BỘ YTẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
PHƯƠNG BÍCH HẠNH
BƯỚC ĐẦU KHẢO SÁT Tổ CHỨC HOẠT ĐỘNG CỦA
MỘT SỐ CÔNG TY Dược PHẨM n ư ớ c n g o à i
TẠI VIỆT NAM
(KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Dược sĩ KHOÁ 1999-2004)
Người hướng dẫn : Tiến sĩ Nguyễn Thanh Bình
Thạc sĩ Đỗ Xuân Thắng
Nơi thực hiện : Bộ môn Quản lý kinh tế dược
Thời gian thực hiện: 3-5/2004
H I y
MỂfo@cÃMƠ?l
Nhân dịp hoàn thành khoá luận, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
Tiến sĩ Nguyễn Thanh Bình - Giảng viên trường Đại học Dược Hà Nội
Thạc sĩ Đỗ Xuân Thắng - Giảng viên trường Đại học Dược Hà Nội
Các thầy đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành luận văn này.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới:
- Các thầy cô giáo trong bộ môn Quản lý kinh tế dược
- Các thầy cô trường Đại học Dược Hà Nội
- Trưởng văn phòng đại diện các công ty dược phẩm nước ngoài tại
Việt Nam
- Các anh, chị trình dược viên của các công ty dược phẩm nước ngoài
Những người đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện tốt nhất và động viên em trong
suốt thời gian làm khoá luận.
Hà Nội, ngày 30 tháng 05 năm 2003
Sinh viên
Phương Bích Hạnh
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ
Phần 1.TỔNG QUAN
18
19
19
20
20
1. Văn phòng đại diện cho hãng sản xuất nước ngoài tại 20
Việt Nam
1.1. Công ty Gedeon Richter 20
1.1.1. Giói thiệu công ty Gedeon Richter 20
1.1.2. Tổ chức hoạt động của công ty Gedeon Richter tại Việt Nam 21
1.1.3 Tổ chức hệ thống trình dược viên 22
1.1.4. Tổ chức hệ thống phân phối của công ty Gedeon Richter 24
1.2 Công ty dược phẩm Boehringer Ingelheim 26
1.2.1. Giới thiệu công ty Boehringer Ingelheim 26
1.2.2. Tổ chức hoạt động của công ty Boehringer Ingelheim tại 26
Việt Nam
1.2.3. Tổ chức hệ thống trình dược viên 28
1.2.4. Tổ chức hệ thống phân phối của công ty Boehringer Ingelheim 29
2. Công ty liên doanh Sanoíi Synthelabo Việt Nam 30
2.1. Giói thiệu công ty Sanoíi Synthelabo Việt Nam 30
2.2. Tổ chức hoạt động công ty Sanoíì Synthelabo Việt Nam 31
2.3. Tổ chức hệ thống trình dược viên 31
2.4. Tổ chức hệ thống phân phối của công ty Sanofi Synthelabo 35
Việt Nam
3. Văn phòng đại diện cho nhà phân phối 36
3.1. Giới thiệu công ty Hyphens 36
3.2. Tổ chức hoạt động công ty Hyphens tại Việt Nam 37
3.3. Tổ chức hệ thống trình dược viên 38
3.4. Tổ chức hệ thống phân phối của công ty Hyphens 38
n. BÀN LUẬN 39
PTGĐ Phó tổng giám đốc
TDV Trình dược viên
TPHCM Thành phố Hồ Chí Minh
TGD Tổng giám đốc
TKTU Thần kinh trung ương
TƯ Trung ương
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TTY Thuốc thiết yếu
XNDP Xí nghiệp dược phẩm
ĐẶT VẤN ĐỀ
■
Thuốc là loại hàng hoá đặc biệt, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ và
thậm chí cả tính mạng con người. Ngành Dược cũng là ngành kinh tế, đặc biệt,
tính kinh doanh lợi nhuận phải được đặt sau mục đích phục vụ nhân dân. Bước
vào thời kỳ đổi mới, ngành dược cũng như các ngành kinh tế khác, thực hiện
sự chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường, mang nhiệm vụ hết
sức nặng nề là cung ứng đủ thuốc phục vụ cho công tác chăm sóc và bảo vệ
sức khoẻ của nhân dân cả về số lượng và chủng loại với chất lượng cao.Các
doanh nghiệp dược Việt Nam khi chuyển từ thời kỳ bao cấp sang cơ chế thị
trường vẫn còn mang theo bộ máy quản lý cồng kềnh, trình độ quản lý thấp và
chưa kịp thời thích ứng. Dẫn đến tình trạng nhiều xí nghiệp dược phẩm khi
còn ở thời kỳ bao cấp luôn dẫn đầu toàn ngành nhưng khi chuyển sang cơ chế
thị trường thì lại hoạt động kém hiệu quả.
