BỘ Y TẾ
TRƯỜNG BẠ I HỌC D líọ c HÀ NỘI
• • • •
4»4»4ĩ — — — — — —
'r ' 1 fã
iíu ì ỉứ t * *
BÙI HUY CƯỜNG 4 ^
TÌM HIỂU KHẢ NĂNG THAM GIA
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN CỦA MỘT s ố
CÔNG TY CỔ PHẦN Dược Ở MlỂN b ắ c
(KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆPPệtỉGrậỸ KHOÁ 2000- 2005)
Người hướng dẫn: T1ị.SJĐở £ í ÍAN t h ắ n g
Th.s TỪ HỔNG ANH
Nơi thực hiện: BỘ MÔN QUẢN LÝ VÀ KINH TẾ DƯỢC
Thời gian thực hiện: tháng 3-5/2005
HÀ NỘI, THÁNG 5/2005
LỜI CẢM ƠN
Nhàn dịp hoàn thành khoá luận tốt nghiệp cho phép tôi được bày tỏ
lòng biết ơn sâu sắc và lời cảm ơn chân thành tới:
ThS. Đỗ Xuân Thắng- Giảng viên Bộ môn Quản lý kinh tế Dược, người
thầy đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn
thành khoá luận tốt nghiệp này.
ThS. Từ Hồng Anh- Bộ môn Quản lý và kinh tế Dược.
Tôi cũng xỉn bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến:
- Các thầy, cô Bộ môn Quản lý kinh tế Dược và các thầy, cô trong các bộ
môn, phòng ban Trường đại học Dược Hà Nội đã dạy dỗ và tạo mọi điều kiện
thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập ở trường.
- Các phòng, ban trong công ty cổ phần Dược và trang thiết bị y tế
Traphaco; công ty cổ phần Dược phẩm Hà Tây.
- DS. Cao Hưng Thái, chuyên viên Vụ Tổ chức cán bộ-Bộ Y Tế
- DS. Từ Việt Lan, chuyên viên Cục Quản Lý Dược-Bộ Y Tế
NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng nghiên cứu 21
2.2 Nội dung nghiên cứu 21
2.3 Phương pháp nghiên cứu 22
2.4 Xử lý số liệu 22
PHẦN III: KẾT QUẢ NGHIÊN cứ u VÀ BÀN LUẬN 23
3.1 Tiến trình CPH DNNN 23
3.1.1 Chỉ tiêu về số DNNN chuyển thành CTCP
23
3.1.2 Chỉ tiêu về số DNNN thực hiện CPH so với kế hoạch
26
3.1.3 Chỉ tiêu về kế hoạch cổ phần hoá DNNN đến năm 2005 28
3.2 Tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệp Dược nhà nước
29
3.2.1 Chỉ tiêu về số DNDNN chuyển thành CTCP
29
3.2.2 Chỉ tiêu số DNDNN thực hiện CPH phân theo vùng
31
3.2.3 Chỉ tiêu về số DNDNNTW và DNDNNĐP thực hiện CPH. 32
3.2.4 Chỉ tiêu về tỷ lệ CP Nhà nước nắm giữ tại các DND sau
khi thực hiện kế hoạch CPH 34
3.3 Kết quả đánh giá khả năng tham gia TTCK của một số
CTCP Dược tại miền Bắc 36
3.3.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của CTCP Dược Traphaco
và CTCPDP Hà Tây 36
DND:
Doanh nghiệp Dược
DNDNN
Doanh nghiệp Dược Nhà nước
DNDNNĐP
: Doanh nghiệp Dược Nhà nước địa phương
DNDNNTW :
: Doanh nghiệp Dược Nhà nước trung ương
DNNN
: Doanh nghiệp Nhà nước
GTVT
: Giao thông vận tải
HĐQT
: Hội đồng quản trị
TNHH
: Trách nhiệm hữu hạn
TTCK
: Thị trường chứng khoán
TW
: Trung ương
UBND
: uỷ ban nhân dân
XNK
: Xuất nhập khẩu
DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH
I. Danh mục bảng:
Số bảng Tên bảng
Trang
Bảng 3.1
Số DNNN được CPH qua các năm
39
Bảng 3.10
Lợi nhuận và so sánh định gốc lợi nhuận của công ty
Traphaco trong 5 năm 2000 - 2004
41
Bảng 3.11
Doanh thu, lợi nhuận sau thuế, cổ tức của CTCPDP
Hà Tây qua 5 năm 2000 - 2004
46
Bảng 3.12
Doanh thu và so sánh định gốc doanh thu của
CTCPDP Hà Tây trong 5 nam 2000 - 2004.
