Bước đầu nghiên cứu phân loại chi dương xỉ gỗ (alsophila r br ) ở việt nam - Pdf 30



TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
BẠCH THỊ THẢO

BƢỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU PHÂN LOẠI
CHI DƢƠNG XỈ GỖ (ALSOPHILA R. Br.)
Ở VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Thực vật học Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
TS. ĐỖ THỊ XUYẾN
HÀ NỘI, 2015


Để đảm bảo tính trung thực của khóa luận, tôi xin cam đoan:
Khóa luận “Bƣớc đầu nghiên cứu phân loại chi Dƣơng xỉ gỗ
(Alsophylla R. Br.) ở Việt Nam” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi,
được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Đỗ Thị Xuyến và TS. Hà Minh
Tâm. Các kết quả trình bày trong khóa luận là trung thực và chưa được công
bố trong bất kỳ công trình nào trước đây.

ĐHSP Hà Nội 2, ngày 10/ 05/ 2015
SINH VIÊN Bạch Thị Thảo

MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: Tổng quan tài liệu 3

1. Lý do chọn đề tài
Thế giới thực vật vô cùng phong phú và đa dạng. Trên thế giới cũng
như ở Việt Nam đã có rất nhiều chuyên ngành khoa học nghiên cứu về thực
vật. Trong đó, chuyên ngành Phân loại thực vật đóng vai trò nền tảng. Phân
loại thực vật một cách chính xác sẽ giúp các ngành khoa học khác lựa chọn
đúng đối tượng.
Chi Dương xỉ gỗ (Alsophila R. Br.) còn gọi là Ráng gỗ, Dương xỉ mộc,
thuộc họ Dương xỉ gỗ (Cyatheaceae.). Ở Việt Nam, tuy là một chi nhỏ, nhưng
chúng thường có mặt trong các hệ sinh thái rừng nguyên sinh, rừng thứ sinh,
đóng vai trò quan trọng trong tầng dưới tán rừng; cho đến nay một số loài
thuộc chi này được ghi nhận sử dụng làm thuốc, nhiều loài cho thân làm giá
thể trồng Lan. Cho nên, bên cạnh giá trị về khoa học, các loài thuộc chi
Dương xỉ gỗ còn có giá trị về kinh tế.
Để chuẩn bị cho việc nghiên cứu một cách toàn diện về phân loại chi
Dương xỉ gỗ (Alsophila R. Br.) ở Việt Nam và góp phần cung cấp dữ liệu cho
việc nhận biết, sử dụng các loài thuộc chi này, chúng tôi đã tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Bƣớc đầu nghiên cứu phân loại chi Dƣơng xỉ gỗ (Alsophila R.
Br.) ở Việt Nam”.
2. Mục đích nghiên cứu
Hoàn thành công trình khoa học về phân loại chi Dương xỉ gỗ
(Alsophila R. Br.) ở Việt Nam một cách có hệ thống, làm cơ sở cho việc
nghiên cứu họ Dương xỉ gỗ (Cyatheaceae) phục vụ cho việc biên soạn Thực
vật chí Việt Nam và cho những nghiên cứu có liên quan.
3. Nội dung nghiên cứu
- Phân tích các hệ thống phân loại và vị trí của chi Dương xỉ gỗ
(Alsophila R. Br.) trên thế giới, từ đó lựa chọn hệ thống phù hợp để sắp xếp
2
chi Dương xỉ gỗ (Alsophila R. Br.) và các loài thuộc chi Dương xỉ gỗ
(Alsophila R. Br.) ở Việt Nam.
- Xây dựng bản mô tả chi Dương xỉ gỗ (Alsophila R. Br.) ở Việt Nam.