Trong những năm gần đây, sự xuất hiện của các công ty dược phẩm
nước ngoài trong cả hai lĩnh vực sản xuất và kinh doanh đã góp phần không
nhỏ vào việc cung cấp thuốc cho thị trường thuốc Việt Nam. Thành công của
các CTDPNN hoạt động tại Việt Nam không chỉ bởi họ có bề dày Marketing,
chiến lược phát triển đúng đắn mà còn bởi một yếu tố quan trọng khác đó là:
họ có một bộ máy quản lý tốt, cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, linh hoạt, hoạt động có
hiệu quả cao. Các CTDPNN tham gia vào kinh doanh dược phẩm ở nước ta
Chức năng của tổ chức chính là phải hình thành một cơ cấu tổ chức.
Cơ cấu tổ chức là tổng hợp các bộ phận, đơn vị và cá nhân khác nhau, có
mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau được chuyên môn hoá, có quyền hạn và
trách nhiệm nhất định được bố trí theo các cấp và các khâu khác nhau,
nhưng cùng nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng quản lý và cùng hướng
vào đích chung.
Trong quản lý, dựa vào đặc điểm, chức năng, phạm vi của tổ chức có
thể xác định cơ cấu tổ chức theo các kiểu mô hình khác nhau như cơ cấu trực
tuyến, tham mưu, chức năng, trực tuyến- chức năng, trực tuyến- tham mưu-
chức năng, cơ cấu theo sản phẩm/ khách hàng/ địa dư, cơ cấu hỗn hợp .Trong
đó, cơ cấu theo sản phẩm/ khách hàng/ địa dư và cơ cấu hỗn hợp là hay được
áp dụng hơn cả [9].
3
1.1.1. Cơ câu tổ chức theo chức năng
Trong mô hình cơ cấu tổ chức theo chức năng những nhiệm vụ quản lý
được phân chia cho các đơn vị riêng biệt theo các chức năng quản lý và hình
thành nên những người đứng đầu các phân hệ được chuyên môn hoá chỉ đảm
nhận thực hiện những chức năng nhất định. Mối liên hệ giữa các nhân viên
trong hệ thống rất phức tạp, những người thừa hành nhiệm vụ ở cấp dưới nhận
mệnh lệnh chẳng những từ người lãnh đạo cao nhất của hệ thống, mà cả từ
những người lãnh đạo các chức năng khác nhau.
Hình 1.1. Mô hình cơ cấu tổ chức theo chức năng
a) ưu điểm
- Cơ cấu phân chia các nhiệm vụ được rõ ràng thích hợp với từng lĩnh vực cá
nhân được đào tạo.
- Các cá nhân trong một ban có thể dễ dàng được đào tạo trên nền kiến thức,
sự đào tạo và kinh nghiệm của người khác. Đối đầu vói các vấn đề quen thuộc
và có sự đào tạo tương tự cho việc giải quyết các vấn đề kỹ thuật tương tự.
4
- Cơ cấu cung cấp một nền đào tạo tốt cho các nhà phụ trách mới chuyển dịch
1.1.3. Cơ cấu tổ chức theo sản phẩm
Việc hợp nhóm các hoạt động và đội ngũ nhân sự theo sản phẩm hoặc
tuyến sản phẩm đã từ lâu có vai trò ngày càng gia tăng trong các tổ chức quy
mô lớn với nhiều dây truyền công nghệ.
Hình 1.3. Mô hình cơ cấu tổ chức theo sản phẩm
6
a) ưu điểm
- Trong mô hình, việc quy trách nhiệm đối với các mục tiêu cuối cùng
tương đối dễ dàng và việc phối hợp hành động giữa các phòng ban chức năng
cho mục tiêu cuối cùng có hiệu quả hơn.
- Mô hình cũng tạo điều kiện cho đội ngũ cán bộ quản lý chung phát triển
năng lực quản lý và quan tâm hơn đến các đề xuất, sáng kiến đổi mới công
nghệ.