46
Bảng 3.13
Lợi nhuận và so sánh định gốc lợi nhuận của
CTCPDP Hà Tây trong 5 năm 2000 - 2004
48
II. Danh mục hình:
Số hình
Tên hình
Trang
Hình 3.1
Biểu đồ về số DNNN CPH qua các năm từ 2000-2004
24
Hình 3.2
Biểu đồ so sánh nhip đinh gốc và so sánh nhịp liên
hoàn tổng số DNNN đẩ CPH (từ 2000- 2004)
25
Hình 3.3
Biểu đồ biểu diễn tổng số DNNN thực hiện CPH so
Hình 3.11
Biểu đồ biểu diễn doanh thu của công ty Traphaco
qua 5 năm (2000 - 2004)
40
Hình 3.12
Biểu đồ biểu diễn lợi nhuận của công ty Traphaco
qua 5 năm (2000 - 2004)
41
Hình 3.13
Biểu đồ biểu diễn cơ cấu cổ đông của CTCPDP Hà
Tây (tính đến tháng 12/2004)
45
Hình 3.14
Biểu đồ biểu diễn doanh thu của CTCPDP Hà Tây
qua 5 năm (2000 - 2004)
47
Hình 3.15
Biểu đồ biểu diễn lợi nhuận của CTCPDP Hà Tây qua
5 năm (2000 - 2004)
48
KẾT CẤU LUẬN VÃN
ĐẶT VẤN ĐỂ
Trong giai đoạn hiện nay, thị trường chứng khoán là một trong những yếu
tố cơ bản của nền kinh tế thị trường hiện đại. Thị trường chứng khoán đã và
đang trở thành một hệ thống tài chính chủ chốt trong nền kinh tế của hầu hết
các nước trên thế giới. Đảng và chính phủ ta đã thấy rõ vai trò quan trọng của
thị trường chứng khoán và vào ngày 28/11/1996 đã chính thức ra quyết định
thành lập uỷ ban chứng khoán nhà nước-cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp
đối với thị trường chứng khoán Việt Nam. Thị trường chứng khoán Việt Nam
đã chính thức ra đời vào ngày 28/7/2000.
tiến hành thực hiện đề tài:
“Tìm hiểu khả năng tham gia thị trường chứng khoán của một số công
ty cổ phần Dược tại miền Bắc ”
Đề tài được thực hiện với ba mục tiêu:
1. Phân tích tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệp Dược nhà nước giai
đoạn 2000- 2004.
ỉ? Đánh giá khả năng tham gia thị trường chứng khoán của một số
công ty cổ phần Dược tại miền bắc.
3. Đê xuất một sô ý kiến nhằm thúc đẩy việc tham gia thị trường chứng
• khoán của các công ty cổ phần Dược trong cả nước.
2
PHẦN I: TỔNG QUAN
1.1 Vai trò của công ty cổ phần trong thị trường chứng khoán
1.1.1 Vai trò của công ty cổ phần trong thị trường chứng khoán. [6]
Điều kiện nội sinh đầu tiên để có bất kỳ một loại thị trường nào là phải có
hàng hoá. Một trong những chủ thể hàng hoá lớn nhất cho thị trường chứng
khoán là công ty cổ phần.
Công ty cổ phần phát hành hai loại chứng khoán là cổ phiếu và trái phiếu
doanh nghiệp. Đây là hai loại hàng hoá có chủng loại phong phú và hấp dẫn
nhất trên thị trường chứng khoán. Sở dĩ hai loại hàng hoá này hấp dẫn các nhà
đầu tư là do chúng có thể mang lại cho chủ sở hữu lợi nhuận rất lớn từ chênh
lệch giá cũng như từ cổ tức, lãi suất. Tuy nhiên, chúng cũng là những chứng
khoán có độ rủi ro cao, giá cả biến động nhiều.
Trong lịch sử, thị trường chứng khoán khi mới xuất hiện có thể bắt đầu
bằng giao dịch trái phiếu chính phủ. Nhưng từ khi công ty cổ phần ra đời, thì
thị trường chứng khoán hoạt động thường xuyên hơn và có bước phát triển
mạnh mẽ.
