Nghiên cứu soạn thảo câu hỏi trắc nghiệm khách quan phần di truyền phân tử và đột biến gen để kiểm tra đánh giá chất lượng sinh viên khoa sinh KTNN, đại học sư phạm hà nội 2 - Pdf 30



TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
====== PHẠM THỊ THU DUNG NGHIÊN CỨU SOẠN THẢO CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM
KHÁCH QUAN PHẦN DI TRUYỀN PHÂN TỬ
VÀ ĐỘT BIẾN GEN ĐỂ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ
CHẤT LƢỢNG SINH VIÊN KHOA SINH - KTNN,
ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Di truyền học

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS. NGUYỄN VĂN LẠI HÀ NỘI, 2015

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP PHẠM THỊ THU DUNG
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 i LỚP K37A - SINH
LỜI CẢM ƠN

Ngƣời thực hiện Phạm Thị Thu Dung
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP PHẠM THỊ THU DUNG
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 iii LỚP K37A - SINH
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN

ADN : Axit deoxiribonucleic.
ARN : Axit ribonucleic.
DI : Độ phân biệt của mỗi câu hỏi trắc nghiệm.
ĐHSP : Đại học Sƣ phạm.
GS : Giáo sƣ.
KTĐG : Kiểm tra đánh giá.
KTNN : Kỹ thuật nông nghiệp.
NST : Nhiễm sắc thể.
P : Độ khó của mỗi câu hỏi trắc nghiệm.
THPT : Trung học phổ thông. KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP PHẠM THỊ THU DUNG
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 v LỚP K37A - SINH
DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình
Tên hình
Trang
Hình 1.1
Sơ đồ phân loại trắc nghiệm trong giáo dục
8
Hình 3.1
Độ khó kiểm tra đƣợc qua thực nghiệm
46
Hình 3.2
Độ phân biệt kiểm tra đƣợc qua thực nghiệm
48


2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu 15
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 21
3.1. Kết quả nghiên cứu soạn thảo câu hỏi trắc nghiệm 21
3.2. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm 45
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
PHỤ LỤC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP PHẠM THỊ THU DUNG
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 1 LỚP K37A - SINH
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, di truyền học phân tử đã phát triển mạnh
mẽ nhƣ vũ bão với đỉnh cao là sự kiện hoàn tất giải kí tự chuỗi bộ gen ngƣời
vào năm 2003, nhân kỉ niệm 50 năm phát minh chuỗi xoắn kép ADN. Ngoài
ra, hàng loạt các công nghệ mới ra đời nhƣ genomics, proteomics, công nghệ
ARN, microarray, điều đó đã khẳng định đƣợc tầm quan trọng của di truyền
học - là khoa học trung tâm của sinh học. Đặc biệt là di truyền phân tử đã và
đang ngày càng đi sâu vào nghiên cứu và đời sống con ngƣời, nó đã giúp
nhiều gia đình tìm lại đƣợc ngƣời thân của mình sau tháng ngày lƣu lạc, giúp
các gia đình liệt sĩ tìm lại đƣợc thân nhân, giúp các nhà y học mở ra hƣớng
mới cho việc chăm sóc sức khỏe trong tƣơng lai và các bệnh “nan y” sẽ đƣợc
chữa trị . Vì vậy, sự hiểu biết về di truyền học nói chung và di truyền phân
tử nói riêng là điều hết sức quan trọng và cần thiết.
Trong bậc học phổ thông, có lẽ di truyền học là phần khó và chiếm vị
trí quan trọng trong chƣơng trình sinh học nên trong đề thi đại học có tới 50%
số câu hỏi của đề thi. Vì vậy, để các em có đƣợc hiểu biết cơ bản về phân tử
giúp các em hòa nhập đƣợc với sự phát triển của nhân loại, đạt đƣợc kết quả
cao trong các kỳ thi đại học và cao đẳng về mảng di truyền học thì chúng ta
phải chú trọng ngay từ đầu việc đào tạo đội ngũ nhà giáo có chuyên môn và