- Do phân chia theo nhóm sản phẩm nên các khách hàng của từng nhóm
cũng được quan tâm hơn và được hưởng nhiều quyền lợi hơn.
b) Nhược điểm
- Cũng giống như mô hình cơ cấu tổ chức theo khách hàng, trong mô hình
cơ cấu tổ chức theo cũng xảy ra sự cạnh tranh giữa các tuyến sản phẩm và có
thể dẫn đến thiệt hại cho chính tổ chức.
- Để mô hình có thể vận hành tốt cần nhiều người có năng lực quản lý chung
đứng đầu các tuyến sản phẩm và cũng chính điều này làm cho việc thực hiện
các dịch vụ hỗ trợ tập chung trở nên khó khăn và làm nảy sinh khó khăn đối
với việc kiểm soát của cấp quản lý cao nhất.
1.1.4. Cơ câu tổ chức theo địa dư
Mô hình này phổ biến ở các tổ chức hoạt động trên phạm vi địa lý
rộng. Các doanh nghiệp thường sử dụng mô hình này khi cần tiến hành các
hoạt động giống nhau ở các khu vực địa lý khác nhau.
a) Ưu điểm
- Mô hình giúp cho tổ chức chú ý được đến nhu cầu thị trường và những vấn
đề địa phương, có được thông tin thị trường tốt hơn, tận dụng được các nguồn
tìm ra thuốc mới cũng được nhiều nước quan tâm bởi lẽ, thuốc là một loại
hàng hoá đặc biệt, sức tiêu thụ của nó phụ thuộc vào một trong các yếu tố
chính là mô hình bệnh tật. Mô hình bệnh tật cũng thay đổi theo mức sống, lối
sống, không gian và cả thòi gian. Ngoài ra, cũng vói những bệnh đó, những
tiến bộ trong công tác điều trị đòi hỏi những loại thuốc mới hiệu lực hơn, ít tác
dụng phụ hơn. Hàng năm, thế giới đã chi hàng tỉ USD cho hoạt động nghiên
cứu phát triển thuốc mới (R&D). Kinh phí nghiên cứu và phát triển chiếm từ
15% đến 20% doanh số ở một hãng sản xuất.Theo kết luận của một nghiên
cứu thuốc ở Boston (Mỹ), chi phí trung bình để triển khai một thuốc mới đã
tăng lên gấp đôi trong thập kỷ qua, tới 802 triệu USD, mà việc tăng chi phí
chủ yếu là để thử lâm sàng [3]
9
về kinh doanh, trong năm qua, doanh số bán thuốc toàn cầu đã tăng
8%, từ 400,6 tỷ USD lên 466.3 tỷ USD tính từ 11/2003 đến l/2004.Trong
đó thị trường Bắc Mỹ bao gồm Mỹ và Canada là thị trường dẫn đầu chiếm
51% doanh số bán toàn cầu với mức tăng trưởng cao nhất (12%). Nhóm
thuốc chính mang lại doanh số bán và mức tăng trưởng cao cho thị trường
Bắc Mỹ là nhóm thuốc tác động lên thần kinh trung ương.Với tỷ lệ tăng
trưởng là 17%. Con số đó cũng cho thấy sự vững mạnh của nền sản xuất
kinh doanh dược phẩm của Mỹ vì trước đây khi còn là một thị trường đơn
quốc gia, Mỹ vẫn luôn đứng đầu trong bảng xếp hạng 10 thị trường có
doanh số bán cao nhất toàn cầu. Số liệu cũng cho thấy sự chênh lệch giữa
các khu vực trên thế giới: khu vực châu Á, châu Phi và châu úc tuy tỉ lệ
tăng trưởng rất cao (12%) nhưng doanh số bán lại rất thấp, vì vậy, đây là
những thị trường đang phát triển và rất cần sự đầu tư của các thị trường
khác đã lớn mạnh và ổn định. Ngược lại, thị trường Nhật Bản với doanh số
rất cao lại có tỉ lệ tăng trưởng thấp nhất (3%) do có kinh tế ổn định và dân
số không tăng [18], [19].
Bảng 1.1. Doanh số bán thuốc toàn cầu theo khu vực năm 2003
Khu vực
thuốc để điều trị các bệnh phổ biến ở các nước phát triển nơi mức sống của
người dân cao. Việc dẫn đầu của nhóm thuốc hạ Cholesterol & Triglycerid
máu đã được dự báo trước trong năm 2002, thay thế vị trí dẫn đầu của nhóm
thuốc chống loét trong 5 năm liên tục. Nhóm thuốc ung thư xuất hiện trong
bảng xếp hạng với vị trí thứ hai cho thấy sự thành công của nhóm thuốc này
trong việc điều trị và sự gia tăng về bệnh ung thư trên thế giới.