Chi Dương xỉ gỗ được R. Brown đặt tên là Alsophyla vào năm 1810
trong công trình "Prodr.". Thực chất, đây là một nhóm loài được tách ra từ chi
Cyathea do có cùng đặc điểm bề mặt của thân luôn luôn có các đường gờ, vẩy
trên thân và trên cuống lá có mép nghĩa là các tế bào nằm ở mép của vẩy có
hình dạng và kích thước khác hẳn các tế bào bên trong giữa vẩy (khác hẳn với
chi Cyathea là có đặc điểm vẩy không có mép, các tế bào trên vẩy thường có
hình dạng và kích thước như nhau), cuống lá có nốt sần đậm màu hay có gai.
Về sau, có khá nhiều công trình nghiên cứu về chi này. Các quan điểm về việc
có tồn tại độc lập chi Alsophyla hay không cũng còn nhiều ý kiến. Đáng lưu ý
là một số công trình như:
F. C. How (1956) trong công trình "Flora Cantonia" đã nghiên cứu các
loài thuộc chi Alsophila thuộc khu vực Cantonia. Tác giả đã đặt chi Alsophyla
vào họ Ráng gỗ (Cyatheaceae) cùng một số chi khác như Sphaeropteris,
Cyathea, [24]
A. Takhtazan (1978) khi nghiên cứu về họ chi Cyatheaceae trên toàn
thế giới đã đưa ra quan điểm chi Alsophyla là một chi độc lập, thuộc họ
Cyatheaceae. [29]
Tagawa & K. Iwats (1979) khi nghiên cứu về hệ thực vật của Thái Lan
trong cuốn "Flora of Thailand" đã đề cập tới một số loài thuộc chi Cyathea
mà hiện nay đã được chuyển sang chi Alsophila như Cyathea chinensis,
Cyathea latebrosa, Cyathea spinulosa, Cyathea podophylla, Cyathea
gigantea, Cyathea contaminans. Trong công trình này, tác giả đã xây dựng
khóa định loại các loài và mô tả chi tiết về đặc điểm sinh học, sinh thái, và
phân bố các loài ở Thái Lan cùng một số hình ảnh minh họa. [28]
4
K. U. Kramer (1990) (Kubitzki K. chủ biên) trong công trình "The
families and Genera of Vascular Plants" đã đưa ra quan điểm không chấp
nhận sự tồn tại của chi Alsophyla do nhiều đặc điểm của áo túi còn chưa được
rõ ràng. Tác giả đi theo quan điểm họ Cyatheaceae chỉ tồn tại duy nhất một
chi là Cyathea. Các chi khác như Alsophyla, Sphaeropteris đều được nhập lại

1.2. Ở Việt Nam
Người đầu tiên nghiên cứu về các loài thuộc chi Dương xỉ gỗ phải kể
đến Tardieu-Blot & C.Chr (năm 1939) trong công trình "Flore Genneral
D'Indo - Chine". Tác giả đã mô tả chi tiết về đặc điểm sinh học, sinh thái và
phân bố của 8 loài có ở Đông Dương là: Cyathea glabra, Cyathea metteniana,
Cyathea brunoniana, Cyathea contaminans, Cyathea latebrosa, Cyathea
podophylla, Cyathea saletti và Cyathea spinosa, trong đó có 7 loài có phân bố
ở Việt Nam là Cyathea glabra, Cyathea metteniana, Cyathea salleti, Cyathea
contaminans, Cyathea latebrosa, Cyathea bruniana, Cyathea podophylla. Sau
công trình này, chỉ có một số ít công trình nghiên cứu về các loài thuộc chi
Dương xỉ gỗ như:
Phạm Hoàng Hộ (năm 1991, tái bản năm 1999) đã đề cập đến các loài
thuộc chi Dương xỉ gỗ trong cuốn sách “Cây cỏ Việt Nam”. Trong công trình
này, tác giả đã công bố chi Dương xỉ gỗ ở Việt Nam có 10 loài là Cyathea
brunoniana, Cyathea chinensis, Cyathea gigantea, Cyathea latebrosa,
Cyathea metteniana, Cyathea spinulosa, Cyathea podophylla, Cyathea
contaminans, Cyathea salleti và Cyathea borneensis. Mỗi loài, tác giả đã nên
vắn tắt các đặc điểm hình thái, sinh học, phân bố, giá trị và kèm theo hình vẽ
minh họa đơn giản của các loài. Trong đó đáng lưu ý có 2 loài là Cyathea
6
borneensis và Cyathea brunoniana không có các thông tin mô tả, hình ảnh,
loài Cyathea borneensis chỉ đưa ra tên và không có bất kỳ thông tin khác kèm
theo [10 và 11].
Năm 2001, Phan Kế Lộc đã đề cập tới chi Dương xỉ gỗ trong cuốn
“Danh lục các loài thực vật Việt Nam” tập 1. Tác giả đã ghi nhận ở Việt Nam
có 8 loài là Cyathea chinensis (mà có tên đồng nghĩa là Cyathea brunoniana),
Cyathea gigantea (có tên đồng nghĩa là Cyathea glabra), Cyathea latebrosa,
Cyathea metteniana, Cyathea spinulosa, Alsophila salleti, Alsophila
podophylla, Cyathea contaminans. Mỗi loài, tác giả trình bày tên gọi cùng với
đặc điểm sinh học, phân bố, giá trị của chúng. Khi đó, tác giả vẫn xếp các loài