phạm Hà Nội 2 về di truyền phân tử và đột biến gen cho công tác kiểm tra
đánh giá giúp nâng cao chất lƣợng học tập nói chung và bộ môn di truyền học
nói riêng của sinh viên khoa Sinh, trƣờng ĐHSP Hà Nội 2.
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP PHẠM THỊ THU DUNG
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 3 LỚP K37A - SINH
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lý luận của việc xây dựng câu hỏi TNKQ.
- Tìm hiểu mục tiêu, kế hoạch giảng dạy và nội dung kiến thức về di
truyền phân tử và đột biến gen theo chƣơng trình dạy học bộ môn Sinh học ở
trƣờng ĐHSP Hà Nội 2. Từ đó xác định mục tiêu về nội dung kiến thức và
các mức độ kiến thức sinh viên cần đạt đƣợc.
- Soạn thảo hệ thống câu hỏi dạng đúng/sai dựa vào nội dung, mục tiêu
giảng dạy đã xác định.
- Thực nghiệm sƣ phạm: kiểm tra đánh giá sinh viên K38 khoa Sinh -
KTNN, trƣờng ĐHSP Hà Nội 2.
- Xử lí số liệu bằng cách xác định các tham số cơ bản: độ khó, độ phân
biệt của từng câu hỏi trắc nghiệm, độ tin cậy tổng thể của các câu hỏi trắc
nghiệm từ đó đánh giá, tìm ra những câu hỏi đạt yêu cầu sử dụng, những câu
hỏi chƣa đạt yêu cầu cần đƣợc điều chỉnh.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài đã khẳng định đƣợc vai trò của trắc nghiệm khách quan đối với
khâu kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên. Bằng việc sử dụng trắc
nghiệm khách quan trong kiểm tra đánh giá, kết quả học tập của sinh viên sẽ
đƣợc phản ánh chính xác, khách quan, ngăn ngừa việc học tủ, học lệch của
sinh viên, gây hứng thú học tập cho sinh viên, sinh viên có thể tự đánh giá
đƣợc bài làm của mình và đánh giá chéo cho bạn bè một cách khách quan.
TNKQ giúp cho sinh viên làm quen với phƣơng pháp học tập mới, phƣơng
pháp đánh giá mới, điều này có ý nghĩa rất lớn trong quá trình giảng dạy sau
này nhất là khi việc sử dụng trắc nghiệm khách quan trong các kỳ thi của môn
Sinh học ngày càng phổ biến. Đồng thời, phƣơng pháp đánh giá này cũng

nghiên cứu trẻ em mắc bệnh tâm thần, đã xây dựng một số bài trắc nghiệm về
trí thông minh. Năm 1916, Lewis Terman đã dịch và soạn các bài trắc nghiệm
này ra tiếng anh từ đó trắc nghiệm trí thông minh đƣợc gọi là trắc nghiệm
Stanford - Binet [8].
Năm 1919-1920, các trắc nghiệm thành quả học tập phát triển rất nhanh
chóng. Năm 1926-1931, đã có một số nhà Sƣ phạm ở Matxcơva, Kiew đã
dùng câu hỏi trắc nghiệm để chuẩn đoán tâm lý cá nhân và kiểm tra kiến thức
của học sinh. Năm 1935, khoa học đo lƣờng trắc nghiệm đã bƣớc thêm một
bƣớc dài trong lịch sử của mình khi việc chấm bài trắc nghiệm đƣợc thực hiện
bằng máy tính IBM [2].
Năm 1961, Hoa Kỳ đã có trên 2000 chƣơng trình trắc nghiệm chuẩn,
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP PHẠM THỊ THU DUNG
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 6 LỚP K37A - SINH
1963 đã xuất hiện Gerberid dùng máy tính điện tử để xử lý các kết quả trắc
nghiệm trên diện rộng cũng vào thời gian đó ở Anh có quyết định sử dụng
trắc nghiệm ở các trƣờng THPT [3].
Không chỉ phát triển ở các nƣớc Âu, Mỹ, TNKQ cũng trở nên chiếm ƣu
thế ở các nƣớc châu Á từ những năm 70 của thế kỷ XX. Rất nhiều nƣớc nhƣ:
Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, đã kết hợp sử dụng đề thi trắc
nghiệm khách quan trong các kỳ thi đại học, cao đẳng, các kỳ thi Olympic [2].
Tại các kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế, câu hỏi trắc nghiệm khách
quan đƣợc sử dụng ở cả nội dung lý thuyết và thực hành. Gần đây với sự phát
triển của khoa học công nghệ, nhiều nƣớc nhƣ Anh , Bỉ, Úc, đã cải tiến việc
thực hiện trắc nghiệm khách quan bằng cách gắn với công nghệ tin học, cài
đặt chƣơng trình chấm điểm, xử lý kết quả trên máy vi tính, Vì vậy, phƣơng
pháp trắc nghiệm trở nên hữu hiệu và ngày càng phổ biến [3].
1.1.2. Ở Việt Nam
Ở miền Nam, phƣơng pháp trắc nghiệm khách quan phát triển trƣớc tiên là
ở miền Nam. Từ những năm 1950, TNKQ đã rải rác áp dụng trong các trƣờng
học. Học sinh đã đƣợc tiếp xúc với TNKQ qua các cuộc khảo sát khả năng ngoại

