc chế biến bánh kẹo (Natsuaki, 2011).

và chuối xiêm có một vài sự khác biệt như mô bệnh trái chuối xiêm thường không
có hình dạng nhất định, viền mô bệnh có màu nâu sậm hơn chuối già và mô bệnh
không bị nứt ra. Còn trên trái chuối già triệu chứng bệnh xuất hiện nhanh hơn, mô
bệnh dạng hình tròn hay hình thoi, màu đen sậm, ranh giới giữa mô bệnh và mô
khỏe rõ ràng, ngoài ra phần giữa mô bệnh trên chuối già bị nứt ra ở thời điểm 7
ngày sau lây bệnh và sợi nấm màu trắng xung quanh khối bào tử màu cam nhiều
hơn trên chuối xiêm. Đây cũng là một bằng chứng cho thấy khả năng gây hại của
nấm Colletotrichum trên chuối già và chuối xiêm khác nhau.
1.3.3 Đặc điểm sinh học của Colletotrichum musae
Nấm Colletotrichum musae thuộc chi Colletotrichum, họ Melanconiaceae, bộ
Melanconiales, lớp Coelomycetes (Phạm Văn Kim, 2000). Giai đoạn hữu tính là
7

Glomerella cingulata thuộc lớp Nấm Nang (Vũ Triệu Mân, 2007; Đặng Vũ Thị
Thanh, 2008). Nấm còn có tên gọi khác là Gloeosporium musarum Cooke &
Massee (Vũ Triệu Mân, 2007; Pitt và Hocking, 2009).
Bào tử nấm không có vách ngăn, không màu, thẳng, dạng hình trái xoan và
kích thước bào tử 14,5 x 6,9 µm (Lim và ctv., 2002; Abd-Elsalam và ctv., 2010).
Đĩa áp của nấm C. musae có màu đen, dạng hình chùy hay tròn hoặc bất dạng, kích
thước đĩa áp trung bình 8,8 x 6,8 µm và được hình thành từ những ống mầm. Những
cấu trúc giống như gai cứng thì không thấy được từ vết bệnh hay trên môi trường
nuôi cấy (Lim và ctv., 2002).
Môi trường PDA là một môi trường tốt nhất cho sự phát triển của nấm C.
musae (Lim và ctv., 2002). Một vài cấu trúc đĩa đài của nấm màu hồng nhạt phát
triển nhiều trên môi trường nuôi cấy sau 10 ngày, những đĩa đài bao gồm những bào
tử màu hồng nhạt đến cam sậm (Abd-Elsalam và ctv., 2010).
Bào tử nấm C. musae sau 6-12 giờ ở ẩm độ 98-100% và nhiệt độ 27-30
o
C sẽ
nẩy mầm và hình thành vòi bám đầu còng, không tròn, mép gồ ghề và vách dày màu

phẩm chất trái ít thay đổi và hạn chế sự gây hại của nấm bệnh trong quá trình tồn
trữ (Ferguson va ctv., 1995). Somogyi và ctv. (1996) cho rằng Ca là khoáng chất
quan trọng thứ 2 sau Kali. Hàm lượng Ca cao sẽ làm giảm tốc độ sinh sản khí
8

ethylene, trì hoãn quá trình chín, giảm sự rối loạn sinh lý, kéo dài thời gian tồn trữ
của táo và các loại trái cây khác.
Nấm và vi khuẩn muốn tấn công vách tế bào chúng phải tiết ra enzyme đặc
biệt là polygalacturonase và pectate transeliminase để phân giải vách tế bào nhưng
khi hàm lượng Ca cao trong mô thì hoạt động của ezyme này yếu hơn đáng kể.
Chính vì lý do này mà Ca được sử dụng rất nhiều trước cũng như sau thu hoạch để
hạn chế sự gây hại của nấm bệnh (Easterwood, 2002). Conway và Sam (1984) cũng
đã chỉ ra rằng Ca làm nâng cao sự phát triển của mô giúp chống lại sự xâm nhập của
nấm do sự vững chắc của vách tế bào, bằng cách đó làm cho tế bào kháng lại những
enzyme có hại gây ra bởi nấm và nó cũng giúp trì hoãn sự lão hóa của trái cây.
Clorua canxi (CaCl
2
) ở nồng độ 1-4% không có tác dụng rõ rệt trong việc ức
chế sự tăng trưởng của sợi nấm Colletotrichum gloeosporioides gây bệnh thán thư
trên trái đu đủ trong điều kiện in vitro. Tuy nhiên, trong điều kiện in vivo CaCl
2