Nhóm thuốc tạo máu (erythropietins) và nhóm thuốc thần kinh (CNS)
có mức tăng trưởng cao nhất với doanh số bán chiếm 14% doanh số bán
toàn cầu. Thuốc bán chạy nhất trong năm qua là sản phẩm Lipitor của hãng
Pfizer trị giá 10,3 tỷ $ với tỷ lệ tăng trưởng 14%. Nexium có tỷ lệ tăng
trưởng cao nhất 62%
Bảng 1.2.10 nhóm thuốc dẫn đầu về doanh sô bán trên thế giói năm 2003
TT
Nhóm thuốc
DSB 2003
(tỷ USD)
%DSB
toàn cầu
%tăng
trưởng
1
Hạ cholesterol & triglycerid 26,1
6% +14%
2 Chống ung thư
24,3
5
+9
3
Chống trầm cảm
19,5 4
Bảng 1.3.10 sản phẩm dẫn đầu về doanh số bán năm 2003
Vị
tri
Biệt dược DSB 2003
(tỷ USD)
%DSB
toàn cầu
%tăng
trưởng
1 Lipitor
10,3 2%
+ 14%
2 Zocor
6,1
1
-4
3
Zyprexa 4,8 1
+13
4
Novarc 4,5 1 +7
5
Erypo 4,0 1
+13
6
Ogastro/Prevacid
4,0
1
0
7 Nexium
đã mạnh dạn đầu tư đổi mới công nghệ đồng bộ, hiện đại, cải tạo xây dựng lại
cơ sở sản xuất, thực hiện tiêu chuẩn GMP của khối Asean. Tính đến
31/12/2003, đã có 41 xí nghiệp, cơ sở sản xuất được Cục Quản lý Dược cấp
chứng chỉ đạt tiêu chuẩn GMP của khối Asean.
Về năng lực sản xuất, cho đến tháng 12/2003, có 5875 thuốc được cấp
số đăng ký sản xuất trong nước với tổng số hoạt chất đưa vào sản xuất lên tói
398. So với năm 2002, sản xuất dược phẩm tăng 20,67%, nộp ngân sách tăng
17,85%. Thuốc sản xuất trong nước chiếm 39,74% giá trị sản lượng tiêu dùng
(năm 2002 là 38,10%).
Bảng 1.4. Giá trị tổng sản lượng thuốc của Việt nam từ năm 1998-2003
Năm Giá trị tổng sản lượng
Doanh số(tỷ VNĐ)
ss định gốc(%)
ss liên hoàn(%)
1998 1485,17 100,0 100,0
1999
1727,50
116,32 116,32
2000 2314,81 155,86 135,56
2001
2657,415 178,93 114,80
2002 3144,158 211,70
118,32
2003
3424,357
230,57
108,91
Nguồn Cục Quản lý Dược Việt Nam
Giá trị xuất khẩu cũng tăng 5,31%, cơ cấu hàng xuất khẩu đã chuyển
đổi tích cực theo hướng tăng giá trị thuốc thành phẩm tân dược và đông dược.
Mặc dù sản xuất thuốc trong nước có nhiều tiến bộ nhưng thuốc nước
ngoài vẫn chiếm hơn 60% giá trị sử dụng hằng năm. Sự có mặt của các
CTDPNN làm tăng nguồn cung cấp thuốc, bảo đảm đáp ứng đủ nhu cầu về
thuốc cho nhân dân, chất lượng chủng loại thuốc không ngừng được nâng
cao.Trong danh mục thuốc thiết yếu mói nhất của Việt Nam ban hành ngày
14
28/7/1999, thuốc nước ngoài giữ một vị trí quan trọng trong việc đảm bảo đủ
cơ số TTY với 118 hoạt chất (chiếm 43%so với tổng số hoạt chất TTY), chủ
yếu là thuốc chuyên khoa sâu: thuốc tim mạch, thuốc chống ung thư và suy
giảm miễn dịch, thuốc gây mê nhưng chỉ có 57 hoạt chất được CTDPNN
chính thức đăng ký nhập khẩu với 358 SDK, số còn lại được nhập khẩu qua
đường không chính thức hoặc bằng con đường viện trợ [11].
