PHÂN TÍCH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ GIAI ĐOẠN 2006 - 2010 VÀ KẾ HOẠCH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH GIAI ĐOẠN 2011 - 2015 - Pdf 30

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
PHÂN TÍCH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ GIAI
ĐOẠN 2006 - 2010 VÀ KẾ HOẠCH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
NGÀNH GIAI ĐOẠN 2011 - 2015
I. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
1. Cơ cấu ngành kinh tế
Cơ cấu ngành kinh tế là tương quan giữa các ngành trong tổng thể nền kinh tế, thể
hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số lượng và chất lượng giữa các
ngành với nhau. Các mối quan hệ này được hình thành trong những điều kiện kinh tế
nhất định, luôn luôn vận động và hướng vào những mục tiêu cụ thể. Như vậy, cần phải
hiểu cơ cấu ngành kinh tế theo những nội dung sau:
Thứ nhất là số lượng các ngành kinh tế được hình thành. Số lượng ngành kinh tế không
cố định, nó luôn được hoàn thiện theo sự phát triển của phân công lao động xã hội. Theo
thời gian và quan điểm đã có nhiều cách phân loại ngành kinh tế khác nhau. Để thống
nhất cách phân loại ngành, Liên Hợp Quốc đã ban hành “Hướng dẫn phân loại ngành
theo chuẩn quốc tế đối với toàn bộ các hoạt động kinh tế”. Theo tính chất công việc
Liên Hợp Quốc đã gộp các ngành phân loại thành ba khu vực hay còn gọi là ba ngành
gộp: Khu vực I bao gồm các ngành nông – lâm – ngư nghiệp; khu vực II bao gồm các
ngành công nghiệp và xây dựng; khu vực III bao gồm các ngành dịch vụ.
Thứ hai là mối quan hệ tương đối giữa các ngành với nhau. Mối quan hệ này bao gồm
cả mặt số lượng và chất lượng. Mặt số lượng thể hiện ở tỷ trọng (tính theo GDP, lao
động, vốn…) của mỗi ngành trong tổng thể nền kinh tế quốc dân còn khá cạnh chất
lượng phản ánh vị trí tầm quan trọng của từng ngành và tính chất của sự tác động qua lại
giữa các ngành với nhau.
2. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Cơ cấu ngành kinh tế là một pham trù động, nó luôn luôn thay đổi theo từng thời kỳ
phát triển bởi các yếu tố hợp thành cơ cấu không cố định. Qua trình thay đổi cơ cấu
nghành từ trạng thái này sang trạng thái khác ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp với
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
môi trường và điều kiện phát triển gọi là sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Chuyển

động, đặc biệt là hoạt động dịch vụ.
2
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
3. Nhiệm vụ của kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Mặc dù xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là mang tính quy luật nhưng
trong thực tế không có một mô hình chuyển dịch chung cho tất cả các nước. Trong công
tác kế hoạch những vấn đề thường phải đặt ra như cần ưu tiên cho nông nghiệp đến mức
độ nào so với công nghiệp trong thời kỳ đầu phát triển, các mối lien kết kinh tế được
phát huy thế nào qua từng thời kỳ.
- Xác định các điều kiện, yếu tố và các quan điểm chi phối sự chuyển dịch cơ cấu kinh
tê. Đây chính là cơ sở để đưa ra các hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Nó bao hàm các
vấn đề kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ, các mối quan hệ kinh tế quốc tế và các
nguồn lực của đất nước.
- Xác định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cụ thể hóa bằng các quan hệ tỷ lệ giữa
các ngành sao cho đảm bảo phù hợp với xu thế biến đổi chung và phản ánh được đặc
điểm cảu nền kinh tế trong những điều kiện cụ thể.
- Xác định hướng huy động và sử dụng các yếu tố đầu vào đặc biệt là cơ cấu vốn đầu tư
và cơ cấu lao động nhắm đảm bảo được cơ cấu đầu ra theo hướng đã xác định.
- Đề xuất các chính sách, biện pháp kinh tế xã hội cần thiết để hướng dẫn hoạt động
nền kinh tế sao cho đáp ứng được yêu cầu của sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
II. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Giai đoạn 2006 – 2010 là giai đoạn có rất nhiều sự kiện tác động mạnh mẽ tới nên
kinh tế nước ta .Tăng trưởng và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia đều đi kèm với
những thay đổi trong cơ cấu kinh tế, đặc biệt là cơ cấu ba nhóm ngành nông nghiệp (bao
gồm nông- lâm nghiệp và thuỷ sản), công nghiệp - xây dựng và dịch vụ. Cơ cấu kinh tế
của nước ta thời kỳ này có sự chuyển dịch theo đúng xu hướng nhưng chưa thực sự
rõ nét: tỷ trọng nông- lâm- thuỷ sản trong GDP giảm từ 20,97% năm 2005 xuống còn
20.3 % năm 2010 (ước tính); tỷ trọng công nghiệp- xây dựng tăng từ 41,02% lên 41,1%;