khả năng ức chế C. gloeosporioides (Mahmud và ctv., 2008).
Theo nghiên cứu của Zarafi và ctv. (2010), chất chiết xuất từ hạt và lá Neem
có khả năng quản lí bệnh đốm lá trên cây kê do nấm Curvularia eragrostidis gây ra
và có hiệu quả tương tự như benomyl. Dịch trích lá Neem được sử dụng thí nghiệm
trong điều kiện in vitro và in vivo có thể chống lại nấm C. musae trên chuối
(Hassan, 2009).
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất chiết xuất từ thực vật lên sự
phát triển của nấm Colletotrichum capsici gây bệnh thán thư trên tiêu cho thấy

không có tác dụng gây độc trên tế bào người nhưng lại có hoạt tính kháng lại 5
nhóm vi sinh vật đó là vi khuẩn Bacillus subtillis, nấm mốc Aspergillus niger,
Fusarium oxysporum nấm men Coccibolus albicans, Saccharomyces cerevisae, đặt
biệt là kháng mạnh đối với A. niger và C. albicans. Ngoài ra, sản phẩm chiết xuất từ
Neem trong ethanol, methanol và nước đều có tác dụng ức chế sinh trưởng đối với 3
loài nấm gây bệnh cây là Rhizoctonia solani, Sclerotium rolfsii và Fusarium
oxysporum(Vũ Đăng Khánh và ctv., 2007).
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Mỹ An (2010) kết luận quýt đường sau thu hoạch
được xử lý bằng cách nhúng trái với CaCl
2
có thể giúp kéo dài thời gian tồn trữ trái.
Theo Châu Văn Minh và ctv. (2009) và Trần Văn Hai và Phạm Ánh Hồng,
(2011), mặc dù trong thành phần có chứa một số chất có hoạt tính kháng nấm như
isoorientin, flavon C-glucosit, flavonoid… nhưng hiện nay dịch trích từ cây Lược
vàng chỉ được nghiên cứu nhiều trong y học mà chưa được nghiên cứu nhiều trong
nông nghiệp.
1.5 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÂY NEEM, LƯỢC VÀNG VÀ CANXI
CLORUA
1.5.1 Cây Neem
Tên khoa học: Azadiracta indica Họ: Xoan (Meliacceae).
1.5.1.1 Đặc điểm thực vật
Cây Neem là dạng cây thân gỗ, thường cao khoảng 15-20 m, gặp điều kiện
thuận lợi có thể cao đến 35-40 m. Cây thích hợp phát triển ở vùng nhiệt đới và cận
nhiệt đới (Võ Văn Chi, 2003). Cây Neem là loại cây thường xanh, tán lá rộng có
hình tròn hoặc hình ô van, đường kính tán lá có thể đạt 15-20 m về già. Lá có dạng
xẻ, lá kép lông chim lẻ, dài 20-38 cm, mọc nhiều ở phía đầu nhánh, so le, dạng mác,
xẻ răng cưa sâu và sắc cạnh, nhẵn cả trên hai bề mặt, cân đối hai bên, nhọn, cuống
rất ngắn. Lá thường xanh tốt quanh năm, không có thời kỳ rụng, lá còn non có màu
hơi đỏ tía. Hoa mộc từ nách lá ở dạng cụm hoa hình chùy, ngắn hơn lá. Hoa lưỡng
10