Ngoài hình thức hoạt động là bán hàng tại Việt Nam, các CTDPNN còn
tham gia vào đầu tư sản xuất. Hiện có 28 dự án có vốn đầu tư nước ngoài
trong đó có 10 dự án liên doanh. Giá trị sản lượng của các công ty liên doanh
tăng trưởng đều đặn, năm 2002, sản lượng của 9 liên doanh chiếm 14,70%
tổng giá trị sản lượng và đạt 22,52% doanh thu của toàn ngành dược [5].
Nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã hoàn thành việc xây dựng cơ
sở hạ tầng và đi vào sản xuất đóng góp một phần đáng kể vào năng lực sản
xuất dược phẩm Việt Nam, làm phong phú thêm danh mục thuốc nội địa và
chiếm được lòng tin của người tiêu dùng Việt Nam [4]. Ưu điểm của các
thuốc sản xuất tại Việt Nam là chất lượng cao tương đương thuốc nhập ngoại,
giá cao hơn các mặt hàng đồng loại của các xí nghiệp nội địa khác, nhưng vẫn
thấp hơn giá hàng nhập, số lượng và chủng loại các thuốc lớn vừa đáp ứng nhu
cầu nội địa, vừa xuất khẩu để giảm giá thành mà vẫn đảm bảo chất lượng từ
đó đem lại doanh số và lợi nhuận ngày càng cao cho các công ty. Sự nhạy bén
của các CTDPNN với thị trường và mô hình bệnh tật của Việt Nam giúp cho
các công ty này đưa vào thị trường nước ta nhiều thuốc mới với các chiến lược
sản phẩm và cách thức xâm nhập thị trường hiệu quả [13].
Về chất lượng thuốc, trong số hơn 200 CTDPNN đang hoạt động tại
+ Không được mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thương mại
16
+ Không được ký kết hợp đồng thương mại trừ trường hợp có giấy uỷ quyền
hợp pháp của thương nhân nước ngoài
+ Nộp thuế, phí, lệ phí theo quy định của pháp luật Việt nam
+ Báo cáo hoạt động của văn phòng đại diện theo quy định của pháp luật Việt
nam.
Tại điều 12 thông tư số 17/2001/BYT-TT ngày 01/08/2001 hướng dẫn
DNNN đăng ký hoạt động về thuốc và nguyên liệu làm thuốc tại Việt Nam có
quy định quyền của các DNNN như sau [6]:
+ Đứng tên là nhà đăng ký nước ngoài khi đăng ký thuốc, nguyên liệu thuốc
của các nhà sản xuất với Bộ Y tế Việt Nam.
+ Cung cấp thuốc, nguyên liệu thuốc vào Việt Nam dưới hình thức ký kết hợp
đồng xuất nhập khẩu với các doanh nghiệp xuất khẩu thuốc của Việt Nam.
+ Mở hội thảo khoa học, trao đổi kinh nghiệm chuyên môn, trao đổi thông tin
và quảng cáo thuốc theo quy định của Bộ Y tế.
Về trách nhiệm của doanh nghiệp nước ngoài đăng ký hoạt động về
thuốc và nguyên liệu làm thuốc tại Việt Nam, điều 13 quy định doanh nghiệp
phải chấp hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật Việt Nam, các quy định
quản lý nhà nước của Bộ Y tế, Cục Quản lý dược Việt Nam, không được cung
cấp vào Việt Nam các thuốc không được phép lưu hành tại Việt Nam, thuốc
giả, thuốc không đạt chất lượng, không được phân phối trực tiếp tại Việt Nam
dưới bất kỳ hình thức nào. Ngoài ra, doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm hoàn
toàn trước cơ quan quản lý nhà nước và người tiêu dùng về chất lượng thuốc
đã cung cấp vào Việt Nam, bồi thường cho người tiêu dùng và các đối tác Việt
Nam trong các trường hợp thiệt hại do lỗi của doanh nghiệp cung cấp thuốc
gây ra theo quy định của pháp luật. Hàng năm, doanh nghiệp phải có trách
nhiệm báo cáo với Bộ Y tế Việt Nam về hoạt động buôn bán thuốc với
Phần 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
chiếu với các văn bản pháp lý liên quan.
+ Kết quả nghiên cứu được trình bày: Microsoít Word 98 for Window.
19