Công ty cổ phần gắn liền với thị trường chứng khoán như hai mặt của một
quá trình xã hội hoá lực lượng sản xuất. Từ yêu cầu của xã hội hoá lực lượng
sản xuất mà công ty cổ phần ra đời. Sự xuất hiện của cổ phiếu làm nảy sinh
góp vào công ty, được chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác theo
qui định của pháp luật và điều lệ của doanh nghiệp. Số lượng cổ đông tối thiểu
là ba, không hạn chế tối đa. Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán
ra công chúng theo qui định của pháp luật về chứng khoán.
Cổ phần là vốn điều lệ của doanh nghiệp chia thành nhiều phần bằng
nhau.
Cổ đông là tổ chức hoặc cá nhân sở hữu cổ phần của CTCP.
Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ
để xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó.
Cổ tức là số tiền hàng năm được trích từ lợi nhuận của công ty để trả cho
mỗi cổ phần.
4
Vốn điều lệ của CTCP là số vốn do tất cả các thành viên góp và được ghi
vào Điều lệ của công ty.
1.1.2.2 Ưu điểm của công ty cổ phần: [10], [15]
* Tạo ra khả năng huy động vốn rộng rãi, nhanh chóng, kịp thời với quy
mô lớn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Do đó, các doanh nghiệp có điều
kiện để mở rộng quy mô, đổi mới công nghệ hiện đại từ đó nâng cao hiệu quả
kinh doanh và sức cạnh tranh của doanh nghiệp mình. Điều này hơn hẳn quá
trình tích tụ tư bản của doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH và kể cả DNNN.
* Vốn có thể được chuyển dịch giữa các nhà đầu tư trong và ngoài công ty
cổ phần, tính chất xã hội hoá vốn hoạt động kinh doanh rất cao, tạo ra khả
năng sử dụng vốn linh hoạt có hiệu quả cao.
* Phương thức quản lý CTCP tạo ra sự ràng buộc và giám sát lẫn nhau
giữa hội đồng cổ đông, HĐQT, Ban kiểm soát và giám đốc điều hành vì mục
tiêu chung của doanh nghiệp trong đó hội đồng cổ đông là cơ quan quyền lực
cao nhất. Mỗi bộ phận thành viên có lợi ích gắn liền với lợi ích của doanh
nghiệp vì vậy tạo ra động lực bên trong trong mỗi hoạt động quản lý.
* Người lao động có điều kiện làm chủ thực sự doanh nghiệp vì vậy họ
làm việc có hiệu quả cao cho doanh nghiệp.
lợi ích của Nhà nước, nhà đầu tư và người lao động.
1.2.1 Sự cần thiết phải cổ phần hoá các DNNN tại Việt Nam: [12], [15]
Trong điều kiện nền kinh tế thế giới đang vận động theo xu hướng thương
mại hoá toàn cầu, một yêu cầu bức thiết đặt ra là phải thực hiện cải cách các
DNNN nhằm phát huy sức mạnh và vai trò điều tiết của kinh tế quốc doanh,
đồng thời nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, về cơ bản có hai
cách để cải cách DNNN:
* Cách 1: Thực hiện sắp xếp, cơ cấu lại DNNN, hoàn thiện hệ thống cơ
chế chính sách và cơ chế quản lý giám sát nhằm không ngừng nâng cao quyền
tự chủ và hiệu quả của DNNN trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
* Cách 2: Thực hiện đa dạng hoá sở hữu các DNNN nhằm thay đổi
phương thức quản lý để không ngừng củng cố và nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Trong đó, “Cô? phần hoá DNNN” là một đòi
hỏi tất yếu khách quan, là phương án tối ưu nhất, trong điều kiện nền kinh tế
6
thị trường phát triển, đặc biệt khi tính cạnh tranh đã trở thành khu vực và toàn
cầu:
+ CPH có tác dụng làm cho sở hữu đối với các doanh nghiệp trở nên đa
dạng hơn. Chính vì vậy, nó giải quyết được khá triệt để vấn đề sở hữu trong
DNNN, loại hình doanh nghiệp với những vướng mắc về hiệu quả và sự kém
năng động trong sản xuất kinh doanh.
+ CPH có tác dụng trong việc xã hội hoá tư liệu sản xuất trong các doanh
nghiệp thuộc sở hữu một chủ.