thức ăn gia súc. Tại một số vùng ở Andhra Pradesh (Ấn Độ), lá Neem thường được
cho gia súc ăn sau khi sinh con để tăng khả năng tiết sữa, ngoài ra, còn có tác dụng
phòng trị giun sán cho gia súc. Ở Ấn Độ, dân gian thường lấy lá Neem để gần trẻ
em giúp ngăn ngừa bệnh ho gà. Lá Neem cũng được dùng trong bảo vệ nông sản
(Srivastav và ctv., trích dẫn từ Diệp Quỳnh Như, 2006).
- Rễ Neem: dịch trính từ rễ cây được dùng làm thuốc cổ truyền chữa bệnh
ngoài da (Puri, 1999).
- Vỏ cây Neem có nhựa trong, chứa hổ phách có thể dùng làm thuốc bổ hoặc
thuốc trị bệnh vàng da khi phối hợp với một số thảo dược khác. Dịch chiết từ vỏ
11

Neem cũng có thể trị đau răng, bệnh sốt rét, bệnh da liễu hoặc dùng nhuộm lụa. Do
có chứa nimbin và nimbidin nên dịch chiết từ hai bộ phận này cũng có khả năng
kháng nấm, kháng dị ứng hoặc trị bệnh ngoài da (Puri, 1999).
- Hạt Neem chứa nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học như azdirachtin,
meliantiol, salanin… trong đó quan trọng nhất là azadirachtin. Dịch chiết từ hạt
được dùng để sản xuất thuốc trừ sâu, thuốc giảm đau, thuốc sát trùng và cả thuốc
ngừa thai (Puri, 1999).
- Quả Neem: thịt quả cũng được dùng để làm thuốc tẩy giun, thuốc giảm đau,
thuốc bổ. Quả khô ngâm nước có thể trị bệnh ngoài da. Nước thịt quả khô khi phun
lên cây có thể xua đuổi nhiều loại côn trùng, đặc biệt hữu hiệu đối với châu chấu
(Puri, 1999).
1.5.2 Cây Lược vng
Tên khoa học: Callisia fragrans Họ: Thài lài (Commelinaceae)
1.5.2.1 Đặc điểm thực vật học
Cây Lược vàng, còn gọi là cây Lan vòi, có tên khoa học là Callisia fragrans
(Lindl.) Woods thuộc họ Thài lài (Commelinaceae), vốn có nguồn gốc từ Trung
Mỹ, sau đó được di thực đến nhiều nơi khác. Hiện cây này mọc hoang hoặc được
trồng nhiều ở Nga, Việt Nam, Úc…(Châu Văn Minh và ctv., 2009). Thực vật thuộc
họ Commelinaceae là các loại thảo mộc mọng nước một lá mầm mọc nhiều ở vùng

kháng khuẩn yếu trên chủng Staphylococcus aureus (Trịnh Thị Diệp, 2008 trích
dân từ Châu Văn Minh và ctv., 2009).
Ngoài ra, theo một số kết quả nghiên cứu về cây Lược vàng của Viện dược
liệu cho thấy rằng :
- Lược vàng có 3 tác dụng khá nổi trội :
+ Tác dụng kháng khuẩn (với những chủng vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp).
+ Tác dụng tăng cường miễn dịch.
+ Tác dụng chống oxy hóa.
- Lược vàng có tác dụng chống viêm mạn, tác dụng giảm đau ngoại biên và ức chế
một số dòng tế bào ung thư ở mức độ trung bình.
1.5.3 Canxi clorua
1.5.3.1 Tính chất hoá học
Canxi clorua (CaCl
2
) là một chất rắn màu trắng, rất háo nước, tồn tại dưới
dạng tinh thể. Canxi clorua tan nhiều trong nước, trong rượu và axeton, khi tan có
tỏa nhiệt.
Canxi clorua thường có 2 dạng chủ yếu: dạng ngậm nước CaCl
2
.6H
2
O và dạng
CaCl
2
.2H
2
O.
1.5.3.2 Vai trò của canxi clorua trong bảo quản trái cây
Dung dịch muối CaCl
2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status