Theo GS. Trần Bá Hoành: “Test có thể tạm dịch là phƣơng pháp trắc
nghiệm, hình thức đặc biệt để thăm dò một số đặc điểm về năng lực, trí tuệ
của học sinh (thông minh, trí nhớ, tƣởng tƣợng, chú ý) hoặc để kiểm tra
một số kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo của học sinh thuộc một chƣơng trình nhất
định” [2] .
Trong giáo dục, trắc nghiệm đƣợc tiến hành thƣờng xuyên ở các kỳ thi,
kiểm tra để đánh giá kết quả học tập, đối với một phần của môn học, toàn bộ
môn học, đối với cả một cấp học, trong các kỳ thi tuyển sinh.

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP PHẠM THỊ THU DUNG
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 8 LỚP K37A - SINH
1.2.2.Phân loại câu hỏi trắc nghiệm
Trong giáo dục phƣơng pháp trắc nghiệm có thể đƣợc phân loại nhƣ sau:
Hình 1.1. Sơ đồ phân loại trắc nghiệm trong giáo dục [9]
Theo sơ đồ trên, ta thấy trắc nghiệm trong giáo dục gồm nhiều dạng khác

Trả
lời
ngắn
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP PHẠM THỊ THU DUNG
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 9 LỚP K37A - SINH
1.3. Ƣu điểm và nhƣợc điểm của câu hỏi trắc nghiệm khách quan [9]
Để hiểu rõ ƣu điểm và nhƣợc điểm của phƣơng pháp trắc nghiệm, ngƣời ta
đã nghiên cứu và so sánh với phƣơng pháp tự luận truyền thống ở một số mặt
chính nhƣ sau:
STT
Vấn đề
Ƣu điểm thuộc phƣơng pháp
Trắc nghiệm
Tự luận
1
Ít tốn công ra đề.

x
2
Đánh giá đƣợc khả năng diễn đạt, đặc
biệt là tƣ duy trừu tƣợng.

x
3
Việc sáng tạo khi trả lời, không bị hạn
chế bởi một khung câu hỏi sẵn.

x
4
Đề thi phủ kín nội dung môn học.

thể nhƣ sau:

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP PHẠM THỊ THU DUNG
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 10 LỚP K37A - SINH
1.3.1. Ưu điểm
- Đề thi bao quát đƣợc chƣơng trình (ngăn ngừa việc học tủ, học lệch của
học sinh, sinh viên).
- Cho phép trong một thời gian nhất định có thể kiểm tra một lƣợng
thông tin lớn đối với ngƣời học, ngƣời học không thể chuẩn bị tài liệu để gian
lận, đặc biệt là khâu chấm thi bằng máy cho phép nhận đƣợc kết quả chính
xác, nhanh chóng và giảm chi phí cho việc chấm thi cũng nhƣ phúc khảo.
- Số lƣợng câu hỏi nhiều, đủ cơ sở để đánh giá chính xác trình độ của
ngƣời học.
- Gây hứng thú học tập cho ngƣời học. Ngƣời học có thể tự đánh giá
đƣợc bài làm của mình và đánh giá chéo cho bạn bè một cách khách quan.
1.3.2. Nhược điểm
Bên cạnh những ƣu điểm nổi bật trên, phƣơng pháp trắc nghiệm cũng
không tránh khỏi những hạn chế tất yếu của nó nhƣ:
- Hạn chế trong việc đánh giá khả năng lập luận.
- Có yếu tố ngẫu nhiên, may rủi, thí sinh có khuynh hƣớng đoán mò
đáp án.
- Ngƣời ra đề phải tốn nhiều công sức và thời gian.
- Tốn kém trong việc in ấn đề kiểm tra, ngƣời học mất nhiều thời gian để
đọc câu hỏi.
Sự tồn tại của những nhƣợc điểm trên cho thấy TNKQ không phải là một
phƣơng pháp tối ƣu, không thay thế đƣợc tất cả các phƣơng pháp kiểm tra,
đánh giá khác. Do đó, cần phải sử dụng phối hợp các phƣơng pháp kiểm tra
đánh giá khác để đánh giá ngƣời học một cách khách quan, toàn diện và đạt
hiệu quả cao nhất.
1.4. Vai trò và ứng dụng của phƣơng pháp trắc nghiệm trong giáo dục [9]

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP PHẠM THỊ THU DUNG
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 12 LỚP K37A - SINH
+ Dạng không có thân chung:
Ở dạng này, câu hỏi đúng/sai đƣợc viết dƣới dạng một loạt các câu hoàn
chỉnh. Nội dung của các câu này có thể cùng trong một chủ đề nhƣng cũng có
thể diễn đạt các chủ đề hoàn toàn khác nhau.
Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi soạn câu trắc nghiệm đúng/sai ở
dạng có thân chung.
1.5.1. Ưu điểm của câu hỏi trắc nghiệm dạng đúng/sai
- Đây là loại câu đơn giản nhất để trắc nghiệm kiến thức về những sự
kiện, mặc dù thời gian soạn thảo cần nhiều công phu nhƣng lại khách quan
khi chấm điểm.
- Có thể khảo sát đƣợc nhiều mảng kiến thức của ngƣời học trong một
khoảng thời gian ngắn.
- Nếu đƣợc viết đúng cách, loại câu hỏi này sẽ kiểm tra đƣợc nhiều khía
cạnh liên quan đến nhau của một vấn đề, một chất… .
- Câu trả lời của câu hỏi đúng/sai rất tin cậy, ở phía ngƣời học không
phải viết câu trả lời nhƣ câu hỏi dạng điền khuyết nên ngƣời chấm bài cho
điểm rất dễ và rất thống nhất.
1.5.2. Nhược điểm của câu hỏi trắc nghiệm dạng đúng/sai
- Nhƣợc điểm lớn nhất của dạng câu hỏi đúng/sai là ngƣời học có thể
“đoán mò” mà vẫn có khả năng đúng 50%, làm giảm độ tin cậy của câu hỏi.
Chính nhƣợc điểm này đã hạn chế tính giá trị của phƣơng pháp.
- Dễ tạo điều kiện cho ngƣời học học thuộc lòng hơn là hiểu.
- Khó dùng để phát hiện ra yếu điểm của ngƣời học, ít phù hợp với đối
tƣợng học sinh khá giỏi.
1.5.3. Cách cho điểm
- Với dạng câu hỏi này, thông thƣờng cứ mỗi câu đúng sẽ đƣợc 1 điểm.
- Tuy nhiên, để hạn chế đƣợc những nhƣợc điểm của câu hỏi dạng
đúng/sai trong đề tài này chúng tôi sẽ chấm điểm bằng phƣơng pháp khác với

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP PHẠM THỊ THU DUNG
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 14 LỚP K37A - SINH
1.6.2. Đối với phần lựa chọn
- Tránh phần đáp án quá rõ (thí sinh tuy không có chuyên môn vẫn có
thể trả lời đƣợc) hoặc quá chung chung (gây tranh cãi).
- Tránh các câu trả lời có tính loại bỏ nhau hoặc có nội dung quá sát nhau.
- Các phần câu lựa chọn hoặc các câu lựa chọn phải đƣợc viết theo cùng
một lối hành văn, cùng một cấu trúc ngữ pháp, nghĩa là tƣơng đƣơng về hình
thức chỉ khác về nội dung.
- Hạn chế dùng phƣơng án “các câu trên đều đúng” hoặc “các câu trên
đều sai”.
- Sắp xếp các phƣơng án lựa chọn theo thứ tự ngẫu nhiên, tránh thể hiện
một ƣu tiên nào với vị trí của phƣơng án đúng.
1.6.3. Đối với cả hai phần
- Đảm bảo phần dẫn và phần lựa chọn khi ghép lại phải thành một cấu
trúc ngữ pháp và chính tả.
- Tránh câu hỏi này là gợi ý đáp án cho các câu hỏi khác hoặc lặp lại nội
dung hỏi ở các câu hỏi khác nhau trong đề, tuy hình thức trình bày các câu hỏi
là khác nhau.
- Câu trắc nghiệm phải đảm bảo tính khách quan, độ tin cậy, độ phân biệt
và độ khó phù hợp.

