Ôn tập củng cố phần cảm ứng điện từ vật lý 11 (nâng cao) nhằm nâng cao kết quả học tập của học sinh - Pdf 30


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA VẬT LÝ
 KHỔNG THỊ HỒNG ĐIỆP

ÔN TẬP CỦNG CỐ PHẦN “CẢM ỨNG
ĐIỆN TỪ”- VẬT LÝ 11 (NÂNG CAO) NHẰM
NÂNG CAO KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINHKHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn Vật lí
Người hướng dẫn khoa học:
Ths . Ngô Trọng Tuệ Khổng Thị Hồng Điệp

LỜI CAM ĐOAN

Khóa luận tốt nghiệp Đại học với đề tài: “Ôn tập củng cố phần “Cảm
ứng điện từ” - Vật lý 11 (nâng cao) nhằm nâng cao kết quả học tập của học
sinh” được hoàn thành trên sự cố gắng của bản thân và sự hướng dẫn tận tình
của thầy giáo – Th.s Ngô Trọng Tuệ , tôi xin cam đoan khóa luận này là thành
quả của quá trình làm việc nghiêm túc của bản thân và nội dung khóa luận
không trùng lặp với các công trình nghiên cứu của các tác giả trước đã công
bố.

Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Sinh viên Khổng Thị Hồng Điệp

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

HS : Học sinh
GV : Giáo viên

CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC ÔN TẬP ỦNG CỐ CHO HỌC SINH PHẦN “CẢM
ỨNG ĐIỆN TỪ” – VẬT LÍ 11 (NÂNG CAO) 25
2.1. Cấu trúc nội dung phần “Cảm ứng điện từ” 25
2.2. Mục tiêu khi dạy học phần “Cảm ứng điện từ” 31
2.2.1. Mục tiêu về kiến thức 31
2.2.2. Mục tiêu về kĩ năng 31
2.3. Lựa chọn phần mềm, xây dựng bài tập để ôn tập củng cố cho học sinh . 31
2.4. Xây dựng tiến trình ôn tập củng cố cho học sinh 49
Kết luận chương 2 51
CHƯƠNG 3: DỰ KIẾN THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 52
3.1. Mục đích, đối tượng thực nghiệm sư phạm 52
3.2. Phương pháp thực nghiệm sư phạm 52
3.3. Dự kiến tiến hành thực nghiệm sư phạm 52
Kết luận chương 3 57
KẾT LUẬN 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
PHỤ LỤC 60


Phần “Cảm ứng điện từ” có nhiều ứng dụng trong thực tế, cho nên cần
tổ chức quá trình học tập cho HS để HS nắm vững kiến thức và ứng dụng
được vào thực tế.
Khi dạy học phần “Cảm ứng điện từ” có nhiều nội dung HS có thể
nghiên cứu nhờ các PMDH, qua việc sử dụng phần mềm này kết hợp với các
BTVL sẽ giúp HS nắm vững kiến thức cũng như kĩ năng làm bài tập, tư duy
của HS sẽ nâng cao kết quả học tập của HS. - 2 -
Vì những lí do trên chúng tôi lựa chọn đề tài “Ôn tập củng cố phần
“Cảm ứng điện từ”-vật lý 11 (nâng cao) nhằm nâng cao kết quả học tập
của học sinh”.
2. Mục đích nghiên cứu
Sử dụng phần mềm và xây dựng, lựa chọn một số bài tập để ôn tập
củng cố kiến thức cho HS trong chương “Cảm ứng điện từ” nhằm giúp HS
nắm vững kiến thức, nâng cao kết quả học tập.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: hoạt động của GV và HS trong việc ôn tập chương “Cảm
ứng điện từ” bằng cách sử dụng phần mềm nhằm nâng cao kết quả học tập
của HS.
Phạm vi: hệ thống lý thuyết và bài tập chương “Cảm ứng điện từ” sách
giáo khoa vật lí 11 (Nâng cao).
4. Giả thuyết khoa học
Trong dạy học chương “Cảm ứng điện từ” nếu GV sử dụng và lựa
chọn các phần mềm tin học để ôn tập sẽ giúp cho HS nắm vững các kiến thức
cơ bản.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu lí luận về việc sử dụng phần mềm vật lí nhằm giúp HS
nắm vững kiến thức cơ bản.

