Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của quản lý trong thương mại đầu vào - Pdf 30


PHẦN GIỚI THIỆU
Đang trong quá trình hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường,
đặc biệt với những chính sách mở cửa và hội nhập kinh tế, Việt Nam trong
những năm qua đã đạt được nhũng thành tựu đáng khích lệ. Nhiều lĩnh vực
phát triển trở thành ngành kinh tế mũi nhon, trong đó kinh doanh khai thác
than cũng là một trong những ngành có đóng góp không nhỏ vào sự thành
công đó. Tuy nhiên, để quá trình kinh doanh khai thác Than có hiệu quả cần
phải có rất nhiều yếu tố, trong đó có một yếu tố quan trong đó là cung cấp
đảm bảo vật tư thiết bị.
Mặt khác, cơ chế thị trường ngày nay luôn luôn gắn liền vói cơ chế
cạnh tranh khốc liệt, nhất là đối với các Doanh nghiệp Nhà nước khi đang ở
giai đoạn đầu của quá trình cổ phần hoá, thì sự khó khăn càng lớn. Trong
hoàn cảnh ấy, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì cần phải kinh doanh
có hiệu quả. Doanh nghiệp phải đồng thời năm bắt được những cơ hội, đe
doạ, điểm mạnh điểm yếu của Công ty cũng như đối thủ cạnh tranh, phải đảm
bảo được khâu đầu vào đầu ra cho sản phẩm. Như thế cần có một cơ chế quản
lý hợp lý và khoa học, quản lý tác động trực tiếp đến công tác làm việc cũng
như quá trình điều phối và phân công lao động. Nền kinh tế hiện nay có đặc
điểm là luôn luôn biến động không ngừng, do đó việc đảm bảo cho sự phát
triển bền vững của Công ty là vấn đề đặc biệt quan trọng. Nó giúp cho doanh
nghiệp phát triển một cách bình thường, đồng thời năng cao sức cạnh tranh
trên thị trường.
Việc cung cấp vật tư thiết bị trong quá trình khai thác than hầm lò có
vai trò ảnh hưởng quyết định đến sản lượng Than được khai thác. Hơn nữa,
Than Việt Nam có rất nhiều loại, một trong số đó có thể có than hầm lò.
Trong quá trình thực tập tại Công ty cổ phần Đầu tư, Thương mại và Dịch vụ
- TKV,em có thấy việc đảm bảo thương mại đầu vào ( thiết bị và vật tư ) cho
việc kinh doanh khai thác than hầm lò vẫn chưa đem lại hiệu quả cao trong
Ph¹m V¨n Häc Líp: QLKT 46B
1

thị trường.
Thương mại đồng nghĩa với kinh doanh được hiểu như là các hoạt động
kinh tế nhằm đặt mục tiêu sinh lợi cho các chủ thể kinh doanh trên thị trường.
Về hoạt động thị trường, theo Pháp lệnh trộng tài ngày 25 tháng 5 2003
thì đó là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tổ
chức kinh doanh, bao gồm: mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, phân phối,
đại diện, đại lý thương mại, ký gủi, thuê, thuê mua, xây dựng, tư vấn, kỹ
thuật, li – xăng, tài chính, ngân hàng,đầu tư, bảo hiểm, vận chuyển hàng hoá,
hành khách bằng đường hàng không, đướng sắt, đường biển, đường bộ, và các
hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật.
Theo nghĩa hẹp, thương mại là quá trình mua bán va tiêu thụ hàng hoá,
dịch vụ trên thị trường , là lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hoá.
Như vậy bản chất kinh tế của thương mại đó là hoạt động trao đỏi hàng
hoá, được thực hiện thông qua mua – bán ( ngang giá và tự do ). Giữa các chủ
thể ( người bán và người mua ). Hoạt động đó không phải dưới hính thực
hiện vật đơn thuần mà mua – bàn hàng hoá, là phải có tiền tệ thực hiện quá
trình trao đổi trong suốt quá trình thực hiện, nó có vai trò làm những vật
ngang giá chung để thực hiện việc trao đổi hàng hoá. Mua – bán ngang giá
được hiểu là mua – bán theo giá cả thị trường, các chủ thể tự do thoả thuận
theo các điều kiện mua – bán hàng hoá của đôi bên.
Ph¹m V¨n Häc Líp: QLKT 46B
3

Việc xem xét thương mại với các góc độ như vậy tuy mang tính chất
tương đối hạn hẹp nhưng có ý nghĩa rất lớn về mặt lý luận và thực tiễn, đặc
biệt trong việc hình thành những chính sách, biện pháp nhằm thúc đẩy toàn
diện, và bền vững trong hoạt động thương mại.
1.2 Thương mại đầu ra.
Đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh bao gồm có 3 hoạt
động cơ bản đó là:

hoàn vốn mới được thực hiện. Có như vậy doanh nghiệp mới có thể bù đắp
được các chi phí ( tiền của, công sức … ) và đảm bảo có lợi nhuận, để từ đó
doanh nghiệp có điều kiện để tái đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất kinh
doanh.
1.3 Thương mại đầu ra của doanh nghiệp thương mại.
Khác với các doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp thương mại
tiêu thụ hàng hoá, một mặt giá trị của hàng hoá được thực hiện qua quá trình
trao đổi, mặt khác nó thực hiện giá trị sử dụng do nhà sản xuất tạo ra. Trong
hoạt động thương mại đầu ra, sau quá trình xác định nhu cấu, tìm kiếm thị
trường mục tiêu là sự gặp gỡ giữa hai chủ thể, bên doanh nghiệp và bên người
mua. Thông qua hình thức trao đổi ngang giá, tụ do, lấy tiền làm vật trung
gian ngang giá chung để tiền hành trao đổi hàng hoá.
Thương mại đầu ra của doanh nghiệp thương mại có thể hiểu là hoạt
động trao đổi mua – bán hàng hoá giữa bên doanh nghiệp và bên người tiêu
dùng nhằm thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá. Đây là khâu cuối
của hoạt động kinh doanh, nó tác động tới kết quả và hiệu quả của việc đầu tư
nhằm mục đích lợi nhuận sinh lời. Bên cạnh đó thì các hoạt động dịch vụ hỗ
trợ sau khi bán hàng của doanh nghiệp thương mại cũng rất quan trọng, nó
chính là yếu tố để kích thích tiêu dùng. Trong nền kinh tế thị trường ngày nay
đòi hỏi doanh nghiệp cạnh tranh rất khốc liệt. Doanh nghiệp có thể bị phá sản
nếu không đi dúng quỹ đạo và không phản ứng nhanh trước sự biến động của
nền kinh tế thị trường. Để khẳng định được chỗ đứng trên thị trường, bất kỳ
doanh nghiệp nào cũng cần phải duy trì, thu hút được khách hàng truyền
Ph¹m V¨n Häc Líp: QLKT 46B
5

thống và có sự khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh khác. Đối với các
doanh nghiệp sản xuất thì đó là chất lượng, là tính ưu việt, giá cả, đặc tính …
của sản phẩm. Còn đối với doanh nghiệp thương mại, việc thực hiện dịch vụ
là một cách đặc biệt hiệu quả, nó hợp với xu hướng hiện đại ngày nay. Vì vậy,

phần lợi nhuận mà doanh nghiệp sản xuất tao ra trong việc đưa sản phẩm đến
tay người tiêu dùng. Nhiệm vụ cơ bản của doanh nghiệp thương mại là đảm
bảo cung ứng cho sản xuất và tiêu dùng những loại hàng hoá cần thiết, đủ về
số lượng, tốt về chất lượng, kịp thời gian yêu cầu và thuận lợi cho khách
hàng. Để thực hiện nhiệm vụ cơ bản, chủ yếu đó các doanh nghiệp phải tổ
chức tốt công tác thu mua, tạo nguồn hàng của doanh nghiệp. Đây cũng là
một khâu rất quan trọng trong hoạt động thương mại đầu vào của doanh
nghiệp thương mại. Công tác thu mua, tạo nguồn hàng này có tốt thì hoạt
động thương mại đầu vào mới hiệu quả. Trong cơ chế thị trường thì hoạt động
thương mại đầu vào cũng diễn ra các hoạt động trao đổi mua bán, nhất là đối
với các doanh nghiệp thương mại, nhưng mục đích của hoạt động này là việc
đầu tư và tạo ra lợi nhuận.
1.6 Phân loại hàng hoá trong hoạt động thương mại đầu vào của
doanh nghiệp thương mại.
Phân loại hàng hoá của doanh nghiệp thương mại đó là việc phân chia,
sắp xếp các hàng hoá thu mua được theo các tiêu thực cụ thể riêng biệt để
doanh nghiệp có chính sách, biện pháp thích hợp nhằm khai thác tối đa lợi ích
của mỗi loại hàng hoá.
Các loại hàng hoá của doanh nghiệp thương mại có thể phân loại dựa
trên các tiêu thức sau:
 Phân loại theo khối lượng hàng hoá mua được.
o Hàng hoá chính: Đây là loại hàng hoá chiếm tỷ trọng lớn
nhất trong tổng khối lượng hàng hoá mà doanh nghiệp mua về để
cung ứng cho khách hàng trong kỳ. Đối với loại hàng hoá này, nó
Ph¹m V¨n Häc Líp: QLKT 46B
7

mang tính quyết định về khối lượng hàng hoá của doanh nghiệp
mua được, nên phải có sự quan tâm thường xuyên để đảm bảo sự ổn
định của nguồn hàng này.

nhập khẩu, doanh nghiệp thương mại nhận hàng nhập khẩu từ các
doanh nghiệp xuất khẩu chuyên doanh, các đơn vị thuộc tổng công
ty ngành hàng cấp trên ...
o Nguồn hàng tồn kho: Loại hàng này có thể theo kế hoạch
dự trữ của nhà nước ( Chính phủ ) để điều hoà thị trường, nguồn
hàng tồn kho của các doanh nghiệp thương mại, các đơn vị tiêu
dùng do thay đổi mặt hàn sản xuất hoặc lý do khác không cần dùng
có thể huy động được trong kỳ kế hoạch ... Doanh nghiệp cần biết
khai thác, huy động, làm phong phú thêm nguồn hàng này.
 Theo điều kiện địa lý: Theo tiêu thức này, hàng hoá được phân
theo khoảng cách từ nơi khai thác, đặt hàng, thu mua để đưa về
doanh nghiệp.
o Hàng hoá ở cá miền của đất nước.
o Hàng hoá ở các tỉnh, thành phố.
o Hàng hoá theo các vùng nông thôn.
 Theo các mối quan hệ kinh doanh.
Theo tiêu thức hàng hoá của doanh nghiệp được chia thành:
o Hàng hoá tự sản xuất, khai thác: Đây là hàng hoá do chính
doanh nghiệp thương mại tổ chức bộ phận ( phân xưởng, xí nghiệp
… ) tự sản xuất, tự khai thác ra hàng hoá để kinh doanh.
o Hàng hoá liên doanh liên kết: Doanh nghiệp thương mại
liên doanh liên kết với các đơn vị khác có thế mạnh cùng khai thác,
sản xuất chế biến ra hàng hoá vào kinh doanh.
o Hàng đặt và thu mua: Đây là nguồn hàng doanh nghiệp
thương mại đặt mua với các đơn vị sản xuất trong nước hoặc nhập
khẩu, ký kết hợp đồng thu mua về cho doanh nghiệp để cung ứng
cho khách hàng …
Ph¹m V¨n Häc Líp: QLKT 46B
9


1. Xác định nhu cầu hàng hoá.
1.1 Việc xác định nhu cầu của hàng hoá
Doanh nghiệp thực hiện hoạt động này để trả lời cho ba câu hỏi: khách
hàng cần những loại hàng nào? Cần với số lượng bao nhiêu ? Vào thời gian
nào ? Để trả lời cho các câu hỏi này đòi hởi cần có đầy đủ các thông tin về thị
trường, thông tin về nhu cầu cho sản xuất trong kỳ hay nhu cầu tiêu dùng của
khách hàng, quy mô của những nhu cầu đó nhiều hay ít, trong thời gian ngắn
hay dài, có tính chất thời vụ hay không ? Đồng thời, doanh nghiệp cũng cần
phải tìm hiểu các thông tin về loại hàng hoá đó với các thông số cụ thể về giá
cả, chất lượng, khả năng sản xuất, mẫu mã ...
1.2 Xác định kế hoạch sản xuất, tiêu dùng
Điều này thể hiên mối quan hệ chặt chẽ với các khách hàng của một
doanh nghiệp. Doanh nghiệp có hiểu biết, nắm bắt được khách hàng của mình
thì mới đảm bảo kinh doanh có hiệu quả vì trong nền kinh tế thị trường khách
hàng có vai trò quyêtd định đến sự thành bại của doanh nghiệp. Doanh nghiệp
muốn tồn tại thì phải có khách hàng, muốn có khách hàng thì doanh nghiệp
phải hiểu biết họ với nhu cầu ra sao? Quy mô nhu cầu của họ như thế nào? Kế
hoạch mua sắm sản phẩm trong thời gian xắp tới và tìm mọi cách thoả mãn
nhu cầu đó một cách tốt nhất, kịp thời, thuận tiện nhất.
1.3 Việc xác định được kế hoạch sản xuất
Tiêu dùng còn thể hiên mối quan hệ giữa kế hoạch tiêu thụ với kế
hoạch sản xuất hoặc tiêu dùng, kế hoạch sản xuất với kế hoạch đảm bảo vật tư
( đối với các doanh nghiệp sản xuất ), kế hoạch mua sắm hàng hoá với kế
hoạch tài chính của doanh nghiệp cũng nhu kế hoạch tiêu dùng với kế hoạch
thu nhập. Riêng đối với các doanh nghiệp sản xuất thì hiểu một cách rộng hơn
nó là mối quan hệ giữa hoạt động thương mại và hoạt động sản xuất của
doanh nghiệp. Nhu cầu đó được xác định trong từng kỳ kinh doanh của doanh
nghiệp ( kế hoạch năm ).
Ph¹m V¨n Häc Líp: QLKT 46B
11

3. Xây dựng và thực hiện các kế hoạch thu mua hàng hoá.
Dựa trên cơ sở kế hoạch, nhu cầu của khách hàng, doanh nghiệp
thương mại tiến hành xây dựng các kế hoạch thu mua theo tháng, quý. Kế
hoạch thu mua phản ánh được các thông số như: Chủng loại hàng hoá cần
phải mua, số lượng cần mua, và thời điểm đặt mua. Từ cơ sở kế hoạch này
doanh nghiệp tiến hành thu mua hàng hoá thông qua các đơn hàng hoặc ký kết
trong hợp đồng kinh tế với các đơn vị cung ứng. Việc ký kết hoàn thành thì
tiến hành kế hoạch vận chuyển hàng hoá. Tuỳ từng điều kiện cụ thể, hay các
hình thức mua bán khác nhau mà doanh nghiệp có thể vận chuyển hàng hoá
phù hợp. Trên cơ sở các thoả thuận từ hợp đồng mua bán, rồi đưa hàng hoá về
doanh nghiệp.
4. Tổ chức dự trữ hàng hoá.
Khi hàng hoá về đến doanh nghiệp, doanh nghiệp phải tổ chức
tiếp nhận để đảm bảo đủ về số lượng, chất lượng, quy cách chủng loại ... sau
đó, có thể đưa vào kho dự trữ để bảo quản, hoặc cũng có thể đưa đến địa điểm
cần phân phối giao cho các khách hàng ( nếu là đơn vị sản xuất ), hoặc đưa
vào dự trữ ngay tại các điểm bán hàng. Trong khâu dự trữ, phải chú ý đến các
điều kiện bảo quản, tính đến các hao hụt nếu có. Dự trữ phải hợp lý để phù
hợp với các chu ký kinh doanh của doanh nghiệp, có như vậy mới nâng cao
được hiệu quả kinh doanh, tránh trường hợp ứ đọng hoặc thiếu hụt hàng dự
trữ dảm bảo cho quá trình kinh doanh được diễn ra bình thường liên tục đạt
hiệu quả.
5. Đánh giá hoạt động đảm bảo hàng hoá.
Đây là bước cuối cùng, để doanh nghiệp có thể đánh giá toàn bộ
hoạt động thương mại đầu vào mà doanh nghiệp đã thực hiện trong kỳ có
hoàn hảo không. Từ đó doanh nghiệp có thể kiểm tra hiệu quả của quá trình
cung ứng hàng hoá, đồng thời có những điều chỉnh kịp thời trong thời gian tới
tránh lặp lại những thiếu xót không đáng có.
Ph¹m V¨n Häc Líp: QLKT 46B
13

Ph¹m V¨n Häc Líp: QLKT 46B
14

được rút ngắn giúp cho hạn chế được các chi phí, tạo điều kiện nâng cao hiệu
quả kinh doanh nói chung và hiệu quả thương mại đầu vào nói riêng.
1.3 Đối thủ cạnh tranh.
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là tất yếu. Sự cạnh tranh, một
mặt nó là động lực cho sự phát triển, doanh nghiệp tồn tại và mở rộng quy mô
kinh doanh nếu doanh nghiệp đó làm ăn hiệu quả. Mặt khác, doanh nghiệp sẽ
bị phá sản nếu họ không có chỗ đứng trên thị trường. Đó cũng là kết quả của
việc “ cá lớn nuốt cá bé “ một hạn chế của cơ chế thị trường mà Nhà nước rất
hạn chế khi điều tiết.
Do đó, trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp phải có những bước đi
đúng đắn hợp lý, xác định được tiềm lực của mình, đồng thời phân tích được
đối thủ cạnh tranh và đưa ra những chính sách, quyết định hợp lý. Nếu không
hoạt động thương mại đầu vào của doanh nghiệp cũng từ đó bị ảnh hưởng,
nhất là trong việc cạnh tranh các nguồn hàng, các mối quan hệ kinh tế giữa
người mua và người bán bị ảnh hưởng.
1.4 Môi trường văn hoá, chính trị, xã hội và pháp luật.
Yếu tố này cũng có tác động không nhỏ tới hoạt động thương mại đầu
vào của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp muốn đạt được hiệu quả cao trong
hoạt động thương mại đầu vào của mình thì không thể không nắm được chính
trị, phong tục tập quán, ngôn ngữ, thói quen tiêu dùng… của đối tác. Đây là
yếu tố mà nó ảnh hưởng trong suốt quá trình thực hiện các hoạt động thương
mại của doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải có những chính sách, biện pháp để
thích nghi và chấp nhận với những yếu tố đó. Nó là điều kiện để kinh doanh
ổn định và phát triển. Vì vậy đòi hỏi các doanh nghiệp phải chú trọng, quan
tâm hơn nữa đến yếu tố này khi thực hiện hoạt động thương mại đầu vào của
mình.
Ph¹m V¨n Häc Líp: QLKT 46B

công cao trong những thương vụ lớn.
Ph¹m V¨n Häc Líp: QLKT 46B
16

2.4 Trình độ của lãnh đạo và người lao động.
Đối với trình độ của người lãnh đạo, đây là một yếu tố quan trong ảnh
hưởng tới chiến lược và sách lược kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó đòi
hỏi đội ngũ người lãnh đạo phải giỏi, phải có năng lực lãnh đạo. Muốn vậy
doanh nghiệp phải không ngừng đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cững nhu kinh
nghiệm thực tiễn cho họ trong quá trình hoạt động kinh doanh.
Đối với đội ngũ người lao động, những người trực tiếp thực hiện các
hoạt động kinh doanh, thì đòi hỏi phải có một trình độ chuyên môn về nghiệp
vụ nhất định. Đây là những người có ảnh hưởng tới giá cả, chất lượng của
hàng hoá mua vào và bán ra. Do vậy, nó có ảnh hưởng tới hoạt động thương
mại đầu vào của doanh nghiệp. Đối với đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác
thương mại đầu vào thì cần phải có nghiệp vụ chuyên môn giỏi, cam hiểu các
thông lệ trong nước và quốc tế, có như vậy mới đảm bảo thành công trong
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Tóm lại, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động xuất nhập khẩu.
Trong đó, có các nhân tố chủ quan và khách quan, chúng ảnh hưởng trực tiếp
hoặc gián tiếp đến doanh thu hoặc chi phí từ đó ảnh hưởng tơí lợi nhuận. Vấn
đề đặt ra là phải kiểm soát được các nhân tố chủ quan để có chiến lước kinh
doanh phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp, đáp ứng được nhu cầu của thị
trường, làm tăng doanh thu và giảm chi phí, nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Phải nắm bắt được nhân tố khách quan để điều chỉnh hoạt động kinh doanh
thích ứng với những thay đổi đó nhằm đảm bảo nâng cao hiệu quả kinh
doanh.
Ph¹m V¨n Häc Líp: QLKT 46B
17


Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp giai đoạn này
chuyển dần sang hoạt động theo cơ chế thị trường, đòi hỏi sự cạnh tranh của
Công ty ngày càng găy gắt về chất lượng và giá cả các mặt hàng. Để phát
triển sản xuất kinh doanh phù hợp với năng lực hiên có của Công ty, lãnh đạo
Công ty đã định hường không chỉ dừng lại ở nhiệm vụ kinh doanh lương thực
mà phải đa dạng các Công ty mặt hàng dịch vụ kinh doanh nhu kim khí, thiết
bị lẻ, vật tư ... phục vụ sản xuất than cũng như kinh doanh của Công ty đã
được bộ chấp nhận và quyết định số 301/NL - TCCB - LD ngày 18/06/1991
đổi tên Công ty phục vụ đời sống thành Công ty Dịch vụ tổng hợp ngành
năng lượng, với chức năng kinh doanh đa ngành phục vụ sản xuất than và bổ
nhiệm đồng chí Đào Thẩm làm Giám đốc Công ty.
Kết quả kinh doanh của Công ty trong thời gian 1991 - 1994 có những
bước phát triển vượt bậc và đạt hiệu quả kinh tế cao, tăng thêm nguồn vốn lưu
động, đầu tư thêm thiết bị vân tải sông biển, thu nhập và đời sông người lao
động được nâng cao.
 Giai đoạn 1995 - 04/2003:
Để phát huy năng lực của ngành than là một ngành kinh tế mạnh của
Nhà nước. Chính phủ quyết định thành lập Tổng Công ty Than là Tổng Công
ty 91 trực thuộc Chính phủ theo Quyết định số 563/QĐ - TTg ngày
10/10/1994 với mục tiêu ổn định và phát triển ngành than đáp ứng yêu cầu
phát triển trong sự nghiệp hoá hiện đại hoá.
Tổng Công ty than Việt Nam triền khai phương án sắp xếp tổ chức sản
xuất trên cơ sở các khối sản xuất, thương mại và phục vụ. Công ty Thương
mại và Dịch vụ tổng hợp được thành lập theo quyết định số 135/ QĐ - NL -
TCCB ngày 04/03/1995 là đơn vị thành viên của Tổng Công ty than Việt
Nam trên cơ sở hợp nhất Công ty Dịch vụ tổng hợp ngành Năng lượng, Công
ty vận tải kinh doanh than, Xí nghiệp kinh doanh dịch vụ vật tư vận tải thuộc
Công ty Coalimex.
Ph¹m V¨n Häc Líp: QLKT 46B
19

Ph¹m V¨n Häc Líp: QLKT 46B
20

Thương mại và Dịch vụ tổng hợp thành Công ty Đầu tư, Thương mại và Dịch
vụ đã tạo điều kiện cho Công ty triển khai tham gia các dự án xây dựng của
các Tỉnh.
Bước vào năm 2004 Công ty Đàu tư, Thương mại và Dịch vụ tiến hành
thực hiện chương trình cổ phần hoá doanh nghiệp theo quyết định của Bộ
Công nghiệp với điều kiện vô cùng thuận lợi của một doanh nghiệp có lợi thế
về sản xuất cùng với năng lực kinh doanh thương mại, một thương hiệu đang
có uy tín trên thị trường trong cả nước.
 Giai đoạn 01/12/2004 đến nay:
Căn cứ vào Nghị định số 55/2003/NĐ - CP ngày 25/05/2003 của Chính
phủ quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công
nghiệp:
Căn cứ Nghị định số 64/2002/NĐ - CP ngày 29/06/2002 của Chính
phủ về việc chuyển doanh nghiệp nhà nước thành Công ty cổ phần.
Xét đè nghị của Tổng Công ty than Việt Nam, theo đề nghị của Ban đổi
mới và phát triển doanh nghiệp và Vụ trưởng vụ Tổ chức - Cán bộ.
Quyết định số 150/2004/ QĐ - BCN ngày 01/12/2004. Phê duyệt
phương án cổ phần hoá Công ty Đầu tư, Thương mại và Dịch vụ ( công ty
thành viên hạch toán độc lập của Tổng Công ty Than Việt Nam ).
Cho đến nay Công ty đã đổi tên thành Công ty “Công ty cổ phần Đầu
tư, Thương mại và Dịch vụ - TKV”
1.1. Cơ cầu vốn điều lệ:
Vốn điều lệ của Công ty cổ phần là 20.000.000.000 đồng (Hai mươi tỷ
đồng chẵn ). Trong đó:
- Tỷ lệ cổ phần của Nhà nước: 57,00%
- Tỷ lệ cổ phần bán cho người lao động trong Công ty : 40,61%
- Tỷ lệ cổ phần bán ra ngoài Công ty 2,39%

Hoàng Mai, Hà Nội
F21 - A12, phường Bắc Nghĩa
Tân, Quận Cầu Giấy, Hà Nội
114.000
2 571 cổ đông khác 86.000
Người đại diện theo pháp luật của công ty: Giám đốc - Nguyễn Đức Thái.
Ph¹m V¨n Häc Líp: QLKT 46B
22

2. Mô hình, chức năng, nhiệm vụ các phòng trong Công ty.
Mô hình tổ chức bộ máy của Công ty:

2.1 Văn phòng Công ty.
a. Chức năng:
Văn phòng công ty là phòng chức năng tham mưu giúp việc cho Giám
đốc Công ty về lĩnh vực:
- Công tác hành chính văn thư.
- Công tác văn phòng Giám đốc, tổng hợp giúp Giám đốc xây dựng các
chương trình, kế hoạch công tác của lãnh đạo, tổng hợp tình hình hoạt động
Ph¹m V¨n Häc Líp: QLKT 46B
23
Hội đồng
quản trị
Ban Giám đốc
Phó Giám đốc Phó Giám đốc Phó Giám đốc
Phòng
Đầu tư
- Dự
án
Phòng

an
toàn
môi
trường
Phòng
kinh
doanh
ô tô
Phòng
kỹ
thuật
khai
thác

chung của toàn Công ty, đôn đốc các phòng ban và đơn vị trực thuộc hoạt
động đúng chương trình công tác.
- Đảm bảo toàn bộ cơ sở vật chất phục vụ cho các hoạt động của cơ
quan Công ty.
- Công tác bảo vệ - quân sự.
b. Nhiệm vụ:
- Công tác hành chính như: Tổ chức đón, tiếp khách, tiếp nhận, in ấn,
phát hành, lưu trữ các văn bản Công ty và ngoài Công ty, tổ chức và thực hiến
công tác thông tin liên lạc trong Công ty và các Cơ quan hữu quan, tiếp nhận
các tài liệu, báo chí, công văn ( đến ) đúng thể chế hành chính, đôn đốc các
phòng ban Công ty và các đơn vị thực hiện chương trình công tác, tập hợp và
thông báo chương trình làm việc hàng tuần của Công ty. Ghi biên bản, ý kiến
kết luận của Giám đốc Công ty tại các hội nghị, cuộc họp quan trọng.
- Công tác quản trị đời sống: Đảm bảo điều kiện làm việc của CBCNV,
tổ chức việc ăn nghỉ cho khách đến Cơ quan công tác, quản lý tốt nhà làm
việc và trang thiết bị hiện có, chủ trì va cùng với Công đoàn Cơ quan tổ chức

trong Công ty xây dựng kế hoạch lao động và cân đối tiền lương toàn Công
ty, hoàn thiện hệ thống định biên lao động trong Công ty.
- Công tác y tế vệ sinh công nghiệp.
- Công tác Thanh tra: Xây dựng, tổ chức và kiểm tra thực hiên chương
trình công tác thanh tra hàng năm, nghiên cứu xem xét giải quyến các đơn thư
khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Công ty.
- Công tác thi đua khen thưởng: Tập hợp đăng ký các danh hiệu thi đua
của các đơn vị trực thuộc Công ty, theo dõi hướng dẫn phong trào thi đua ở
các cơ sở, tổng hợp, báo cáo Hội đồng Thi đua - Khen thưởng xét duyệt thi
đua sáu tháng và kết thúc năm kế hoạch. Tổ chức sơ kết tổng kết công tác thi
đua - khen thưởng hàng năm.
2.3 Phòng kế hoạch.
a. Chức năng.
Ph¹m V¨n Häc Líp: QLKT 46B
25

Trích đoạn Đa dạng hoá các hính thức tạo nguồn thu mua. Giảm chi phí lưu thông. Nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn 1 Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định. Hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý và nâng cao trình độ nghiệp vụ cán bộ làm nhiệm vụ hoạt động thương mại đầu vào của Công ty.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status