CPH tạo cho những người lao động có cơ hội thực sự làm chủ doanh
nghiệp nếu họ mong muốn. Bằng việc sở hữu cổ phần của doanh nghiệp,
người lao động có thể tham gia vào các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp
thông qua nền dân chủ cổ phần. Họ góp phần hình thành nên cơ quan quản lý
doanh nghiệp, quyết định các vấn đề trọng đại của doanh nghiệp đó. Điều này
có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao tính chủ động, tích cực của người lao
động không chỉ đối với các vấn đề của doanh nghiệp mà cả đối với các vấn đề
Sang năm 2003, công tác CPH DNNN đã có bước chuyển biến nhanh hơn.
Đến hết năm 2003, đã có 73 DNNN hoàn thành CPH. Trong đó có 65 DN
thuộc tỉnh, thành phố và 8 DN và chi nhánh thuộc Tổng công ty Dược Việt
Nam.
Sau cổ phần hoá, nhìn chung các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đều
phát triển. Hiệu quả lao động cao hơn, bộ máy tinh gọn, việc làm ổn định,
doanh thu tăng, lợi nhuận tăng và thu nhập của người lao động tăng. Người lao
động trong doanh nghiệp là những cổ đông đóng góp cổ phần đã làm việc có
trách nhiệm hơn, gắn bó hơn với doanh nghiệp.
1.3 Những vấn đề cơ bản của thị trường chứng khoán.
1.3.1 Một sô khái niệm:
1.3.1.1 Thị trường chứng khoán: [11], [17]
* Khái niệm: Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch, mua
bán, trao đổi các loại chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu, ). Thị trường chứng
khoán không phải là nơi mua vào bán ra các loại chứng khoán, không phải là
nơi sở hữu chứng khoán mà chỉ là nơi giao dịch, việc mua bán chứng khoán
được thực hiện thông qua các nhà môi giới.
* Phân loại:
Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn, TTCK được chia thành:
8
+ Thị trường sơ cấp: là thị trường mua bán các chứng từ mới phát hành.
Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành
thông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành.
+ Thị trường thứ cấp: là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát
hành trên thị trường sơ cấp. Thị trường thứ cấp đảm bảo tính thanh khoản cho
các chứng khoán đã phát hành. Trên thị trường thứ cấp, các khoản tiền thu
được từ việc bán chứng khoán thuộc về các nhà đầu tư và các nhà kinh doanh
chứng khoán chứ không thuộc về nhà phát hành.
Căn cứ vào phương thức hoạt động của TTCK, TTCK được phân
thành:
+ Cổ phiếu (Stock): là chứng chỉ do CTCP phần phát hành hoặc bút toán
ghi sổ để xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó.
+ Trái phiếu (Bond): là chứng khoán nợ, trong đó người nắm giữ trái
phiếu là chủ nợ của đơn vị phát hành (có thể là doanh nghiệp, chính phủ hoặc
chính quyền địa phương). Trái phiếu là loại chứng khoán có lợi tức cố định,
được ấn định trước gọi là lãi suất.
+ Các loại chứng khoán khác:
Giấy đảm bảo mua cổ phiếu mới: Khi một công ty quyết định tăng vốn
bằng cách phát hành cổ phiếu mới thì các cổ đông hiện hữu được quyền mua
một số cổ phiếu mới với giá thấp hơn giá thị trường, theo tỷ lệ tương xứng với
số cổ phiếu họ đang nắm giữ.
Các hợp đồng lựa chọn: có 2 loại là "quyền chọn mua" và "quyền chọn
bán". Các hợp đồng này hợp đồng giữa 2 bên mà trong đó một bên cho bên
kia được quyền mua hoặc bán một loại hàng hoá cụ thể hoặc một lượng chứng
khoán nào đó, với một giá xác định trong một thời hạn xác định. Hợp đồng lựa
chọn hết giá trị vào ngày kết thúc thời hạn của nó.
Các dạng hợp đồng tương lai: Các hợp đồng này đáp ứng cho việc giao
một khoản tiền xác định của một loại hàng hoá nhất định trong một thời gian
xác định trong tương lai, nhưng trên thực tế nó không bao gồm việc chuyển
nhượng ngay quyền sở hữu hàng hoá đó.