kiến thức một cách khoa học và rõ ràng, giúp HS định vị được kiến thức.
8. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, khóa
luận gồm ba chương:
Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc ôn tập củng cố trong
dạy học vật lí
1.1. Ôn tập củng cố kiến thức vật lí cho học sinh
1.2. Sử dụng phần mềm dạy học, bài tập trong ôn tập củng cố
1.3. Nâng cao kết quả nắm vững kiến thức của học sinh - 4 -
1.4. Thực trạng ôn tập củng cố phần “Cảm ứng điện từ” ở một số
trường THPT
Kết luận chương 1
Chương 2. Tổ chức ôn tập củng cố cho học sinh phần “Cảm ứng
điện từ” - Vật lí 11 (Nâng cao)
2.1. Cấu trúc nội dung phần “Cảm ứng điện từ”
2.2. Mục tiêu khi dạy học phần “Cảm ứng điện từ”
2.2.1. Mục tiêu về kiến thức
2.2.2. Mục tiêu về kĩ năng
2.3. Lựa chọn phần mềm, xây dựng bài tập để ôn tập củng cố cho học
sinh
2.4. Xây dựng tiến trình ôn tập củng cố cho học sinh
Kết luận chương 2
Chương 3. Dự kiến thực nghiệm sư phạm
3.1. Mục đích, đối tượng thực nghiệm sư phạm
3.2. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
3.3. Dự kiến tiến hành thực nghiệm sư phạm
Kết luận chương 3

bằng những tư tưởng mới và làm cho HS lí giải một cách sâu sắc những kiến
thức đã học.[2, tr 108]
Ôn tập nhằm tái hiện lại kiến thức của nhân loại một cách chính xác,
khoa học, dễ hiểu, dễ tiếp thu là một yếu tố cực kì quan trọng trong dạy học.
Ôn tập được tổ chức tốt cũng chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình dạy
học ở bất cứ môn học nào trong nhà trường. Nó là biện pháp cần thiết mà GV
phải sử dụng trong việc dạy học của mình và nó giúp người học trong quá
trình hoàn thiện tri thức và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo. Nhờ ôn tập được tổ
chức tốt mà những kiến thức đã được học không chỉ được ghi lại trong trí nhớ
mà còn được hệ thống lại, khắc sâu một cách sáng tạo hơn. - 6 -
Thông qua việc ôn tập củng cố giúp HS hệ thống hóa được kiến thức,
luyện tập và phát triển các kĩ năng đã được học, giúp HS đào sâu, mở rộng,
khắc sâu các kiến thức, sửa và tránh được những quan niệm sai lầm thường
mắc phải trong và sau khi tiếp thu kiến thức mới.
1.1.2. Nội dung cần ôn tập củng cố trong dạy học vật lí
Ôn tập là một khâu trong các hình thức tổ chức dạy học ở trường phổ
thông vì thế không tự đề ra nội dung, chương trình riêng cho nó mà phải dựa
trên cơ sở nội dung chương trình cho từng môn học mà lựa chọn những vấn
đề cơ bản cần ôn tập và sắp xếp có hệ thống những vấn đề đó. Ôn tập không
tự đề ra phương pháp riêng cho mình mà dựa trên phương pháp dạy học của
bộ môn với nội dung cần ôn tập để lựa chọn phương pháp thích hợp nhất
trong khoảng thời gian cho phép được qui định của chương trình.
Đối với bộ môn vật lí, những kiến thức vật lí cơ bản sẽ tạo nên nội
dung chính của môn học. Thông qua việc hình thành những kiến thức cơ bản
đó mà thực hiện các nhiệm vụ khác của dạy học vật lí, trước hết là phát triển
năng lực nhận thức, năng lực sáng tạo, hình thành thế giới quan khoa học thực
hiện các nhiệm vụ khác của dạy học vật lí.