năm, về danh pháp một số loài hiện có nhiều thay đổi, các dẫn liệu vẫn chưa
đầy đủ, nhất là các thông tin về phân bố, sinh thái Chính vì vậy, công trình
nghiên cứu: “Bƣớc đầu nghiên cứu phân loại chi Dƣơng xỉ gỗ (Alsophila
R. Br.) ở Việt Nam” của chúng tôi nhằm mục đích cung cấp các dẫn diệu
một cách đầy đủ và có hệ thống về phân loại các loài thuộc chi Dương xỉ gỗ
(Alsophila R. Br.) ở Việt Nam. 8
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI, THỜI GIAN
VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Các loài thuộc chi Dương xỉ gỗ (Alsophila R. Br.) ở Việt Nam, dựa
trên cơ sở mẫu vật và tài liệu.
Tài liệu: Các tài liệu về chi Dương xỉ gỗ (Alsophila R. Br.) trên thế
giới và của Việt Nam, nhất là các chuyên khảo về phân loại.
Mẫu vật: Các mẫu vật thực vật thuộc chi Dương xỉ gỗ (Alsophila R. Br.) ở
Việt Nam, hiện được lưu giữ ở các phòng tiêu bản thực vật như Phòng tiêu bản thực
vật thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật (HN), phòng tiêu bản thực vật
thuộc Khoa Sinh học, trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà
Nội (HNU), phòng tiêu bản thực vật thuộc Viện Dược liệu, Hà Nội (HNPM).
Việc phân tích mẫu vật được tiến hành tại phòng Thực vật (Viện Sinh
thái và Tài nguyên Sinh vật). Tổng số mẫu nghiên cứu tại phòng Tiêu bản
Thực vật (Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật) là 106 số hiệu với hơn 167
tiêu bản. Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo 35 mẫu tiêu bản ở phòng tiêu bản
thực vật thuộc trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội
(HNU), 96 mẫu tiêu bản ở Viện Dược liệu (HNPM) và một số mẫu thu thập
được trong khi điều tra thực địa cùng các ảnh chụp mẫu vật trên internet.
2.2. Phạm vi nghiên cứu: Khắp cả nước

Bước 3: Tham gia các chuyến điều tra, nghiên cứu thực địa để thu
thêm mẫu, tìm hiểu thêm về sinh thái học, sự phân bố và các thông tin có
liên quan khác.
10
Bước 4: Tổng hợp kết quả nghiên cứu, mô tả các đặc điểm chung của
chi, xây dựng khoá định loại, mô tả các phân chi và các loài, chỉnh lý phần
danh pháp theo luật danh pháp quốc tế và cuối cùng hoàn chỉnh các nội dung
khoa học khác của đề tài.
- Soạn thảo chi và các loài dựa theo quy ước quốc tế về soạn thảo thực
vật và quy phạm soạn thảo thực vật chí Việt Nam, thứ tự như sau:
Thứ tự soạn thảo chi: Tên khoa học chính thức kèm theo tên tác giả
công bố tên gọi, tên Việt Nam thường dùng, trích dẫn lại tên tác giả công bố
tên khoa học, năm công bố, tài liệu công bố, số trang, tài liệu chính và các tài
liệu ở Việt Nam đề cập đến, các tên đồng nghĩa (nếu có), tên Việt Nam khác
(nếu có), mô tả, loài typ của chi, ghi chú (nếu có).
Thứ tự soạn thảo loài: Tên khoa học chính thức kèm theo tên tác giả
công bố tên gọi, tên Việt Nam thường dùng, trích dẫn lại tên tác giả công bố
tên khoa học, năm công bố, tài liệu công bố, số trang, tài liệu chính và các tài
liệu ở Việt nam đề cập đến, tên đồng nghĩa gốc (nếu có), các tên đồng nghĩa
(nếu có), tên Việt Nam khác (nếu có), mô tả, địa điểm thu mẫu chuẩn (Loc.
class.), mẫu vật chuẩn (Typus) kèm theo nơi bảo quản (theo quy ước quốc tế),
sinh học và sinh thái, phân bố, mẫu nghiên cứu, giá trị sử dụng, ghi chú (nếu có).
- Cách mô tả: Mô tả liên tục những đặc điểm cơ bản theo nguyên tắc
truyền tin ngắn gọn, theo trình tự từ cơ quan dinh dưỡng (dạng sống, cành,
lá, ) đến cơ quan sinh sản (cụm hoa, cấu trúc của hoa, quả, hạt).
Để xây dựng bản mô tả cho một loài, chúng tôi tập hợp các số liệu đã
phân tích về loài đó sau đó so sánh với tài liệu gốc, các chuyên khảo và mẫu
typ (nếu có), từ đó xác định các tiêu chuẩn và dấu hiệu định loại cho loài. Bản
mô tả chi được xây dựng trên cơ sở tập hợp các bản mô tả của các loài trong
chi. Nếu bản mô tả này có sự khác biệt so với tài liệu gốc và các tài liệu khác