10
1.3.2 Vai trò và sự cần thiết của thị trường chứng khoán đối với việc phát
triển nền kinh tê
1.3.2.1 Vai trò: [9]
* Là điều kiện tiền đề cho quá trình cổ phần hoá
Ở Việt Nam chủ trương CPH được khởi xướng từ năm 1987, nhưng đến
năm 1992 mới thực hiện thí điểm. “Cổphần hoá” và “Tư nhân hoá” là hai
khái niệm khác nhau, trong đó cổ phần hoá là hành động mang tính kỹ thuật,
còn tư nhân hoá mang tính hệ quả. Kết quả cuối cùng của CPH DNNN là
chuyển từ một doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước, hoạt động theo luật
riêng. Có TTCK, số vốn nhàn rỗi trong xã hội sẽ được thu hút vào công cuộc
đầu tư. Vốn đầu tư sẽ sinh lời, càng kích thích ý thức tiết kiệm trong dân
chúng.
Nhờ TTCK, với công cụ cổ phiếu có mệnh giá rất nhỏ và cổ phiếu quỹ
đầu tư, đại đa số dân chúng mới có thể tham gia được vào công cuộc đầu tư
bằng số vốn ít ỏi của mình.
* Là một công cụ giúp Nhà nước thực hiện chương trình phát triển
kinh tê - xã hội
Nhà nước nào cũng có nhiệm vụ ổn định và phát triển kinh tế. Nền kinh tế
tăng trưởng hay suy thoái trước hết phụ thuộc vào chính sách và các biện pháp
can thiệp của Nhà nước. Bất cứ Nhà nước nào cũng phải có ngân sách. Ngân
sách Nhà nước càng lớn thì chương trình phát triển kinh tế xã hội càng dễ
thành công.
Để có vốn cho chi tiêu của mình, Nhà nước phải thực hiện chính sách
thuế. Thuế là biện pháp quan trọng nhất để tạo ngân sách Nhà nước. Nhưng,
thông thường thuế không đủ cho chi tiêu, do đó phải có một nguồn thu khác,
đó là trái phiếu kho bạc, trái phiếu Chính phủ, trái phiếu Chính quyền địa
phương, một hình thức Nhà nước vay tiền của dân. về kinh tế: việc Nhà nước
vay tiền của dân là thiết thực và lành mạnh. Vì Chính phủ không phải thông
qua ngân hàng để phát hành thêm tiền giấy vào lưu thông, tạo nên áp lực lạm
phát.
Không có TTCK thì Nhà nước vẫn phát hành được trái phiếu, nhưng đó
chỉ là trái phiếu ngắn hoặc trung hạn, và nói chung việc phát hành sẽ khó
khăn, vì khả năng thanh khoản của trái phiếu (chuyển từ trái phiếu thành tiền
12
và ngược lại) là không đơn giản. Có TTCK với thị trường phát hành tập trung,
và thị trường mua đi bán lại tấp nập thì việc phát hành trái phiếu của Nhà nước
sẽ rất tiện lợi.
* Là công cụ thu hút và kiểm soát vốn đầu tư nước ngoài
Vốn đầu tư nước ngoài có vai trò đặc biệt quan trọng đối với những nước
nguồn vốn được lưu thông. Một khi việc đầu tư vào các doanh nghiệp có lợi
đối với mọi tầng lớp dân chúng thì qua thị trường chứng khoán các món tiền
tiết kiệm lớn nhỏ đều sẵn sàng từ bỏ lĩnh vực bất động hoá, chấp nhận vào quá
trình đầu tư.
* Kích thích các doanh nghiệp nâng cao trình độ quản lý
Nhờ TTCK, các doanh nghiệp mới có thể đem bán, phát hành các cổ
phiếu, trái phiếu của họ. Ban quản lý TTCK chỉ chấp nhận các cổ phiếu, trái
phiếu của những công ty có đủ điều kiện: kinh doanh hợp pháp, tài chính lành
mạnh, và dân chúng cũng chỉ mua cổ phiếu của các công ty thành đạt. Với
sự tự do lựa chọn của người mua cổ phiếu, để bán được cổ phiếu không còn
cách nào khác hơn là những nhà quản lý doanh nghiệp phải tính toán, làm ăn
đàng hoàng và hiệu quả hơn nữa. Mặt khác, luật lệ của TTCK buộc các doanh
nghiệp tham gia TTCK phải công khai các báo cáo cân đối tài chính, kết quả
kinh doanh hàng quý, hàng năm trước công chúng Qua đó công chúng mới
có cơ hội đánh giá được công ty.