ý kiến cá nhân…
1.1.3. Các hình thức ôn tập
Hoạt động học tập ôn tập của HS chủ yếu thông qua hoạt động học tập
trên lớp và hoạt động tự học ở nhà. Ôn tập của HS ở nhà cũng chính là tạo
điều kiện để học tập trên lớp theo giờ giảng đạt hiệu quả hơn. Ôn tập củng cố
có thể thực hiện dưới nhiều hình thức nhưng chủ yếu là 2 hình thức: Ôn tập
củng cố kiến thức ngay trong giờ lên lớp và ôn tập củng cố ngoài giờ học
chính khóa.
1.1.3.1.Ôn tập củng cố kiến thức ngay trong giờ lên lớp
Ôn tập ngay trước và trong khi HS tìm hiểu, tiếp thu kiến thức mới dựa
trên cơ sở của những kiến thức đã học trước đó. Hình thức này thường được - 8 -
tiến hành ngay trong mỗi bài học hàng ngày, thực tiễn thông qua hệ thống các
câu hỏi được GV chuẩn bị sẵn, đó là các câu hỏi kiểm tra bài cũ đầu giờ, hoặc
những câu hỏi đặt ra trong tiết học nhằm gợi lại kiến thức cũ mà nó là cơ sở
để hình thành kiến thức mới trong bài học.
Ôn tập được tiến hành ngay sau khi HS vừa học bài mới, nhằm củng cố
kiến thức mà HS vừa mới lĩnh hội, chốt lại những kiến thức cơ bản, cốt lõi
của bài học. Hình thức này được tiến hành vào cuối tiết học bằng cách đưa ra
các câu hỏi để HS trả lời hoặc làm các bài tập có tính chất hệ thống hóa, tổng
kết những kiến thức cơ bản của bài học.
Ôn tập sau khi kết thúc một chương hoặc một phần chương trình. Hình
thức ôn tập này được thực hiện trong một (hoặc một vài) tiết học riêng biệt.
Mục đích sư phạm của các tiết ôn tập như vậy là chỉnh lý lại, hệ thống lại, tìm
ra mối liên hệ logic giữa các kiến thức mà HS đã được lĩnh hội trong một
phần của tài liệu học; tạo cho HS có cái nhìn toàn diện về nội dung kiến thức
trong phần đó.
Ôn tập tổng kết được áp dụng khi chương trình kết thúc vào cuối kì,

 Phần mềm dạy học (PMDH).
1.2.1. Sử dụng phần mềm dạy học trong ôn tập củng cố
PMDH là một trong những phương tiện dạy học hỗ trợ ôn tập, củng cố
một cách hiệu quả cho HS. PMDH là phương tiện chứa chương trình để ra
lệnh cho máy tính thực hiện các yêu cầu về nội dung và phương pháp dạy học
theo mục tiêu đã định.
Khác với các phương tiện dạy học khác, PMDH là một dạng thiết bị
đặc biệt, là các câu lệnh chứa thông tin, dữ liệu để hướng dẫn máy vi tính thực
hiện các thao tác xử lý theo một thuật toán xác định từ trước. Các PMDH
được lưu trữ trong các thiết bị nhớ ngoài của máy tính như trong các đĩa cứng,
đĩa mềm, đĩa CD. PMDH rất gọn nhẹ, rất dễ nhân bản với số lượng lớn,
không công kềnh, dễ bảo quản, dễ vận chuyển, dễ sử dụng, sinh động và hấp
dẫn. Tùy thuộc vào từng môn học cụ thể mà xây dựng các PMDH tương ứng - 10 -
để phục vụ cho dạy và học môn ấy, do vậy có các PMDH bộ môn. Tùy thuộc
vào hình thức sử dụng và chức năng sư phạm mà phần mềm đảm nhận có thể
phân chia các PMDH thành các loại khác nhau.
Từ thực tế sư phạm cho thấy, trong nhiều trường hợp nếu chỉ sử dụng
các phương tiện dạy học truyền thống thì không thể quan sát, thu thập thông
tin về các đối tượng cần nghiên cứu nên nhiều quá trình vật lí không thể đưa
vào trong chương trình vật lí phổ thông.
Ngày nay, cả lí luận và thực tiễn đã chứng minh phương pháp sử dụng
PMDH trong quá trình dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập
của học sinh sẽ làm cho quá trình dạy học đạt hiệu quả cao.
PMDH rất phong phú về nội dung và hình thức thể hiện. Vì vậy, người
GV cần có sự lựa chọn để có được PMDH thích hợp với ý đồ sư phạm của
mình. Đối với việc dạy học các môn khoa học tự nhiên, khi sử dụng PMDH
cần phải xuất phát từ các căn cứ sau:

ánh sáng laze, nguyên lý tạo lực nâng ở cánh máy bay
- Mô phỏng các phương trình toán học dưới dạng đồ thị, mô hình giúp
làm trực quan các kết quả tính toán lý thuyết: Như đồ thị động năng và thế
năng của dao động điều hòa, mô hình sóng điện từ dao động theo hai phương
vuông góc
1.2.2. Sử dụng bài tập trong ôn tập củng cố
Sử dụng bài tập trong ôn tập củng cố là một trong những phương pháp
được sử dụng phổ biến của giáo viên THPT
1.2.2.1. Quan niệm về bài tập vật lí (BTVL)
Theo X.E.Camentxki và V.P.Owrrekhov: Trong thực tiễn dạy học,
BTVL là một vấn đề không lớn mà trong trường hợp tổng quát được giải
quyết nhờ những suy luận logic, những phép toán và thí nghiệm trên cơ sở
các định luật và phương pháp vật lí…Thông thường trong các SGK và các tài
liệu lí luận dạy học bộ môn, người ta hiểu BTVL là những bài luyện tập được
lựa chọn phù hợp với mục đích chủ yếu là nghiên cứu các hiện tượng vật lí, - 12 -
hình thành khái niệm, phát triển tư duy vật lí của HS và rèn luyện kĩ năng vận
dụng kiến thức của họ vào thực tiễn.[6]
Hiểu theo nghĩa rộng thì sự tư duy định hướng tích cực đến bất kì một
vấn đề nào đó luôn là việc giải bài tập. Còn về thực chất thì mỗi một vấn đề
mới xuất hiện khi nghiên cứu vật lí cần phải giải quyết chính là một bài tập
đối với HS.
Quan niệm về BTVL nêu trên được nhiều nhà lí luận dạy học bộ môn
và GV tán thành, chấp nhận.
1.2.2.2. Tác dụng của BTVL trong dạy học
BTVL giúp HS hiểu sâu sắc hơn những qui luật vật lí, biết phân tích
ứng dụng chúng vào những vấn đề thực tiễn, vào việc tính toán kĩ thuật.
BTVL là một trong những phương tiện hình thành kiến thức mới đảm

phức tạp về mối quan hệ giữa các khái niệm, đại lượng vật lí sao cho dần dần
HS hiểu được kiến thức, nắm được vững chắc và có kĩ năng vận dụng kiến
thức đó.
Mỗi bài tập được lựa chọn phải là một mắt xích trong hệ thống bài tập
đóng góp được một phần nào đó vào việc hoàn chỉnh các kiến thức của HS,
giúp họ hiểu được mối quan hệ giữa các đại lượng, cụ thể hóa các khái niệm
và vạch ra những nét mới nào đó chưa được làm sáng tỏ.
Hệ thống bài tập được lựa chọn phải giúp cho HS phát hiện được
những khó khăn chủ yếu, sai lầm phổ biến của các em trong việc chiếm lĩnh
từng kiến thức cơ bản, đồng thời giúp họ vượt qua những khó khăn, tránh
được những sai lầm ấy.
Số lượng bài tập lựa chọn phải phù hợp với thời gian qui định của
chương trình học và thời gian học ở nhà của HS.
1.3. Nâng cao kết quả nắm vững kiến thức của học sinh
Theo lý luận dạy học, kiến thức được hiểu là kết quả của quá trình nhận
thức bao gồm một tập hợp nhiều mặt về chất lượng và số lượng các biểu
tượng và khái niệm lĩnh hội được, được giữ lại trong trí nhớ và được tái tạo - 14 -
khi có đòi hỏi tương ứng [5]. Kiến thức vật lí có thể chia thành các nhóm cơ
bản:
1) Khái niệm vật lí, đặc biệt là khái niệm về đại lượng vật lí; 2) Định
luật vật lí; 3) Thuyết vật lí; 4) Những phương pháp nghiên cứu(nhận thức) vật
lý; 5) Những ứng dụng trong kĩ thuật. [2,tr20]
Một trong những nhiệm vụ chủ yếu nhất của dạy học là đảm bảo cho
HS nắm vững những kiến thức cơ bản của nhà trường. Nắm vững kiến thức
không những là hiểu đúng nội hàm, ngoại diên của nó, xác định được vị trí,tác
dụng của kiến thức ấy trong hệ thống kiến thức cơ bản đã tiếp thu từ trước,
mà còn biết quá trình hình thành nó và vận dụng được nó vào thực tiễn.

