Chuyên đề thực tập Khoa Đầu tư
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển chung của toàn nền kinh tế là sự phát triển của hệ thống
ngân hàng. Với sự lớn mạnh không ngừng của mình, các ngân hàng đã trở thành các
trung tâm tài chính quan trọng nhất trong nền kinh tế. Các ngân hàng đóng vai trò
quan trọng trong việc thu hút nguồn vốn nhàn rỗi từ các thành phần kinh tế khác nhau
và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư thực hiện ý tưởng của mình. Do đó
ngân hàng đã trở thành van điều tiết vốn, giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của cả
nền kinh tế.
Ngân hàng Phát triển Việt Nam – VDB là một trong những ngân hàng lớn nhất
Việt Nam trực thuộc thẩm quyền quản lý của Chính Phủ, kể từ khi thành lập năm
2006, Ngân hàng đã luôn thực thi có hiệu quả và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ với
kết quả tốt nhất.
Là một sinh viên khoa Kinh tế đầu tư trường Đại học kinh tế quốc dân, sau một
thời gian được học tập tại trường, cùng với sự chỉ dẫn tận tình của các thầy cô em đã
được tiếp thu những kiến thức cơ bản về đầu tư trên phương diện lý thuyết. Nhằm
trau dồi thêm hiểu biết thực tế và vận dụng những lý thuyết đã học vào công việc
thực tiễn, trong thời gian từ 15/01 đến 26/04/2010, em đã được Hội sở chính–Ngân
hàng Phát triển Việt Nam–VDB tiếp nhận và giúp đỡ trong quá trình thực tập.
Trong quá trình thực tập, nhận thấy vai trò quan trọng của thuỷ điện đối với sự
phát triển của đất nước nói chung và hệ thống điện Việt Nam nói riêng, kết hợp với
sự tìm hiểu về công tác thẩm định dự án thuỷ điện tại Hội sở chính, em đã thực hiện
chuyên đề thực tập của mình với đề tài: “Công tác thẩm định dự án vay vốn đầu tư
thủy điện tại Ngân hàng phát triển Việt Nam – VDB”
Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Từ Quang Phương – Trưởng bộ môn kinh tế
đầu tư, các cô chú, anh chị tại Ban Tín dụng – Ngân hàng phát triển Việt Nam đã tận
tình hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề thực tập này. Em rất mong nhận
được sự góp ý và đánh giá của thầy cô Bộ môn Kinh tế Đầu tư để em có điều kiện
hoàn thành chuyên đề thực tập tốt hơn.
Sinh viên: Đinh Gia Khánh Lớp: Kinh tế Đầu tư K 48B/QN
1
1. Vốn điều lệ của Ngân hàng Phát triển là 10.000 tỷ đồng (mười nghìn tỷ
đồng) từ nguồn vốn điều lệ hiện có của Quỹ Hỗ trợ phát triển ( Theo quyết định Số
44/2007/QĐ-TTg ngày 30/3/2007 )
Việc điều chỉnh, bổ sung vốn điều lệ tuỳ thuộc yêu cầu và nhiệm vụ cụ thể,
bảo đảm tỷ lệ an toàn vốn của Ngân hàng Phát triển và do Thủ tướng Chính phủ xem
xét, quyết định.
2. Hoạt động của Ngân hàng Phát triển không vì mục đích lợi nhuận; tỷ lệ dự
trữ bắt buộc bằng 0% (không phần trăm); không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi;
được Chính phủ đảm bảo khả năng thanh toán, được miễn nộp thuế và các khoản nộp
ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.
3. Ngân hàng Phát triển có thời hạn hoạt động là 99 năm kể từ ngày Quyết
định số 108/2006/QĐ-TTg ngày 19 tháng 5 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về
việc thành lập Ngân hàng Phát triển Việt Nam có hiệu lực.
2. Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Phát triển Việt Nam ( VDB )
Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức chính của Ngân hàng
Sinh viên: Đinh Gia Khánh Lớp: Kinh tế Đầu tư K 48B/QN
Thủ Tướng chính phủ
Hội đồng quản lý
Ban kiểm soát Bộ máy điều hành
Sở giao
dịch
Chi nhánh ngân
hàng tại địa
phương
Văn phòng
đại diện tại
nước ngoài
Văn phòng
đại diện trong
nước
- Phê duyệt kế hoạch hoạt động hàng năm của Ngân hàng Phát triển theo đề
nghị của Tổng giám đốc.
- Quyết định việc bổ nhiệm, miễn nhiệm các chức danh lãnh đạo của Ngân
hàng Phát triển Việt Nam, gồm: Phó Tổng giám đốc, Trưởng Ban Kiểm soát, Kế toán
trưởng theo đề nghị của Tồng giám đốc.