Tốc độ tăng GDP bình quân (%) 3.69 3,76 4,07 2,5
Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP (%) 20.4 20.3 22.21 20.09
(Bộ nông nghiệp)
Năm 2009, do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu tốc độ tăng trưởng của
ngành có giảm, nhưng ngay cả trong trường hợp tốc độ tăng trưởng của năm 2009 và
2010 có giảm xuống 2,5% và 3% thì mức bình quân 5 năm vẫn là trên 3,4% và vượt chỉ
tiêu kế hoạch đề ra (3,0% - 3,2%).
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp cũng giống như cơ cấu kinh tế của đất nước, có thể bao
gồm cơ cấu ngành, cơ cấu vùng, cơ cấu thành phần, những cơ cấu này có mối quan hệ
hữu cơ, gắn bó chặt chẽ với nhau. Trong đó cơ cấu ngành nông nghiệp phản ánh cao
nhất sự tiến bộ của phân công lao động xã hội và trình độ phát triển sản xuất trong nông
nghiệp.
Theo xu hướng chung, trong cơ cấu của ngành nông nghiệp, tỷ trọng nông nghiệp (bao
gồm trồng trọt và chăn nuôi) giảm dần, tỷ trọng lâm nghiệp và ngư nghiệp tăng dần
nhằm khai thác tốt hơn tiềm năng đất đai trung du, miền núi, diện tích mặt nước, ao hồ,
sông suối, biển. Đồng thời kết hợp chặt chẽ ba ngành để hỗ trợ cùng phát triển, bảo vệ
môi trường sinh thái.
Cơ cấu nông – lâm – thủy sản theo GTSX giai đoan 2006 - 2010
Đơn vị: %
2006 2007 2008 2009
Nông nghiệp 69,65 69,61 76,09 74,06
Lâm nghiệp 4,04 3,95 3,19 3,10
Thủy sản 26,31 26,44 20,72 22,84
(Bộ nông nghiệp)
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Theo số liệu, tỷ trọng nông nghiệp có xu hướng giảm, tuy nhiên năm 2008 lại tăng đột
biến do được mùa lớn
1.1. Ngành nông nghiệp.
Cơ cấu nông nghiệp theo GTSX giai đoạn 2006 - 2010

trường xuất khẩu.
b. Ngành chăn nuôi
Ngành chăn nuôi triển khai kế hoạch 2006 - 2010 trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn:
Trong khi dịch cúm gia cầm vẫn chưa được khống chế hoàn toàn thì năm 2007 dịch lợn
tai xanh và LMLM lại bùng phát trên diện rộng; Năm 2008 trận rét lịch sử kéo dài 39
ngày làm chết trên 200 ngàn trâu bò. Với ảnh hưởng của dịch bệnh và thời tiết như vậy,
kèm giá thức ăn chăn nuôi tăng cao đã làm ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của ngành
chăn nuôi.
Những năm gần đây, ngành chăn nuôi đang có sự chuyển dịch theo hướng tăng chất
lượng, thông qua việc thúc đẩy hình thành các vùng chăn nuôi quy mô lớn theo hình
thức trang trại, phương thức công nghiệp, sử dụng giống tốt, thức ăn công nghiệp, đảm
bảo an toàn dịch bệnh, hiệu quả chăn nuôi tăng lên: Nhiều giống mới được đưa vào sản
xuất nên năng suất, chất lượng sản phẩm thịt, trứng, sữa được nâng cao.
Xét về chỉ tiêu tăng giá trị sản xuất chăn nuôi bình quân 6,4%/năm có thể đạt được nếu
tốc độ tăng trưởng chăn nuôi năm 2010 đạt trên 6%. Trong cơ cấu ngành nông nghiệp,
tỷ trọng chăn nuôi đã tăng từ 24,96% năm 2006 lên 29% năm 2009.
1.2. Ngành thủy sản
Trong những năm qua, ngành thủy sản nước ta đã trải qua nhiều thăng trầm đáng chú ý.
Từ một lĩnh vực chưa được chú trọng phát triển, quy mô tự phát nhỏ lẻ, ngành thủy sản
đã từng bước vươn lên phát triển một cách mạnh mẽ và hiện nay đang là một ngành
kinh tế mũi nhọn của đất nước. Tốc độ tăng GTSX thủy sản đạt mức khá cao trong 3
năm 2006-2008, bình quân 8,96%/năm, tuy nhiên tỷ trọng GTSX thủy sản trong nông
lâm thủy sản thay đổi không rõ nét trong 3 năm qua. Cơ cấu sản xuất thủy sản biến đổi
theo chiều hướng tích cực, tỷ trọng giá trị sản xuất nuôi trồng thủy sản tăng nhanh, tỷ
trong giá trị thủy sản khai thác giảm, sự chuyển đổi tích cực này có được trước hết nhờ
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản, năm 2007 diện tích nuôi trông thủy sản đạt 1,05
triệu ha, bình quân mỗi năm mở thêm 74 nghìn ha, cùng với đó là sự tập trung phát triển
theo chiều sâu, xác định đối tượng nuôi, phương thức nuôi, quản lý môi trường nuôi, áp

sống cho nông dân, XĐGN ở các vùng miền núi.
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Sau 20 năm đổi mới, kinh tế Việt Nam đã chuyển từ cơ cấu nông nghiệp - công nghiệp -
dịch vụ sang cơ cấu công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp. Cùng với quá trình thay đổi cơ
cấu kinh tế quốc dân, cơ cấu ngành công nghiệp cũng đang có những thay đổi nhanh
chóng.
2. Khu vực II – ngành công nghiệp và xây dựng
2.1. Các ngành công nghiệp
Cơ cấu giá trị sản xuất ngành công nghiệp giai đoạn 2006 - 2010 (%):
9
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
a. Công nghiệp khai thác (CNKT) :
Năm 2007 : Trong 3 ngành CN cấp I, ước tính CN khai thác mỏ chiếm 6,8%, giảm
1,1% so với năm trước, chủ yếu do khai thác dầu thô giảm. Năm 2008 : Trong các
ngành công nghiệp giá trị sản xuất của toàn ngành CNKT đạt 35,6 nghìn tỷ đồng, giảm
3,5% do lượng dầu thô khai thác giảm, chiếm tỷ trọng 5,4%. 9 tháng năm 2010 : CNKT
là ngành chịu ảnh hưởng lớn của việc giảm sản lượng dầu thô khai thác. Giá trị sản xuất
của ngành này chín tháng năm 2010 ước tính đạt 26,8 nghìn tỷ đồng, giảm 3,8% so với
cùng kỳ năm 2009 (Chín tháng 2009 tăng 9,8%) và chiếm 4,7% tổng giá trị sản xuất
toàn ngành công nghiệp. Dầu thô là sản phẩm có giá trị cao nhưng chín tháng năm nay
chỉ khai thác 11,1 triệu tấn, giảm 13,8% so với cùng kỳ năm trước; than sạch đạt 32,4
triệu tấn, tăng thấp ở mức 1,4%. Ngược lại, khí đốt thiên nhiên hiện đang có tốc độ khai
thác nhanh, đạt 7050 triệu m
3
, tăng 19,1%.
b. Công nghiệp chế biến (CNCB) :
Trong giai đoạn 2006 – 2010, công nghiệp chế biến có tỷ trọng ngày càng lớn và có xu
hướng tăng hơn các ngành khác.
Năm 2006 : CNCB có tỷ trọng ngày càng lớn và có xu hướng tăng hơn các ngành

d. Đánh giá :
- Xem xét về mặt số lượng, sự thay đổi cơ cấu ngành công nghiệp được coi là phù hợp
với xu hướng khách quan. Trong đó :
• Nhóm ngành CNKT được phát triển tập trung vào những tài nguyên có trữ lượng lớn
và giá trị kinh tế cao (dầu khí, than đá…) để đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
• Nhóm ngành công nghiệp nặng được phát triển theo hướng tập trung hơn vào các
ngành sản xuất sản phẩm trong nước có khả năng và có nhu cầu lớn (điện, cơ khí chế
tạo và lắp ráp, đóng tàu, vật liệu xây dựng, hóa chất …).
• Nhóm ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và chế biến nông, lâm, thủy sản
được chú trọng phát triển vừa đáp ứng nhu cầu trong nước thay thế nhập khẩu và phục
vụ xuất khẩu, vừa tạo thêm nhiều việc làm và thu nhập cho người lao động, tăng mức
đóng góp vào ngân sách nhà nước.
• Một số ngành công nghệ cao (điện tử dân dụng và công nghiệp, máy tính, cơ khí
chính xác, công nghệ thông tin), tuy mới được hình thành, nhưng có tốc độ phát triển
nhanh và ngày càng trở thành bộ phận chiếm vị trí quan trọng trong cơ cấu ngành công
nghiệp.
11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status