TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGUYỄN THỊ MỸ LINH
KHẢO SÁT HIỆU QUẢ PHÒNG TRỊ CỦA CALCIUM
CHLORIDE VÀ HAI LOẠI DỊCH TRÍCH THỰC VẬT ĐỐI
VỚI NẤM ASPERGILLUS NIGER VÀ COLLETOTRICHUM SP
GÂY HẠI TRÊN TRÁI ỚT SAU THU HOẠCH
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT
Cần Thơ, 2013
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT
Tên đề tài:
KHẢO SÁT HIỆU QUẢ PHÒNG TRỊ CỦA CALCIUM
CHLORIDE VÀ HAI LOẠI DỊCH TRÍCH THỰC VẬT ĐỐI
VỚI NẤM ASPERGILLUS NIGER VÀ COLLETOTRICHUM SP
GÂY HẠI TRÊN TRÁI ỚT SAU THU HOẠCH
Giáo viên hướng dẫn:
ThS. Lê Thanh Toàn
Ths. Lê Thanh Toàn
ii
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp Kỹ sư
Bảo vệ Thực vật với đề tài:
KHẢO SÁT HIỆU QUẢ PHÒNG TRỊ CỦA CALCIUM
CHLORIDE VÀ HAI LOẠI DỊCH TRÍCH THỰC VẬT ĐỐI
VỚI NẤM ASPERGILLUS NIGER VÀ COLLETOTRICHUM SP
GÂY HẠI TRÊN TRÁI ỚT SAU THU HOẠCH
Do sinh viên Nguyễn Thị Mỹ Linh thực hiện và bảo vệ trước Hội Đồng,
ngày 30 tháng 12 năm 2013
Luận văn đã được hội đồng đánh giá ở mức:………………..điểm.
Ý KIẾN HỘI ĐỒNG ................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
DUYỆT KHOA NN & SHƯD
CHỦ NHIỆM KHOA
Cần Thơ, ngày 30 tháng 12 năm 2013
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
v
LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành luận văn này trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới
PGS. TS. Trần Thị Thu Thủy và ThS. Lê Thanh Toàn đã tận tình dìu dắt tôi trong
suốt quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo bộ môn Bảo vệ Thực vật, Khoa
Nông nghiệp & Sinh học Ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ, đã quan tâm giúp đỡ
và tạo điều kiện cho tôi thực hiện tốt đề tài.
Cảm ơn các anh, chị lớp Bảo vệ Thực vật khóa 34, Khóa 35, cùng tất cả các
bạn cùng lớp đã không ngừng động viên khuyến khích và giúp đỡ tôi vượt qua
những khó khăn trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Cuối cùng tôi xin gửi lời biết ơn lớn nhất đến với gia đình với tất cả tình yêu
và sự khuyến khích ủng hộ đã dành cho tôi trong suốt chặn đường cam go trong
suốt bốn năm học tập, luôn là chỗ dựa tinh thần vững vàng nhất cho tôi khi gặp
những khó khăn.
Chân thành cảm ơn
Cần thơ, ngày…tháng…năm 2013.
vi
NGUYỄN THỊ MỸ LINH, 2013. “KHẢO SÁT HIỆU QUẢ PHÒNG TRỊ CỦA
CALCIUM CHLORIDE VÀ HAI LOẠI DỊCH TRÍCH THỰC VẬT ĐỐI VỚI
NẤM ASPERGILLUS NIGER VÀ COLLETOTRICHUM SP GÂY HẠI TRÊN TRÁI
ỚT SAU THU HOẠCH”. Luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Bảo vệ Thực vật, Khoa
Nông nghiệp & Sinh học Ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ. Người hướng dẫn
khoa học: ThS. Lê Thanh Toàn.
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm đoan
Lời cảm ơn
Tóm lược
Mục lục
Danh sách chữ viết tắt và thuật ngữ tiếng Anh
Danh sách bảng
danh sách hình
Trang
i
v
vi
vii
viii
x
xi
xiii
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1
1.1 Tác hại của bệnh sau thu hoạch
2
1.2 Sơ lược đặc điểm bệnh hại do nấm Colletotrichum sp và Aspergillus
3
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ THẢO LUẬN
3.1 Khảo sát ảnh hưởng của nồng độ và thời gian sử lý của các loại dich trích 19
thực vật lá Neem, cỏ Cứt Heo và CaCl2 lên sự phát triển khuẩn ty của nấm
Aspergillus niger và Colletotrichum sp
3.1.1 Đối với nấm Aspergillus niger
19
3.1.2 Đối với nấm Colletotrichum sp
23
viii
Đánh giá hiệu quả của việc xử lý dịch trích lá Neem, cỏ Cứt heo và CaCl2 27
sau khi lây bệnh nhân tạo trên trái (đối với mầm bệnh đã xuất hiện).
3.2.1 Đối với nấm Aspergillus niger
27
3.2.2 Đối với nấm Colletotrichum sp
29
3.3 Đánh giá hiệu quả của việc xử lý dịch trích lá Neem, cỏ Cứt Heo và CaCl2 32
trước khi lây bệnh nhân tạo trên trái.
3.3.1 Đối với nấm Aspergillus niger
32
3.3.2 Đối với nấm Colletotrichum sp
33
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
36
TÀI LIỆU THAM KHẢO
37
3.2
3.1
3.2
3.3
3.4
3.5
3.6
3.7
3.8
3.9
3.10
3.11
Tên bảng
Nồng độ CaCl2 và dịch trích thực vật được sử dụng trong thí
nghiệm
Đường kính (cm) khuẩn ty nấm Aspergillus niger dưới sự ảnh
hưởng của nồng độ và các thời gian xử lý của các loại dịch trích
thựcvật và CaCl2
Hiệu quả ức chế (%) khuẩn ty nấm Aspergillus niger dưới sự
ảnh hưởng của nồng độ và các thời gian xử lý của các loại dịch
Trang
14
21
23
25
27
29
29
31
31
32
33
34
3.12
Hiệu quả ức chế (%) chiều dài vết bệnh trên trái ớt sừng do nấm
8
1.4
Cây Neem (Azadirachta indica A.Juss)
9
2.1
Sơ đồ bố trí thử nghiệm hiệu quả của dịch trích thực vật đối
với nấm gây bệnh sau thu hoạch
16
3.1
Đường kính khuẩn ty nấm Aspergillus niger tại 4NSĐKT
21
3.2
Đường kính khuẩn ty nấm Colletotrichum sp tại 7NSĐKT
25
3.3
Ớt (Capsicum spp.) là loại gia vị và rau ăn trái được trồng rất phổ biến trên
khắp thế giới chủ yếu là ở các nước Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Mêhicô (Valenzuela,
2011). Ước tính tổng diện trích trồng ớt trên thế giới vào khoảng 1,7 triệu hecta
(FAO, 2008). Ở nước ta, ớt đang được trồng rất rộng rãi trên các tỉnh trong cả nước
như Sóc Trăng, Vĩnh Long, Tiền Giang, An Giang, Quảng Ngãi, Hà Nội… Ớt cũng
đang được xem là loại cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao trong cơ cấu chuyển
đổi cây trồng và luân canh thời vụ. Tuy nhiên việc thất thu năng suất của loại cây
trồng này là rất lớn từ quá trình sản xuất đến quá trình bảo quản sau thu hoạch.
Theo Nguyễn Mạnh Khải (2005), có từ 15-30% sản lượng rau quả bị hư hỏng sau
thu hoạch và nấm bệnh là nguyên nhân chính gây ra sự hư hỏng này (Nguyễn Minh
Thủy, 2003). Trong số các loại nấm bệnh gây hại phổ biến trên trái ớt sau thu hoạch
thì nấm Colletotrichum sp và Aspergillus niger là hai đối tượng gây hại quan trọng
(Phạm Phước Long, 2012). Colletotrichum sp là loài phân bố rộng rãi trên khắp thế
giới và có phổ ký chủ rộng (Roberts và ctv., 2009) chúng gây thất thu năng suất trên
đồng, trong quá trình vận chuyển và ngay cả trong kho vựa (Hadden và Black,
1989). Nấm Aspergillus niger cũng là đối tượng quan trọng xuất hiện rất nhiều
trong quá trình bảo quản (Trần Minh Tâm, 2002).
Ở nước ta, việc lạm dụng thuốc hóa học trừ nấm bệnh trong quá trình bảo
quản sau thu hoạch rất có thể dẫn đến việc lưu tồn độc chất gây ô nhiễm môi
trường, dễ làm bộc phát tính kháng thuốc đối với mầm bệnh và hơn nữa sự lưu tồn
dư lượng thuốc hóa học có thể gây nguy hại đến sức khỏe con người. Để hạn chế
những nguy cơ trên và mở rộng thị trường tiêu thụ thì khâu bảo quản sau thu hoạch
bằng công nghệ sạch là rất cần thiết, đây là vấn đề còn khá mới mẽ cần được nghiên
cứu và áp dụng rộng rãi (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2003). Để hướng tới
một nền nông nghiệp sạch và bền vững, việc áp dụng các biện pháp sinh học vào
nông nghiệp và việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc thảo mộc đang
được nghiên cứu và áp dụng. Do đó, đề tài “Khảo sát hiệu quả phòng trị của
calcium Chloride và hai loại dịch trích thực vật đối với nấm Aspergillus niger và
Colletotrichum sp gây hại trên trái ớt sau thu hoạch” được thực hiện với mục tiêu:
+ Khảo sát khả năng ức chế đối với hai loại nấm Colletotrichum sp và Aspergillus
sinh vật càng dễ xâm nhập và phát triển. Trên bề mặt vỏ trái, các nấm bệnh ít nhiều
cũng hiện diện và khi gặp điều kiện thuận lợi như trái chín, nhiệt độ, ẩm độ môi
trường cao hay trái bị trầy xước thì nấm sẽ xâm nhập vào bên trong để phát triển và
gây thối (Wilson và Wisniewski, 1989).
Trung bình thất thoát sau thu hoạch trong chuỗi thị trường xuất khẩu ở Thái
Lan được đánh giá là 17%. Tuy nhiên có thể lên đến 30-35% tùy thuộc vào điều
kiện thời tiết và khoảng cách (Thompson, 1996)
Bệnh cây không chỉ gây thiệt hại rất lớn đến cây trồng về phẩm chất và năng
suất mà còn làm giảm giá trị thẩm mỹ của hàng hóa gây ảnh hưởng đến hiệu quả
kinh tế của nông sản (Vũ Triệu Mân, 2007). Đối với cây ớt, nhiều loại mầm bệnh có
thể gây hại ở ngoài đồng như chết gục cây con (damping-off), chết cành, cháy lá và
chúng cũng có khả năng xâm nhiễm vào trái sau thu hoạch gây triệu chứng thối trái
làm thiệt hại đáng kể về năng suất cũng như phẩm chất trái. Sản lượng ớt bị thất
thoát sau thu hoạch có thể đến 50% (Ramachandran va ctv., 2007).
2
1.2
SƠ LƯỢC ĐẶC ĐIỂM BỆNH HẠI DO Colletotrichum sp VÀ
Aspergillus niger TRÊN ỚT SAU THU HOẠCH
1.2.2 Bệnh mốc đen do nấm Aspergillus niger
* Triệu chứng
Ban đầu là những chấm nhỏ 1-2 mm, vết bệnh nhũn nước biến màu hoặc
màu nâu nhạt. Viền vết bệnh có màu nâu sậm, bào tử nấm xuất hiện dầy đặc. Sau đó
vết bệnh lan ra nhanh chóng gây thối cả một khu vực lớn. Nấm này ký sinh qua vết
thương hoặc bội nhiễm lúc sau hay lấn chiếm các nấm khác đã xâm nhiễm trước đó,
bảo tử nảy mầm ở ẩm độ cao (Lê Thu Thủy, 2006). Bệnh phát triển rất nhanh và
lan ra theo đường tròn, phát triển nhanh trên trái sau thu hoạch (Weber, 1973)
(Hình1.1).
nhiễm qua các cửa ngõ tự nhiên và vết thương trên bề mặt trái. Trong điều kiện khô,
nấm sẽ không phát triển bên ngoài trái, nhưng bên trong vách tế bào lại có nấm xuất
hiện.
* Đặc điểm sinh thái
Aspergillus niger sinh trưởng ở nhiệt độ tối thiểu là 6-8oC và tối đa là 4557oC, tối ưu ở 28-35oC, ẩm độ từ 80% trở lên nấm bất đầu gây hại, ẩm độ tối thiểu
là 23% (Lương Đức Phẩm, 2002).
Nấm có thể phát triển và gây hại ở áp suất thẩm thấu cao và ẩm thấp nên tính
nguy hiểm của nó đối với bảo quản sau thu hoạch rất cao. Qua kết quả nghiên cứu
của nhiều nước loại nấm này ít xuất hiện ngoài đồng ruộng chỉ khi thu hoạch về để
nơi ẩm ướt thì thấy xuất hiện một lượng lớn nấm Aspergillus (Trần Minh Tâm
2002).
Cơ chế gây hại
Nấm ký sinh qua vết thương hay lấn chiếm thứ cấp (Webber, 1973). Trong
quá trình phát triển và lấy dinh dưỡng nấm không những tiết ra các loại enzyme
phân hủy vách tế bào mà còn tiết ra những độc tố gây ảnh hưởng xấu đối với nông
sản (Trần Minh Tâm, 2002).
Triệu chứng
Khuẩn lạc
Hình 1.1 Bệnh mốc đen do nấm Aspergillus niger
4
Hình thái
1.2.1 Bệnh thán thư do Colletotrichum sp gây ra
* Triệu chứng
đường kính trong 10 ngày. Sợi nấm kí sinh có màu từ trắng đến xám. Đĩa đài màu
nâu đen đến đen, có gai cứng cành bào đài đơn lẻ, trong suốt, có vách ngăn, đôi lúc
phân nhánh với đỉnh có dạng hình nón. Bào tử đơn bào, vách nhăn trong suốt hình
liềm và 2 đỉnh bào tử có dạng hình nón với kích thước từ 16-22 x 4 µm. Đĩa áp nuôi
5
cấy trên lam có màu nâu đậm, hình cầu hoặc hình bầu dục, vách nhẵn với kích
thước khoảng 8-30 x 5-10 µm. Sợi nấm không màu, phân nhánh có vách ngăn, thỉnh
thoảng phát triển thành cấu trúc lưu tồn phức tạp.
Vết bệnh trên mô trái hình elip đến hình tròn với kích thước 750-1500 µm.
Đĩa đài trên bề mặt mô trái có đường kính 85-200 µm, trung bình 122,7 ± 44,4 µm,
màu nâu đến đen, xếp thành vòng đồng tâm trên vết bệnh, nó còn phá vỡ vách tế
bào cây ký chủ ngoài ra còn xuất hiện nhiều gai cứng với vô số bào tử. Gai cứng có
kích thước 90-140 x 4-7 µm, trung bình 109 ± 14,39 x 5,2 ±1 µm, màu nâu, có từ 15 vách ngăn, vách nhẵn, cứng, phía cuối của gai cứng hơi phình ra và hẹp dần lên
phía trên, đỉnh của gai thì sắc nhọn, có dạng hình nón. Bào tử có kích thước 16-25 x
2-4 µm, trung bình 21,5 ± 2,4 x 3,74 ±0,45 µm, đơn bào, vách nhẵn trong suốt, có
dạng hình liềm, nhọn ở hai đầu.
Loài C. gloeosporioides: trên môi trường PDA, khuẩn lạc nấm có màu xám
nhạt đến đen, khối bào tử có màu cam. Bào tử trắng không màu hình trụ (GamaLospez và ctv., 2007; Than và ctv., 2008) kích thước 11,1 - 188,5 x 2,7 - 5,0
(Manandhar và ctv., 1995). Đĩa áp có kích thước khoảng 9,0 x 0,3 µm. Tốc độ
phát triển của khuẩn ty là 11,2 µm/ngày (Than và ctv., 2008). Khối bào tử có màu
hồng cam, đĩa đài có hoặc không có gai cứng, đường kính đĩa đài vào khoảng 500
µm (Sutton, 1980).
Loài C. acutatum: Khuẩn lạc có màu cam, sợi nấm mỏng manh. Bào tử hình
ê lip, kích thước 14,0 x 3,5 µm. Đĩa áp có kích thước khoảng 6,5 x 6,0 µm. Tốc độ
phát triển khuẩn ty trên môi trường nuôi cấy (PDA) là 5,8 mm/ngày (Than và ctv.,
2008).
* Đặc tính sinh học
Văn Biên và ctv., 2003; Sharma, 2006). Trong một số trường hợp (ví dụ đối với C.
cocodes), khi gặp điều kiện bất lợi, nấm hình thành cấu trúc dạng hạch để lưu tồn.
* Cơ chế gây hại
Thông thường bào tử Colletotrichum spp. nảy mầm trong nước sau 4 giờ và
sau đó tiến hành xâm nhiễm (Vũ Triệu Mẫn và Lê Lương Tề, 1998). Phạm Văn
Kim (1999) cho biết sau khi nảy mầm sợi nấm tiến hành xâm nhiễm bằng cách tấn
công len lỏi giữa hai vách tế bào ký chủ, trong quá trình đó chúng tiết ra enzyme và
độc tố phân hủy vách tế bào và màng nguyên sinh chất của ký chủ để hấp thu dưỡng
chất cần thiết. Theo Agrios (2005), các giai đoạn của quá trình xâm nhiễm và phát
triển của nấm Colletotrichum sp có thể chia thành các giai đoạn sau: (1) bào tử phát
triển trên bề mặt vết bệnh; (2) lây lan và bám lên bề mặt ký chủ; (3) bào tử nảy
mầm; (4) hình thành đĩa áp; (5) xâm nhiễm qua lớp biểu bì của tế bào vỏ trái; (6)
phát triển và lây lan sang các vùng xung quanh; (7) tạo nhiều ổ nấm, bào tử và đĩa
đài.
Triệu chứng
Khuẩn lạc
Hình 1.2 Bệnh thán thư do nấm Colletotrichum spp.
7
Bào tử
1.3 MỘT SỐ ĐẶC TÍNH CỦA DỊCH TRÍCH THỰC VẬT VÀ CACL2
TRONG THÍ NGHIỆM
1.3.1 Cỏ cứt heo
Tên khoa học: Ageratum conyzoides L.
Họ: Cúc (Asteraceae).
* Đặc điểm hình thái
* Thành phần hóa học
Cỏ cứt heo có chứa 0,7-2% tinh dầu, các thành phần khác như: carotenoid,
phytosterol, tanmin, đường khử, saponin và hợp chất uronic. Hàm lượng saponin
thô trong thân lá (tính theo dược liệu khô kiệt) là 4,7%. Tinh dầu trong cỏ cứt heo
hơi sánh đặc, màu vàng nhạt đến vàng nghệ, mùi thơm dễ chịu. Chỉ số acid 4-5, chỉ
số ester 252-254, αD từ -308 đến -503. Thành phần bao gồm ageratochromen, 6demethoxyagertochromen và β-caryophelen chiếm 77% trong các thành phần trong
tinh dầu (Đỗ Huy Bích và Bùi Xuân Cương, 2004).
* Công dụng
Cây có vị đắng mát. Trong y học cổ truyền, có được sử dụng làm thuốc
chống viêm, chống phù nề, chống dị ứng. Ngoài ra còn có tác dụng chữa mụn nhọt,
ngứa lỡ, các chấn thương bị chảy máu (Võ Văn Chi, 2003). Người ta còn dùng cỏ
cứt heo chữa rong huyết sau khi sinh, hoặc kết hợp với bồ kết để gội đầu cho thơm,
trị gầu và trơn tóc (Đỗ Huy Bích và Bùi Xuân Cương, 2004). Cỏ cứt heo còn có tác
dụng trị lậu, phong đòn gánh, trị nọc rắn và tiêu hóa tổt.
1.3.2 Cây neem
Tên khoa học: Azadirachta indica A.Juss
Họ: Xoan (Meliaceae) sầu đâu
* Đặc điểm hình thái
Cây neem là dạng cây thân gỗ. Cây
thường cao khoảng 15-20 m, ít khi cao đến 3540 m, tán lá tròn đường kính tán khoảng 10m. ở
cây già, bỏ cây xuất hieenh nhiều vết nứt sâu,
bên ngoài màu xám bên trong màu đỏ nhạt, giữa
vết nứt có nhựa dính không màu (Orwa và ctv.,
Hình 1.4 cây neem
2009). Cây thích hợp phát triển ở vùng nhiệt đới. Lá
(Azadirachta indica A.Juss)
mọc cách, tập trung nhiều ở gần cuối cành, lá kép
long chim, rìa lá hình răng cưa, dài từ 20 - 40 cm, cuống lá dài từ 2–7 cm, mỗi lá có
tăng trưởng chậm và sản lượng trái thấp. Độ cao thích hợp nhất cho cây là 1.500 m
so với mực nước biển.
Cây Neem sống tốt trên đất sét, đất có vai trò quan trọng. Cây trưởng thành
cần nhiều ánh sáng cho sự hình thành hoa và trái độ mặn cao hoặc đất có độ kiềm
cao (pH = 8,5). Cây neem thích nghi với pH từ 6,2 đến 7,0 ngưỡng chịu đựng là 5,9
và 10. Tuy nhiên, cây Neem không phát triển được ở vùng đất ngập úng. Cây Neem
vốn nổi tiếng là loài cây chịu được khí hậu khắc nghiệt như nắng nóng, đất thiếu
nước, khô cằn, nghèo dinh dưỡng, nơi mà các loại cây khác hầu như không thể sống
nổi. Khoảng cách phù hợp giữa các cây là 3 m, cây cho quả sau 3-5 năm tuổi và cho
năng suất cao nhất ở 10 năm tuổi. Sau ba tháng trổ hoa thì quả sẽ chín. Thông
thường một cây trưởng thành cho 37-55 kg quả mỗi năm và khoảng 25 kg hạt/năm.
Ở những nơi có điều kiện thuận lợi như Kenya thì năng suất hạt có thể cao hơn, đặc
biệt thu được 100 kg hạt/cây. Cây tăng trưởng nhanh nên có thể lấy gỗ sau 5 - 7
năm. Năng suất cao nhất ở miền nam Nigeria cho khoảng 169 m3 gỗ sau 8 năm
trồng.
10
* Thành phần hóa học
Theo Singh và Prithinra (1997), Paul và Sharma (2002), lá cây Neem có
chứa tetranortritepenoid (azadirachtin, nimbin, salanin, meliantriol, nimbidin,..),
flavinoid và tannin. Azadirachtin là hợp chất chính trong cây Neem, có công thức
phân tử là C35H44O16, nhiệt độ nóng chảy 154-158oC. Hàm lượng azadirachtin trong
mỗi cây có sự biến động (Ermel và cộng sự, 1987; Singh, 1987).
* Thành tựu nghiên cứu
Cây Neem chứa nhiều chất kiểm soát dịch hại có khả năng chống lại những
sâu bệnh hại quan trọng. Những vật liệu này có thể dễ dàng xử lý bởi các nghành
công nghiệp địa phương (Ahmed và Grainge, 1986).
Dịch chiếc từ lá Neem có thể kiểm soát đáng kể bệnh đốm lá do Alternaria,