hệ thống bài tập phù hợp với một đề tài, chương, phần của chương trình phản
ánh chất lượng nắm vững kiến thức và mối quan hệ của chúng trong đề tài,
chương, phần đó với nhau và vận dụng chúng trong những tình huống phức
tạp mới.
Dạy học phát triển năng lực là một trong những phương pháp dạy học
định hướng kết quả đầu ra được bàn đến nhiều từ những năm 90 của thế kỷ
XX và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế. Giáo dục định
hướng phát triển năng lực nhằm mục tiêu phát triển năng lực người học.Giáo
dục định hướng năng nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực
hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng
lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con
người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp.
Chương trình này nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của
quá trình nhận thức.
Khác với chương trình định hướng nội dung, chương trình dạy học định
hướng phát triển năng lực tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra, có thể
coi là ”sản phẩm cuối cùng” của quá trình dạy học. Việc quản lý chất lượng
dạy học chuyển từ việc điều khiển “đầu vào” sang điều khiển “đầu ra”, tức là
kết quả học tập của HS. - 16 -
Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú
ý tích cực hoá HS về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải
quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng
thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn. Tăng cường việc
học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ GV-HS theo hướng cộng tác có ý nghĩa
quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Bên cạnh việc học tập những tri
thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề
học tập phức hợp nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp.

- Các động từ tương ứng với cấp độ nhận biết có thể là: xác định,
đặt tên, liệt kê, đối chiếu hoặc gọi tên, giới thiệu, chỉ ra,…

Thông hiểu

- Thông hiểu là HS hiểu các khái niệm cơ bản và có thể vận dụng
chúng khi chúng được thể hiện theo các cách tương tự như cách
GV đã giảng hoặc như các ví dụ tiêu biểu về chúng trên lớp học.
- Các hoạt động tương ứng với cấp độ thông hiểu là: diễn giải, tổng
kết, kể lại, viết lại, lấy được ví dụ theo cách hiểu của mình…

Vận dụng
ở cấp độ
thấp
- Vận dụng ở cấp độ thấp là HS có thể hiểu được khái niệm ở
một cấp độ cao hơn “thông hiểu”, tạo ra được sự liên kết logic
giữa các khái niệm cơ bản và có thể vận dụng chúng để tổ chức
lại các thông tin đã được trình bày giống với bài giảng của giáo
viên hoặc trong SGK.
- Các hoạt động tương ứng với vận dụng ở cấp độ thấp là: xây
dựng mô hình, trình bày, tiến hành thí nghiệm, phân loại, áp
dụng quy tắc (định lí, định luật, mệnh đề…), sắm vai và đảo vai
trò, …
- Các động từ tương ứng với vận dụng ở cấp độ thấp có thể là:
thực hiện, giải quyết, minh họa, tính toán, diễn dịch, bày tỏ, áp - 18 -
dụng, phân loại, sửa đổi, đưa vào thực tế, chứng minh, ước tính,
vận hành…


- 19 -
phỏng vấn và đàm thoại với HS và GV một số trường THPT. Trao đổi trực
tiếp với HS, tham khảo kết quả học tập của HS trong năm học vừa qua. Tham
quan, khảo sát việc sử dụng phòng thí nghiệm, phòng học bộ môn và phòng
máy vi tính.
Thời điểm khảo sát: học kì I năm học 2014-2015
Đối tượng khảo sát: GV trường THPT Nam Sách(Hải Dương), THPT
Cổ Loa (Hà Nội), THPT Yên Dũng 1 (Bắc Giang),THPT Yên Dũng 2 (Bắc
Giang), THPT Mạc Đĩnh Chi (Hải Dương), THPT Phan Bội Châu (Hà Nội).
Mục tiêu khảo sát: đánh giá thực trạng về hoạt động ôn tập củng cố ở
một số trường THPT hiện nay về mặt: nhận thức về vai trò ôn tập, nội dung
ôn tập; phương pháp ôn tập; các phương tiện sử dụng hỗ trợ ôn tập…
- Số trường điều tra: 6
- Số phiếu điều tra: 13
Kết quả cho thấy: đa số các GV đều cho HS tiếp cận kiến thức và thu
thập thông tin từ các hiện tượng trong đời sống hàng ngày và trên mạng
internet còn thu thập thông tin từ thiết bị thí nghiệm thì ít được sử dụng hơn.
Việc ôn tập củng cố của HS trên lớp được GV tổ chức đa số theo cách
nêu yêu cầu và để HS tự thực hiện và sau đó giáo viên kiểm tra hoặc HS báo
cáo trên lớp.
Sau khi học xong HS nắm được kiến thức theo các mức độ được đánh
giá tăng dần và kết quả thu được như sau:
STT

Mức độ nắm vững kiến thức của HS Tỉ lệ %
1 HS nhớ được kiến thức đã học 53,8%
2 HS trình bày được kiến thức theo ý hiểu của mình 53,8%
3 Hiểu được kiến thức trình bày dưới dạng văn bản,
công thức, đồ thị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status