- Về sự tồn tại của chi Alsophyla R. Br. cho đến nay được hầu hết các
tác giả nghiên cứu về Dương xỉ gỗ trên thế giới đồng ý. Theo đó đặc điểm về
mặt hình thái kết hợp với đặc điểm về sinh học phân tử đã cũng cố vững chắc
cho quan điểm về sự tồn tại độc lập của chi Alsophyla. Các đặc điểm về hình
thái của vẩy trên thân và cuống lá là đặc điểm lớn, dễ nhận biết, liên quan chặt
chẽ đến quá trình phát triển của nhóm loài.
- Về vị trí: Hầu hết các tác giả đều xếp chi Dương xỉ gỗ (Alsophila R.
Br.) vào họ Dương xỉ gỗ (Cyatheaceae) như A. Takhtazan (1978), Alan Smith
và cộng sự (2006), Phan Kế Lộc (2011), Lữ Thị Ngân (2011),
Chính vì vậy, khi nghiên cứu chi Dương xỉ gỗ (Alsophila R. Br.) ở
Việt Nam, tôi đã đi theo quan điểm này để xác định giới hạn và vị trí của chi
và sắp xếp các loài thuộc chi Dương xỉ gỗ ở Việt Nam. Trên cơ sở các quan
điểm trên chi Dương xỉ gỗ (Alsophila R. Br.) ở Việt Nam có 7 loài, được xếp
13
vào họ Dương xỉ gỗ (Cyatheacea), lớp Dương xỉ (Polypodiidae), ngành
Dương xỉ (Pteridophyta, Polypodiophyta).
3.2. Đặc điểm phân loại chi Dƣơng xỉ gỗ (Alsophila R. Br.) ở Việt Nam.
3.2.1. Dạng sống
Cây thân dạng cột, có thể cao tới 20 m hay hơn nhưng chủ yếu gặp độ
cao khoảng 3-7 m; thân thẳng, không phân nhánh, thường mang nhiều cuống
lá tồn tại sau khi lá rụng nên nhìn từ xa như tạo thành các "vảy" lớn, trên thân
còn có các vảy mỏng màu nâu hay đen.
3.2.2. Lá
Lá đơn, mọc cách, tập trung ở đỉnh của thân, lá mọc xít lại với nhau nên
tạo thành dạng lá mọc vòng; kích thước lá thường rất lớn, xẻ thùy lông chim 2
(A. podophylla) hay 3 lần (Alsophyla spinulosa, Alsophyla chinensis, ), lá
chét mang nhiều lá chét con; lá chét con có cuống rõ rệt (A. metteniana) hay
không có cuống (A. gigantea, A. latebrosa, ). Thùy lá chét con nguyên (A.
podophylla) hoặc xẻ thùy (Alsophyla spinulosa, A. gigantea, ); gân bên thùy
lá chét con có thể chia đôi (Alsophyla latebrosa, Alsophyla spinulosa,

từ hình cầu hoặc có ba cạnh, nàu nâu sáng, có ba rãnh. Nguyên tản lưỡng tính.
Trên thế giới có khoảng 230 loài, phân bố khắp miền nhiệt đới, đôi khi
có thể mở rộng vào vùng ôn đới, trong các khu rừng ẩm ướt trên sườn núi
hoặc trong khe núi. Khoảng 20 loài có ở Châu Á, ở Việt Nam có 7 loài, mọc
rải rác trong rừng nguyên sinh và thứ sinh. [22]
15