- Giám sát, kiểm tra cơ quan điều hành trong việc thực hiện các quy định của
Chính phủ về tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu của Nhà nước, Điều lệ của Ngân
hàng Phát triển và các quyết định của Hội đồng quản lý.
- Phệ duyệt kế hoạch hoạt động của Ban Kiểm soát, xem xét báo cáo kết quả
kiểm soát và báo cáo thẩm định quyết toán tài chính của Ban Kiểm soát
- Thông qua báo cáo hoạt động, báo cáo tài chính và quyết toán hàng năm của
Ngân hàng Phát triển.
Sinh viên: Đinh Gia Khánh Lớp: Kinh tế Đầu tư K 48B/QN
4
Chuyên đề thực tập Khoa Đầu tư
- Thực hiện các quyền và nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.
- Chịu trách nhiệm về các quyết định của Hội đồng quản lý trước Thủ tướng
Chính phủ.
♦ Ban Kiểm soát.
a) Ban kiểm soát và thành viên Ban kiểm soát
Ban Kiểm soát có tối đa 07 thành viên chuyên trách, là các chuyên gia am hiểu
về lĩnh vực tài chính, tín dụng, đầu tư..., hiểu biết về pháp luật, không có tiền án, tiền
sự về các tội danh liên quan đến hoạt động kinh tế theo quy định của pháp luật.
b) Nhiệm vụ và quyền hạn của Ban Kiểm soát:
- Kiểm tra việc chấp hành chủ trương, chính sách, pháp luật và Nghị quyết của
Hội đồng quản lý;
- Kiểm tra hoạt động tài chính, giám sát việc chấp hành chế độ hạch toán, hoạt
động của hệ thống kiểm tra và kiểm toán nội bộ của Ngân hàng Phát triển.
- Thẩm định báo cáo tài chính hàng năm, kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan
đến hoạt động tài chính của Ngân hàng Phát triển khi xét thấy cần thiết để báo cáo
Ngân hàng Phát triển Việt Nam)
Ngoài ra vì Ngân hàng Phát triển là ngân hàng trực thuộc chính phủ và hoạt
động không vi mục đích lợi nhuận mà hoạt động theo những quy định do thủ tướng
chính phủ đề ra nên Ngân hàng Phát triển còn có những nghiệp vụ riêng khác như:
- Nhận ủy thác quản lý nguồn vốn ODA.
- Ủy thác cho các tổ chức tài chính tín dụng thực hiện tín cụng của Ngân hàng
Phát triển. Tuy nhiên đến thời điểm hiện nay Ngân hàng Phát triển Việt Nam vẫn
chưa triển khai thực hiện nhiệm vụ này.
- Thực hiện một số nhiệm vụ khác do thủ tướng chính phủ giao.
3.1 Huy động vốn:
Ngân hàng Phát triển Việt Nam với đặc thù hoạt động như trên nên chỉ huy
động tiếp nhận vốn của các tổ chức trong và ngoài nước để thực hiện tín dụng đầu tư
phát triển và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước theo quy định của Chính Phủ.
Ngoài vốn điều lệ ban đầu được Chính phủ cấp Ngân hàng Phát triển phải huy
động một lượng vốn khá lớn để phục vụ cho các hoạt động gnhiệp vụ của mình.
Sinh viên: Đinh Gia Khánh Lớp: Kinh tế Đầu tư K 48B/QN
6
Chuyên đề thực tập Khoa Đầu tư
Hàng năm Ngân hàng Phát triển căn cứ vào nhiệm vụ được Chính phủ giao kế hoạch
hoạt động nghiệp vụ của ngành để cân đối nguồn vốn cho hoạt động nghiệ vụ.
Vốn huy động của Ngân hàng Phát triển chủ yếu là vốn phát hành trái phiếu
Chính phủ, huy động tiền gửi tiết kiệm bưu điện, huy động vốn tạm thời chưa sử
dụng của Bảo hiểm xã hôi – các nguồn vốn này được Chính phủ chỉ định. Ngoài ra,
huy động các nguồn vốn nhàn rỗi của các tổ chức kinh tế khác.
3.2 Thực hiện chính sách tín dụng đầu tư phát triển.
Ngoài hoạt động huy động vốn, Ngân hàng Phát triển Việt Nam còn thực hiện
các chính sách tín dụng đầu tư phát triển như:
+) Cho vay đầu tư phát triển.
+) Hỗ trợ sau đầu tư.
+) Bảo lãnh tín dụng đầu tư.