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP PHẠM THỊ THU DUNG
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 15 LỚP K37A - SINH
Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tƣợng nghiên cứu
- Đối tượng:
+ Câu hỏi trắc nghiệm khách quan dạng đúng/sai về di truyền phân tử
và đột biến gen.

điểm, ở đây tôi áp dụng phƣơng pháp chấm điểm thủ công. Căn cứ vào đáp
án, mỗi câu trả lời đúng đƣợc 1 điểm, trả lời sai đƣợc 0 điểm. Điểm tối đa cho
một bài thi là 50 điểm. Cụ thể với trong mỗi câu sẽ chấm dựa theo đề thi IBO
Quốc tế (năm 2013 và 2014).
+ Không trả lời đúng ý nào và chỉ trả lời đúng 1 ý sẽ không đƣợc điểm.
+ Trả lời đúng 2 ý đƣợc 0,2 điểm.
+ Trả lời đúng 3 ý đƣợc 0,6 điểm.
+ Trả lời cả 4 ý đúng đƣợc 1 điểm.
2.3.5. Xử lý số liệu [1], [11]
Xác định độ khó, độ phân biệt của mỗi câu hỏi trắc nghiệm. Xác định
độ tin cậy tổng thể của các câu hỏi trắc nghiệm.
2.3.5.1. Xác định độ khó của mỗi câu hỏi trắc nghiệm (P)
Giá trị (P) có ý nghĩa quan trọng đối với những ngƣời viết câu hỏi thi
kiểm tra trong quá trình phân tích câu hỏi. Hiểu đúng ý nghĩa của giá trị (P)
và lý giải hợp lý các kết quả thu đƣợc, ngƣời viết câu hỏi có thể thấy đƣợc
mức độ phù hợp của các câu hỏi đó đối với nhóm thí sinh. Ngoài ra, giá trị (P)
còn giúp xác định một số lỗi khác của câu hỏi để kịp thời điều chỉnh, sửa đổi
hoặc rút kinh nghiệm cho lần sau.
Độ khó của mỗi câu hỏi trắc nghiệm đƣợc tính bằng công thức sau:
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP PHẠM THỊ THU DUNG
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 17 LỚP K37A - SINH
 



Thang phân loại độ khó đƣợc quy ƣớc nhƣ sau:
+ Câu dễ: có P từ 75% → 100%.
+ Câu trung bình: có P từ 30% → 75%.
+ Câu khó: có P từ 0% → 30%.
Câu hỏi trắc nghiệm có 30% < P < 75% là đạt yêu cầu sử dụng. Câu hỏi

DI = 0 : Số thí sinh nhóm khá giỏi và số thí sinh nhóm kém trả lời đúng
câu hỏi nhƣ nhau → không có độ phân biệt.
DI > 0 : Số thí sinh nhóm khá giỏi trả lời đúng nhiều hơn số thí sinh
nhóm kém → độ phân biệt có giá trị từ 0 đến 1.
DI < 0 : Số thí sinh nhóm kém trả lời đúng nhiều hơn số thí sinh nhóm
khá giỏi → câu hỏi không đạt yêu cầu sử dụng.
* Nếu chỉ số DI > 0,2 : câu hỏi đạt yêu cầu sử dụng.
* Nếu chỉ số 0 < DI < 0,2 : thì việc sử dụng cần có sự điều chỉnh.
* Nếu chỉ số DI < 0 : câu hỏi không đạt yêu cầu sử dụng.
Một câu hỏi đƣợc xem là có độ phân biệt hoàn hảo thì nói chung những
thí sinh đạt điểm cao của bài trắc nghiệm sẽ trả lời đúng, những thí sinh đạt
điểm thấp sẽ trả lời sai.
Nhƣ vậy dựa vào độ khó và độ phân biệt của từng câu hỏi trong toàn đề
trắc nghiệm để xác định đƣợc câu nào có thể sử dụng đƣợc. Một câu trắc
nghiệm dùng đƣợc cần thỏa mãn điều kiện:
30% < P < 75% và DI > 0,2
2.3.5.3. Độ tin cậy (r)
Độ tin cậy của đề thi đƣợc tính theo nhiều công thức khác nhau. Tuy
nhiên, độ tin cậy đƣợc xác định dựa trên tính ổn định bên trong của đề thi
thƣờng đƣợc sử dụng. Hai tác giả là Kuder và Richandson đã đƣa ra công
thức tính độ tin cậy khi nghiên cứu về TNKQ là:
 


 







Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status