Hình 3.1. Hình dạng lá của chi Alsophyla R. Br.
Loài Alsophilla podophylla
(Ảnh: Đỗ Thị Xuyến chụp tại Tam Đảo, Vĩnh Phúc)

3.3. Khoá định loại các loài thuộc chi Dƣơng xỉ gỗ (Alsophila R. Br.) ở
Việt Nam.
3.3.1. Xây dựng bảng so sánh các đặc điểm:
Trên cơ sở nghiên cứu các đặc điểm hình thái của các loài thuộc chi
Alsophyla, chúng tôi đã lập bảng so sánh các đặc điểm khác nhau của các loài.
Chi tiết được chỉ ra ở bảng sau:
16
Bảng 1. So sánh các đặc điểm hình thái của các loài thuộc chi Dƣơng xỉ
gỗ (Alsophila R. Br.) ở Việt Nam (bảng khóa mở)
Đặc điểm
A. costularis
A. gigantea
A. latebrosa

+
-
-, 0
Lá chét con xẻ sâu (+),
chỉ phân thùy (0)
+
+
+
+
0
+
+
Gân bên thùy lá chét
con
Chia
đôi
Nguyên
Chia
đôi
Chia
đôi
Chia
đôi
Chia
đôi
Chia
đôi
Mép lá chét con có răng
cưa (+), không có (0)
+

đen
Nâu
đậm
Vàng,
Nâu
Đỏ tía
sẫm
Đỏ,
nâu
Nâu,
đen
Chiều dài phiến lá (m)
1-1,5
2-3
1,5-2,5
2,5-4
1,5-3
3 - 4
2-5
Túi bào tử có áo túi (+),
không có (0)
+
0
+
0
0
0
+
Hình dạng bào tử
Hình

dài đến 2-3 mm 7. A. spinulosa
1B. Cuống và gân lá màu đen hoặc màu nâu đỏ, không có gai, ổ túi bào tử
không có vỏ bao bọc.
4A. Lá chét con có kích thước lớn, chiều dài thường > 12 cm, có thùy
nông hay gần như nguyên 5. A. podophylla
4B. Lá chét con có kích thước nhỏ, chiều dài thường <12 cm, chia thùy
hay xẻ thùy sâu quá 1/2 của thùy lá
5A. Trên gân ở mặt dưới của lá chét con có các vảy dạng vảy thịt.
6. A. salleti
5B. Trên gân ở mặt dưới của lá chét con không có các vảy dạng vảy
thịt.
6A. Lá chét con có cuống ngắn hay gần như không, gân bên
nguyên, có lông dày mặt dưới 2. A. gigantea
6B. Lá chét con có cuống rõ rệt, gân bên chia đôi, không lông mặt
dưới. 4. A. mettenniana 18
3.4. Đặc điểm phân loại các loài thuộc chi Dƣơng xỉ gỗ (Alsophilla R.
Br.) ở Việt Nam.
3.4.1. Alsophila costularis Baker - Dương xỉ gỗ tàu
Baker, 1906. Bull. Misc. Inform. Kew. 1906: 8; P. K. Loc, 2010. J.
Fairylake Bot. Gard. 9(3): 5; Nanxicun Xiangshan & Harufumi Nishida, 2013.
Fl. Chin. 2-3: 136.
– Cyathea chinensis Copel. 1909; Phamh. 1991. Illustr. Fl. Vietn. 2(1):
74; Phamh. 1999. Illustr. Fl. Vietn. 2: 118; Tagawa & K. Iwats. 1979.
Fl. Thail. 3: 102; P. K. Loc, 2003. Checkl. Pl. Sp. Vietn. 1: 985.
– Cyathea brunoniana auct. non (Wall. ex Hook.) C.B. Clarke &
Baker: Tardieu & C. Chr., 1939. Fl. Gen. Indo-Chine, 7(2): 86.
_ Ráng tiên tọa trung quốc


20 (1) (2)

(3) (4) (5)
Ảnh 3.1. Alsophila costularis Baker
1. Lá ; 2. mặt trên của lá; 3. mặt dưới của lá; 4. ổ túi bào tử ; 5. Bào tử
(Ảnh B. T. Thảo, chụp theo mẫu HLF 8608, HN)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status