1.3.2.2 Sự cần thiết phải có thị trường chứng khoán tại Việt Nam: [7], [8]
Thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá chính là nhằm đạt tốc độ tăng
trưởng kinh tế cao, muốn vậy thì phải có vốn lớn. Trước đòi hỏi bức xúc về
nhu cầu vốn trung và dài hạn cho tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững
chúng ta cần phải có những chính sách huy động tối đa mọi nguồn lực tài
chính trong nước, biến các nguồn vốn nhàn rỗi thành vốn đầu tư hoạt động
sinh lời và thu hút vốn nước ngoài bằng nhiều hình thức như: phát hành trái
phiếu, cổ phiếu, mở rộng các quỹ đầu tư. Do đó cần thiết phải xây dựng TTCK
Việt Nam. Sau đây là một số lý do chủ yếu:
* Thúc đẩy tiến trình cổ phần hoá DNNN
Có thể nói, hai loại định chế tài chính này đi đôi với nhau như hình với
bóng.
Thứ nhất, sự tồn tại TTCK làm gia tăng số lượng cổ đông tiềm tàng cho
các DNNN cổ phần hoá. Chứng khoán với tính thanh khoản cao của nó tác
14
còn để hưởng chênh lệch giá chứng khoán lên cao và hưởng giá trị cổ phần
tăng khi công ty làm ăn phát đạt.
15
Trong nền kinh tế, việc huy động vốn thường được thực hiện thông qua
hai kênh chính sau:
Kênh dẫn vốn dài hạn được thực hiện chủ yếu thông qua TTCK.
Kênh dẫn vốn ngắn hạn được thực hiện qua hệ thống ngân hàng.
Trong thời gian đầu, khi quy mô kinh tế còn nhỏ bé, nhu cầu về vốn chưa
lớn thì việc huy động vốn qua ngân hàng đủ đáp ứng cho nền kinh tế. Khi nền
kinh tế phát triển với quy mô lớn thì kênh ngân hàng sẽ không đáp ứng được
yêu cầu luân chuyển vốn.
Đối với Việt Nam , nếu không thiết lập TTCK thì khó có thể đáp ứng được
nguồn vốn dài hạn phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước: Nguồn vốn dư thừa sẽ chạy vào các lĩnh vực như bất động sản, mua
ngoại tệ cất trữ, Khi đó Chính phủ sẽ khó kiểm soát hoạt động tài chính,
ngân hàng dễ bị khủng hoảng.
* Nâng cao tính nhạy cảm và năng động trong thị trường
TTCK là nơi cung cấp nhanh nhất mọi thông tin về chứng khoán. TTCK là
một công cụ tài chính quan trọng để huy động vốn và đầu tư trong toàn xã hội,
đồng thời đưa đồng vốn của doanh nghiệp và người đầu tư trong toàn xã hội
đến những nơi sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Nhưng đây là một thể chế tài
chính bậc nhất, rất nhạy cảm nên nó vừa là cơ hội lại vừa là thách thức đối với
các doanh nghiệp, các nhà đầu tư và đòi hỏi họ phải tự mình đổi mới cách
nghĩ, cách làm, cách quản lý trong một hệ thống, thể chế pháp quy ngày càng
được xây dựng và bổ sung đồng bộ.
Ngoài ra còn có một số lý do như sau:
* TTCK là trung tâm giao nhận, phân phối và giao lưu các nguồn vốn tiết
kiệm cho đầu tư của toàn xã hội, gắn bó hữu cơ trong sự phát triển đồng bộ hệ
thống tài chính- tiền tệ cấu thành nền tài chính quốc gia.
* TTCK là một loại cơ sở hạ tầng về tài chính của nền kinh tế giúp cho
chức phát hành nắm giữ. Đối với công ty có vốn cổ phần từ 100 tỷ đồng Việt
Nam trở lên thì tỷ lệ này tối thiểu là 15% vốn cổ phần.
1.4 Những luận văn trong lĩnh vực Dược đã đề cập tới vấn đề này:
Đã có một luận văn trong lĩnh vực Dược đề cập tới vấn đề TTCK. Đó là
luân văn của sinh viên Lê Anh Dũng có tên: