ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN TÀI CHÍNH HỌC - Pdf 30

Câu 2: Phân tích các chức năng của tài chính? Trình bày sự vận dụng các chức năng của
tài chính trong quản lý tài chính doanh nghiệp.
Trả lời:
* Chức năng của tài chính:
1. Chức năng phân phối.
Phân phối của tài chính là sự phân chia tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị, qua
đó hình thành nên các quỹ tiền tệ tập trung và không tập trung và sử dụng các quỹ tiền tệ này
vào các mục đích nhất định.
Phân phối của tài chính bao gồm 2 quá trình: Phân phối lần đầu và phân phối lại.
- Quá trình phân phối lần đầu: Là sự phân phối tổng sản phẩm xã hội cho các chủ thê tham gia
vào quá trình sản xuất kinh doanh và dịch vụ. Phân phối lần đầu được thực hiện trước hết và
chủ yếu ở khâu cơ sở của hệ thống tài chính. Trong quá trình phân phối lần đầu giá trị tổng sản
phẩm xã hội sẽ được hình thành nên các quỹ tiền tệ sau:
+ Quỹ bù đắp ( bù đắp các chi phí đã tiêu hao trong quá trình sản xuất).
+Quỹ tích luỹ.
+ Quỹ tiêu dùng.
- Quá trình phân phối lại: Là quá trình tiếp tục phân phối những thu nhập cơ bản, những quỹ
tiền tệ được hình thành qua phân phối lần đầu ra phạm vi rộng hơn ( toàn xã hội) để đáp ứng
yêu cầu tích luỹ và tiêu dùng của các chủ thể ttrong xã hội. Phân phối lại được thực hiên bằng
2 phương pháp"
+ Huy động, tập trung một phần thu nhập của các tổ chức dân cư vào các quỹ tiền tệ
dưới các hình thức: thuế, các khoản tiền gửi, mua các loại GTCG.
+ Sử dụng các quỹ tiền tệ của các chủ th trong xã hội.
• Khi vận dụng chức năng phân phối của tài chính vào thực tiễn để phân phối các nguồn
tài chính đòi hỏi phải đáp ứng các nhu cầu cơ bản sau:
- Phân phối của tài chính phải xác định quy mô, tỷ trọng đầu tư trong tổng sản
phẩm quốc dân phù hợp với khả năng và sự tăng trưởng kinh tế trong mỗi thời kỳ nhất
định.
- Phân phối của tài chính phải đảm bảo giải quyết mối quan hệ giữa tiết kiệm, đầu
tư và tiêu dùng.
- Phân phối của tài chính phải giải quyết thoả đáng các mối quan hệ về lợi ích kinh

doanh nghiệp: Hoạt động kinh doanh của DN luôn cần có sự phân phối đồng bộ của nhiều
người, nhiều bộ phận với nhau, đặt trong các mối quan hệ kinh tế. Vì vậy, nếu sử dụng linh
hoạt, sáng tạo các quan hệ phân phối của tài chính để tác động đến chính sách lương, tiền
thưởng và các chính sách khuyến khích vật chất khác sẽ có tác động tích cực đến việc tăng
năng suất, kích thích tiêu dùng, tăng vòng quay vốn và cuối cùng là tăng được lợi nhuận của
DN. Ngược lại, nếu người quản lý phạm phải sai lầm trong việc sử dụng các đòn bẩy tài chính
và tạo nên cơ chế quản lý tài chính kém hiệu quả, tahì TCDN trở thành vật cản gây kìn hãm
hoạt động kinh doanh.
- TCDN kiểm tra đánh giá hiệu quả các hoạt động kinh doanh của DN: Thông qua việc
kiểm tra, phân tích các chỉ tiêu tài chính cho phép DN có căn cứ quan trọng để đề ra kịp thời
các giải pháp tối ưu cho DN.
+ Đảm bảo cung ứng đủ vốn cho quá trình SX kinh doanh.
+ Sử dụng vốn có hiệu quả.
+ Giảm chi phí kinh doanh và giá thành sản phẩm.
+ Nâng cao tỷ suất LN của doanh nghiệp.
Câu 3: Có quan điểm cho rằng ngoài 2 chức năng phân phối và giám đốc tài chính còn có
thêm chức năng tổ chức huy động các nguồn tài chính? Anh chị có nhận xét gì về quan
điểm này?
Trả lời
Trong quá trình nghiên cứu có ý kiến cho rằng tài chính còn có chức năng tổ chức chu
chuyển vốn. Ý kiến này xuất phát từ chỗ nói đến chức năng phân phối ( Nhất là khi nói đến đối
tượng phân phối của tài chính là tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân ) chỉ được giới
hạn trong phân phối kết quả sản xuất, và khi chưa có KQSX thì phải nói thêm rằng tái chính có
chức năng tổ chức chu chuyển vốn, nhất là đối với tài chính doanh nghiệp.
Nhưng, như đã nêu ở trên, quan niệm đối tượng phân phối thuộc chức năng của tài
chính chỉ là phân phối kết quả SX sẽ tự tách rời những đặ trưng cơ bản thuộc bản chất của tài
chính và chức năg phân phối của tài chính. Một trong những đặc trưng cơ bản đó là: Đối tượng
phân phối của tài chính và các nguồn tài chính, trong đk kinh tế thị trường chúng vận động và
giao lưu rất rộng. Nguồn tài chính không chỉ là kết quả của SX của chu kỳ này mà còn là kết
quả sản xuất của nhiều chu kỳ trước tích góp lại, được phân phối, được chuyển giao.. từ thế hệ

các nguồn tài chính nước ngoài, từ đó thực hiện các khoản chi để đáp ứng nhu cầu thực hiện
các chức năng và nhiệm vụ của NN. Hoạt động thu chi của NN làm nảy sinh các quan hệ ktế
giữa NN này với NN khác. mặt khác chi tiêu của NN ở các tụ điểm ktế sẽ làm tăng vốn ở các
tụ điểm tiếp nhận.
- Tài chính của hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức xã hội:
+ Là bộ phận hợp thành của hệ thống tài chính gắn với các quỹ tiền tệ của nhân dân, hộ
gia đình và TCXH được hình thành từ các nguồn thu nhập từ lao động, KD, thừa kế, quà tặng..
để sử dụng cho các mục đích tiêu dùng, các mục đích nhất định khác và sinh lời thông qua tích
luỹ, đầu tư vào các hoạt động kinh tế và đầu tư tài chính thông qua các tổ chức tài chính trung
gian và thị trường tài chính. Đây là nguồn lực to lớn trong nền KTTT.
3
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TÀI CHÍNH DOANH
NGHIỆP
TÀI CHÍNH TRUNG GIAN
TÀI CHÍNH DÂN CƯ VÀ
TCXH
THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
- Thị trường tài chính: Đóng vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính
Là bộ phận dẫn vốn một cách trực tiếp giữa các khâu của hệ thống tài chính, thực hiện
chức năng truyền dẫn vốin giữa các tụ điểm vốn trong HTTC.
- Tài chính trung gian - còn gọi là tài chính của khu vực tài chính.
+ Thực hiện vai trò dẫn vốn gián tiếp
+ Tài chính trung gian bao gồm 2 khâu chính: Tín dụng và bảo hiểm.
* Mối liên hệ: Các bộ phận của hệ thống tài chính có mối quan hệ hữu cơ với nhau, tuân
theo quy luật nhất định
- Mối quan hệ giữa tài chính doanh nghiệp và NSNN: Mối quan hệ này thể hiện ở chỗ
Nhà nước cấp phát, hỗ trợ vốn và góp vốn cổ phần theo những nguyên tắc và phương thức nhất
định để tiến hành sản xuất kinh doanh và phân chia lợi nhuận. Đồng thời, mối quan hệ tài
chính này cũng phản ánh những quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị phát sinh trong quá trình

toán thu chi ngân sách nhà nước đã được quốc hội phê chuẩn và có hiệu lực thi hành, năm ngân
sách thường bằng 1 năm dương lịch.
+ Việc quy định năm ngân sách hoàn toàn phụ thuộc vào ý thức chủ quan của NN song
cũng bắt nguồn từ 2 yếu tố chủ động:
• Đặc điểm hoạt động của nền kinh tế liên quan đến nguồn thu NSNN.
• Đặc điểm hoạt động của cơ quan lập pháp ( các kỳ họp quốc hội, nghị viện)
Ở VN năm ngân sách bắt đầu từ ngày 1/1 và kết thúc vào ngày 31/12 hàng năm.
* Đặc điểm của NSNN:
• Hoạt động thu chi của ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế - chính
trị của nhà nước, và việc thực hiện các chức năng của nhà nước, được nhà nước tiến
hành trên cơ sở những luật lệ nhất định;
• Hoạt động ngân sách nhà nước là hoạt động phân phối lại các nguồn tài chính, nó thể
hiện ở hai lãnh vực thu và chi của nhà nước;
• Ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với sở hữu nhà nước, luôn chứa đựng những lợi ích
chung, lợi ích công cộng;
• Ngân sách nhà nước cũng có những đặc điểm như các quỹ tiền tệ khác. Nét khác biệt
của ngân sách nhà nước với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, nó được
chia thành nhiều quỹ nhỏ có tác dụng riêng, sau đó mới được chi dùng cho những mục
đích đã định;
• Hoạt động thu chi của ngân sách nhà nước được thực hiện theo nguyên tắc không hoàn
trả trực tiếp là chủ yếu.
* Bản chất của NSNN
- NSNN là một phạm trù ktế mag tính lịch sử, nó phản ánh những mối quan hệ nhất
định của quan hệ kinh tế thuộc lĩnh vực phân phối sản phẩm xã hội trong điều kiện còn tồn tại
quan hệ hàng hoá - tiền tệ và được sử dụng như một công cụ thực hiện các chức năng của NN.
Sự ra đời và tồn tại của NSNN gắn với nền kinh tế SXHH và NN.
- NSNN về mặt bản chất là hệ thống những mối quan hệ kinh tế giữa NN với mọi tầng
lớp dân cư, thành phần kinh tế XH. Những mối quan hệ kinh tế này phát sinh trong quá trình
NN huy động và sử dụng các nguồn TC nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện các chức năng của
NN.

3. Giải quyết các vấn đề xã hội ( vai trò điều tiết trong lĩnh vực xã hội)
- NSNN đóng vai trò quan trọng nhất: Chi cho giáo dục, y tế, kế hoạch hoá gia đình, thể
thao, phát thanh, truyền hình, an ninh XH, trợ giá.. có ý nghĩa to lớn trong việc nâng cao dân
trí, bảo vệ sức khoẻ, văn hoá, ổn định XH..
- Thông qua CS thuế để điều hoà thu nhập, hướng dẫn tiêu dùng hợp lý, góp phần thực
hiện công bằng XH.
4. Góp phần ổn định thị trường giá cả, chống LP ( vai trò điều tiết về mặt thị trường).
- NSNN có vai tò quan trọng trong thực hiện các CS về ổn định tiền tệ, giá cả, chống
LP. Một chính sách NS thắt chặt hay nới lỏng có tác động mạnh mẽ tới cung, cầu XH và từ đó
có tác động đến điều tiết thị trường.
- Dự trữ quốc gia, qua các quỹ dự phòng có tác dụng bù đắp điều chỉnh kịp thời những
bất ổn của kinh tế, thị trường khi xảy ra những biến động bất thường giúp phục hồi SX, bình
ổn giá cả. ổn định thị trường..
6
Câu 6: Trình bày các khái niệm thuế, phí, lệ phí? Đặc điểm của thuế? Các yếu tố cấu
thành thuế? Phân biệt thuế và lệ phí?
Trả lời:
*Khái niệm:
1.Thuế: Có nhiều khái niệm
Thuế là nguồn thu chủ yếu cảu NSNN, là khoản đóng góp bắt buộc do PL quy định đối với các
cá thể nhân và pháp nhân nhằm đáp ứng cơ bản nhu cầu chi tiêu của NN.
- Thuế là 1 hình thức phân phối thu nhập của NN để động viên một phần thu nhập của các
TCKT và các cá nhân trong XH vào NSNN để thoả mãn nhu cầu chi tiêu của NN. Thuế bao
giờ cũng là hình thức động viên mang tính bắt buộc gắn với quyền lực chính trị của NN bằng
các sắc lệnh do NN ấn định.
2.Phí: - Là khoản thu mang tính chất bù đắp hay khoản nộp mang tính chất bắt buộc đối với
các thể nhân hay pháp nhân do được hưởng 1 số lợi ích hay sử dụng 1 dịch vụ ( công cộng) nào
đó do NN cung cấp. Phí mang tính quyền lực do các cơ quan hành pháp ban hành hoặc theo tập
quán của địa phương ( viện phí, học phí, phí cầu phà, phí thuỷ lợi...).
3. Lệ phí: - Là khoản thu NSNN bắt buộc đối với các thể nhân và pháp nhân nhằm 1 mặt vừa

Trong đó, thuế suất là yếu tô cơ bản nhất của 1 sắc thuế, nó thể hiện yêu cầu động viên
của nhà nước đối với xã hội, thể hiện đường lối của Đảng và NN trong từng thời kỳ.
* Phân biệt thuế, phí, lệ phí.
7
- Thuế là khoản đóng góp bắt buộc theo quy định của pháp luật của các cá nhân và pháp
nhân đối với Nhà nước không mang tính đối giá và hoàn trả trực tiếp.
- Lệ phí là khoản thu vừa mang tính chất phục vụ cho đối tượng nộp lệ phí về việc thực hiện
một số thủ tục hành chính vừa mang tính chất động viên sự đóng góp cho ngân sách Nhà nước.
- Phí là khoản thu mang tính chất bù đắp chi phí thường xuyên hoặc bất thường như phí về
xây dựng, bảo dưỡng, duy tu của Nhà nước đối với những hoạt động phục vụ người nộp phí.
Thuế và lệ phí, phí đều là nguồn thu cho ngân sách Nhà nước và đều mang tính pháp lý nhưng
giữa chúng có sự khác biệt như sau:
+ Về mặt pháp lý: Thuế mang tính chất pháp lý cao hơn, thuế là luật hoặc pháp lệnh do cơ quan
lập pháp ( Quốc hội) ban hành, còn phí và lệ phí là các văn bản dưới luật do các cq hành pháp
ban hành.
+ Tính hoàn trả trực tiếp: Thuế không mang tính hoàn trả trực tiếp, một phần được hoàn trả
gián tiếp thông qua các khoản trợ cấp xã hội và phúc lợi công cộng. Phí và lệ phí mang tính
hoàn trả trực tiếp - chỉ khi có sử dụng hoặc hưởng lợi ích mới phải nộp phí, lệ phí.
+ xét về mục đích và mức độ ảnh hưởng với nền kinh tế:
• Thuế có 3 tác động lớn: - Tạo nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước
- Điều chỉnh hoạt động sx kinh doanh, quản lý và định
hướng phát triển kinh tế.
- Đảm bảo sự bình đẳng giữa những chủ thể kinh doanh và
công bằng xã hội.
Qua đó chúng ta thấy thuế có tác động lớn đến toàn bộ qúa trình phát triển kinh tế - xã hội
của một quốc gia, đồng thời thuế là một bộ phận rất quan trọng cấu thành chính sách tài chính
quốc gia.Trong khi đó lệ phí, phí không có những tác dụng nói trên, nó chỉ có tác dụng tạo
nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. Hơn nữa, việc tạo nguồn này không phải dùng đáp ứng
nhu cầu chi tiêu mọi mặt của Nhà nước, mà trước hết dùng để bù đắp các chi phí hoạt động
của các cơ quan cung cấp cho xã hội một số dịch vụ công cộng như: dịch vụ công chứng, dịch

vốn trong nền kinh tế, người có lợi là nhà nước.
+Nhược điểm: Tăng giá, lạm phát.
- Vay trong và ngoài nước: Biện pháp này được hầu hết các nước trên TG sử dụng.
+ Ưu điểm: Đáp ứng nhu cầu thiếu hụt NSNN, rút bớt lượng tiền thừa trong lưu thông,
thu hút được các nguồn tài chính nhàn rỗi trong XH vào chương trình chi cho đầu tư và phát
triển của NN, không gây lạm phát.
+ Nhược điểm: Có trách nhiệm hoàn trả cả vốn và lãi vì vậy nguồn vốn cần phải quản
lý và sử dụng có hiệu quả. Biện pháp vay chỉ có tác dụng tích cực khi sử dụng cho mục tiêu
đầu tư và phát triển, không cho tiêu dùng.
- Tăng thu, giảm chi: Đây là biện pháp cơ bản nhất mà chính phủ thương dùng để giảm hộ chi
ngân sách .Bằng quyền lực và nghĩa vụ của mình chính phủ tính toán để tăng các khoản thu và
cắt giảm chi tiêu.Tăng thu và giảm chi là biện pháp cổ tryền nhưng không phải bao giờ cũng
thực hiện thành công được bởi vì ở đây xả ra hai nghịch lí khó giải quyết. Một là: trong bối
cảnh tỉ lệ tăng trưởng GDP chưa lớn sẽ ảnh hưởng đến khả năng đầu tư vào tiêu dùng ở khu
vực tư nhân bị hạn chế ,tức giảm động lực phát triển kinh tế. Hai là: khả năng giảm chi cũng có
giới hạn nhất định, nếu giảm chi vượt quá giới hạn thì cũng ảnh hưởng không tốt đến quá trình
phát triển xã hội .Chính vì thế vấn đề đặt ra là chính phủ phải tính toán phí tăng thu và giảm chi
như thế nào để gây ảnh hưởng ít nhất đến tăng trưởng kinh tế.
* Bội chi NSNN ở Việt Nam hiện nay.
- Năm 2009 mức bội chi NSNN ở Việt Nam là 87.300 tỷ đồng, bằng 4,82% tổng sản
phẩm trong nước (GDP). Năm 2010 mức bội chi ngân sách nhà Nước là 119.700 tỷ đồng, bằng
6,2% GDP. Mức bội chi ngân sách nhà nước năm 2011 là 120.600 tỷ đồng, bằng 5,3% GDP.
Chính phủ đã áp dụng một số biện pháp để bù đắp bội chi NSNN như sau:
+ Tiếp tục thực hiện chính sách tài khoá chặt chẽ, triệt để tiết kiệm và nâng cao hiệu
quả chi, giảm bội chi ngân sách. Phối hợp đồng bộ chính sách tài khoá với chính sách tiền tệ và
các chính sách khác để tiếp tục thực hiện có hiệu quả mục tiêu kiềm chế lạm phát, chủ động
ngăn ngừa suy giảm kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy kinh tế phát
triển.
9
+ Chính phủ khẩn trương tổ chức thực hiện tốt các Luật thuế đã được sửa đổi. Nghiên

định đến thu nhập của các khâu tài chính khác trong hệ thống tài chính.
Bản chất của tài chính doanh nghiệp là những mối quan hệ kinh tế dưới hình thái giá trị
phát sinh trong quá trình hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của DN để phục vụ
yêu cầu của SXKD của DN và yêu cầu chung của XH. Những mối quan hệ này bao gồm:
• Quan hệ kinh tế giữa DN với NSNN: quan hệ về nộp thuế.
• Quan hệ kinh tế giữa DN với các tổ chức tài chính trung gian và thị trường tài chính.
• Quan hệ kinh tế giữa DN với các DN và các tổ chức kinh tế khác
• Quan hệ kinh tế giữa DN với thị trường.
• Quan hệ kinh tế giữa DN với các đơn vị trong nội bộ DN
• Quan hệ kinh tế giữa DN với người lao động của DN và các đối tượng khác.
* Vai trò của TCDN.
- Tổ chức huy động vốn và phân phối sử dụng các nguồn lực tài chính có hiệu quả: Đối
với 1 DN vốn là yếu tố vật chất cho sự tồn tại và phát triển. Do vậy, vấn đề tổ chức huy động
và phân phối sử dụng vốn sao có hiệu quả trở thành nhiệm vụ rất quan trọng đối với công tác
quản lý TCDN. Trong nền kinh tế thị trường, vốn cũng là 1 loại hàng hoá, cho nên việc sử
dụng vốn của DN phải trả 1 khoản CF nhất định. Vì thế, DN cần phải chủ động xác định nhu
cầu vốn để tài trợ cho hoạt động kinh doanh 1 cách hiệu quả. Song song với quá trình huy động
vốn, TCDN còn có vai trò tổ chức phân phối, sử dụng vốn để đạt hiệu quả KD cao nhất. Tính
hiệu quả của việc sử dụng vốn được biểu hiện ở 2 khía cạnh:
+ Về mặt kinh tế, lợi nhuận tăng, vốn của DN không ngừng được đảm bảo, phát triển.
+ Về mặt XH, các DN không chỉ làm tròn nghĩa vụ của mình đối với NN mà còn không
ngừng nâng cao mức thu nhập của người lao động.
- TCDN tạo lập đòn bẩy kinh tế để kích thích điều tiết các hoạt động kinh tế trong
doanh nghiệp: Hoạt động kinh doanh của DN luôn cần có sự phân phối đồng bộ của nhiều
người, nhiều bộ phận với nhau, đặt trong các mối quan hệ kinh tế. Vì vậy, nếu sử dụng linh
hoạt, sáng tạo các quan hệ phân phối của tài chính để tác động đến chính sách lương, tiền
thưởng và các chính sách khuyến khích vật chất khác sẽ có tác động tích cực đến việc tăng
năng suất, kích thích tiêu dùng, tăng vòng quay vốn và cuối cùng là tăng được lợi nhuận của
DN. Ngược lại, nếu người quản lý phạm phải sai lầm trong việc sử dụng các đòn bẩy tài chính
và tạo nên cơ chế quản lý tài chính kém hiệu quả, tahì TCDN trở thành vật cản gây kìn hãm

- Vay ngân hàng: Là khoản tiền mà DN vay của NH hoặc các TCTD khác dưới nhiều hình thức
khác nhau( tín dụng ứng trước, thấu chi, CK thương phiếu, bao thanh toán, TD thuê mua...)
- TD thương mại: Là vay bạn hàng dưới hình thức mua chịu hàng hoá ( vay ngắn hạn).
- Phát hành trái phiếu: Vay vốn trực tiếp bằng cách phát hành trái phiếu ( chỉ những DNNN và
công ty cổ phần có phát hành cổ phiếu mới được vay vốn bằng cách phát hành trái phiếu - vay
trung và dài hạn).
- Các nguồn vốn chiếm dụng hợp pháp như: tiền lương, bảo hiểm XH, tiền thuế chưa nộp, các
khoản phải thanh toán khác... Đây là nguồn vốn mà DN có thể sử dụng trong thời gian ngắn
hạn.
* Phân tích ưu nhược điểm.
- Ưu điểm: Việc huy động các nguồn vốn này là rất quan trọng đối với các DN để đảm bảo
cung ứng đầy đủ, kịp thời vốn cho SXKD. Với sức ép về chi phí sử dụng vốn vay, thời hạn
hoàn trả vốn sẽ thúc đẩy DN sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả. Mặt khác việc tranh thủ
chiếm dụng vốn từ các khoản nợ phải trả trong thời hnạ cho phép cũng tạo điều kiện cho DN
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong kinh doanh.
- Nhược điểm: Việc sử dụng nguồn vốn này có những mặt trái của nó. DN phụ thuộc vào
nguồn vốn vay sẽ gây tốn kém về chi phí, thời gian. Mặt khác, nếu không tính toán chính xác
và thận trọng, kết quả KD và lợi nhuận của DN sẽ bị ảnh hưởng bởi lãi suất tiền vay. Vì vậy
khi vay vốn DN cần xem xét kỹ:
• Nếu hiệu quả kinh tế của khoản vay không đủ để trả giá khoản vay thì không nên vay.
• Nếu hiệu quả kinh tế của khảon vay tương đương với giá cả của khoản vay thì cần cân
nhắc kỹ nhất là đối với các rủi ro có thể xảy ra.
• Nếu hiệu quả kinh tế của khoản vay cao hơn giá cả của khoản vay thì nên vay vì tốt
hơn là phát hành cổ phiếu ( Giảm bớt quyền sở hữu).
12
Câu 10: Chi phí của DN? Giá thành của DN? Phân biệt sự khác nhau giữa chi phí và giá
thành của DN?
Trả lời:
* Chi phí
Chi phí của DN bao gồm chi phí hoạt động SXKD và chi phí hoạt động khác.

• Giá thành toàn bộ: Gồm giá thành SX cộng với CF tiêu thụ và CF quản lý DN.
b. Vai trò của giá thành.
- Là thước đo mức chi phí cho SX và tiêu thụ SP cau DN.
- Là công cụ quan trọng để DN kiểm soát tình hình hoạt động SXKD và xem xét hiệu
quả các biện pháp tổ chức kỹ thuật.
- Là căn cứ để xây dựng giá cả hàng hoá dịch vụ.
13
* Phân biệt
Chỉ tiêu Giá thành Chi phí
1. Phạm vi Chi phí sản xuất tính cho 1 kỳ Giá thành sản phẩm tính cho 1 sản
phẩm hoàn thành
2. Giá trị Giá thành sản phẩm không liên quan
đến chí phí sản xuất sản phẩm dở
dang cuối kỳ và sản phẩm hỏng,
nhưng lại liên quan đến chi phí sản
xuất của sản phẩm dở dang kỳ trước
chuyển sang.
Chi phí sản xuất trong kỳ không chỉ
liên quan đến những sản phẩm đã
hoàn thành mà còn liên quan đến cả
sản phẩm còn đang dở dang cuối kỳ
và sản phẩm hỏng
Chi phí sản xuất trong kỳ là cơ sở để
tính giá thành sản phẩm, dịch vụ đã
hoàn thành. Sự tiết kiệm hay lãng phí
chi phí sản xuất kinh doanh có ảnh
hưởng trực tiếp đến giá thành sản
phẩm/dịch vụ.
14
Câu 11: Thu nhập và lợi nhuận của DN? Phân tích ý nghĩa của các chỉ tiêu thu nhập và

hình tài chính của DN gặp khó khăn. Nếu tình trạng này kéo dài sẽ làm cho DN không đủ sức
cạnh tranh trên thị trường và tất yếu sẽ dẫn đến phá sản.
- Ý nghĩa của thu nhập với các khâu tài chính khác.
+ Để tiếp tục quá trình tái SX, thu nhập của DN tất yếu phải được phân phối. Song do
nền kinh tế thị trường phải có sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế khác nhau, quy mô thu
nhập và phương thức phân phối TN ở các loại hình DN cũng khác nhau. Trước hết TN của DN
được phân phối để bù đắp các yếu tố vật chất đã tiêu hao trong quá trình SXKD như khấu hao
máy móc thiết bị, CF về đối tượng hoạt động, CF tiền lương và những CF khác đã bỏ ra như:
Các CF quản lý giao, dịch, lãi vay ngân hàng....
* Lợi nhuận.
- LN là kết quả tài chính cuối cùng của kì kinh doanh của DN, là khoản chênh lệch
bằng tiền giữa thu nhập và chi phí của DN. LN của DN cũng bao gồm 2 bộ phận: LN của hoạt
động sản xuất kinh doanh cơ bản và lợi nhuận từ hoạt động khác của DN.
• Lợi nhuận của hoạt động SXKD cơ bản là khoản chên lệch giữa doanh thu cả các hoạt
động sản xuất kinh doanh cơ bản trừ đi giá thành toàn bộ của SP hàng hoá, dịch vụ đã
tiêu thụ và thuế theo quy định của pháp luật.
• Lợi nhuận khác: Là khoản thu nhập giũa thu nhập khác trừ đi chi phí khác của các hoạt
động khác và thuế theo quy định của pháp luật.
- Ý nghĩa của lợi nhuận với hoạt động sản xuất kinh doanh
15


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status