đặc điểm lý, hóa nước trên các kênh rạch chính ở quận ninh kiều, thành phố cần thơ - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
BỘ MÔN KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
----------

LÊ NGỌC HẠNH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

ĐẶC ĐIỂM LÝ, HÓA NƯỚC TRÊN CÁC KÊNH
RẠCH CHÍNH Ở QUẬN NINH KIỀU,
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Cán bộ hướng dẫn: DƯƠNG TRÍ DŨNG

Cần Thơ, 2013


PHÊ DUYỆT CỦA HỘI ĐỒNG
Luận văn kèm theo đây với tựa đề là “Đặc điểm lý, hóa nước trên các
kênh rạch chính ở Quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ” do Lê Ngọc Hạnh
thực hiện và báo cáo đã được hội đồng chấm luận văn thông qua.

Cán bộ hướng dẫn

Ths. Dương Trí Dũng

Cán bộ phản biện

Cán bộ phản biện


Đề tài “Đặc điểm lý, hóa nước trên các kênh rạch chính ở Quận Ninh
Kiều, Thành phố Cần Thơ” được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng
6/2013 đến tháng 11/2013 tại 3 rạch Cái Khế, Đầu Sấu và Cái Sơn thuộc Quận
Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ nhằm đánh giá và so sánh chất lượng môi trường
nước tại các khu vực nghiên cứu (dựa vào QCVN 08:2008/BTNMT).
Mẫu nước được thu 6 điểm trên rạch Cái Khế (từ P1 đến P6), 4 điểm trên
rạch Đầu Sấu (từ P7 đến P10) và 5 điểm trên rạch Cái Sơn (từ P11 đến P15) qua
2 lần thu mẫu vào đầu và cuối mùa mưa để phân tích một số chỉ tiêu lý, hóa như:
pH, DO, COD, N-NO2-, N-NO3-, P-PO43-, Fe tổng. Kết quả nghiên cứu cho thấy:
Các yếu tố lý hóa môi trường nước (DO, COD, N-NO2-, P-PO43-, Fe tổng)
ở 3 rạch khảo sát đều không đạt QCVN 08: 2008/BTNMT (cột A2), ngoại trừ các
chỉ tiêu pH, N-NO3- còn nằm trong quy chuẩn cho phép.
Trên rạch Cái Khế nồng độ DO thấp hơn từ 1,2 – 33,3 lần; COD vượt từ
1,4 – 3,5 lần; N-NO2- vượt từ 3,4 – 35,3 lần; P-PO43- vượt từ 1,0 – 2,4 lần; Fe
tổng vượt từ 1,1 – 2,4 lần. Trên rạch Đầu Sấu nồng độ DO thấp hơn từ 1,1 – 25
lần; COD vượt từ 1,5 – 3,6 lần; N-NO2- vượt từ 3,9 – 42,8 lần; P-PO43- đợt 1
vượt từ 1,1 – 2,8 lần (trừ vị trí P7); Fe tổng vượt từ 1,1 – 4,7 lần. Trên rạch Cái
Sơn nồng độ DO thấp hơn từ 1,0 - 25 lần; COD vượt từ 1,3 – 3,4 lần; N-NO2vượt từ 3,2 – 26,2 lần; P-PO43- đợt 1 vượt 1,3 lần tại vị trí P11, đợt 2 vượt 1,1 lần
tại P15; Fe tổng vượt từ 1,0 – 2,9 lần cột A2 của QCVN 08: 2008/BTNMT trong
2 đợt khảo sát (trừ 2 vị trí P13, P14).
Nhìn chung, giá trị các thông số lý, hóa tại các rạch khảo sát vào đầu mùa
mưa đều cao hơn cuối mùa mưa trừ thông số DO thấp hơn. Chất lượng nước mặt
tại 3 rạch khảo sát bị ô nhiễm hữu cơ, N-NO2-, P-PO43-, Fe tổng. Rạch Cái Khế và
Đầu Sấu có xu hướng ô nhiễm hữu cơ nặng hơn rạch Cái Sơn.

iii


MỤC LỤC
-----oOo----Nội dung

2.4.2 Rạch Đầu Sấu ................................................................................... 14
2.4.3 Rạch Cái Sơn .................................................................................... 15
2.5 Các thông số lý-hóa đánh giá chất lượng môi trường nước ...................... 15
2.5.1 pH .................................................................................................... 15
2.5.2 Hàm lượng ôxy hòa tan trong nước – DO ( Dissolved Oxygen) ........ 16
2.5.3 Nhu cầu ôxy hóa học – COD (Chemmical Oxygen Demand)............ 17
2.5.4 Đạm nitrit N-NO2- ............................................................................ 18
2.5.5 Đạm nitrate N-NO3- .......................................................................... 19
2.5.6 Phosphate P-PO43- ............................................................................ 19
2.5.7 Tổng Sắt ........................................................................................... 20
2.6 Giá trị giới hạn của các thông số lý, hóa nước trong QCVN 08:
2008/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt) ......... 21
CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................................ 23
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu ........................................................... 23
iv


3.1.1 Thời gian nghiên cứu ........................................................................ 23
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu ......................................................................... 23
3.2 Phương tiện nghiên cứu........................................................................... 28
3.3 Phương pháp nghiên cứu ......................................................................... 28
3.3.1 Phương pháp thu và bảo quản mẫu ................................................... 28
3.3.2 Phương pháp phân tích ..................................................................... 28
3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu ................................................................ 28
CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ THẢO LUẬN ....................................................... 29
4.1 Đặc điểm lý, hóa môi trường nước trên rạch Cái Khế .............................. 29
4.1.1 pH .................................................................................................... 29
4.1.2 Hàm lượng ôxy hòa tan trong nước – DO ......................................... 30
4.1.3 Nhu cầu ôxy hóa học – COD ............................................................ 31
4.1.4 Đạm nitrit N-NO2- ............................................................................ 32



DANH SÁCH HÌNH
Hình 2: Bản đồ hành chính Thành phố Cần Thơ .................................................. 7
Hình 3.1: Sơ đồ vị trí thu mẫu ở rạch Cái Khế quận Ninh Kiều, TP. Cần Thơ... 23
Hình 3.2: Sơ đồ vị trí thu mẫu ở rạch Đầu Sấu và rạch Cái Sơn quận Ninh Kiều,
TP. Cần Thơ. ..................................................................................................... 24
Hình 4.1: Sự biến động của pH qua 2 đợt thu mẫu trên rạch Cái Khế ................ 29
Hình 4.2: Sự biến động của DO qua 2 đợt thu mẫu trên rạch Cái Khế................ 30
Hình 4.3: Sự biến động của COD qua 2 đợt thu mẫu trên rạch Cái Khế ............. 31
Hình 4.4: Sự biến động của N-NO2- qua 2 đợt thu mẫu trên rạch Cái Khế ......... 32
Hình 4.5: Sự biến động của N-NO3- qua 2 đợt thu mẫu trên rạch Cái Khế ......... 33
Hình 4.6: Sự biến động của P-PO43- qua 2 đợt thu mẫu trên rạch Cái Khế ......... 34
Hình 4.7: Sự biến động của Fe tổng qua 2 đợt thu mẫu trên rạch Cái Khế ......... 35
Hình 4.8: Sự biến động của pH qua 2 đợt thu mẫu trên rạch Đầu Sấu ................ 36
Hình 4.9: Sự biến động của DO qua 2 đợt thu mẫu trên rạch Đầu Sấu ............... 37
Hình 4.10: Sự biến động của COD qua 2 đợt thu mẫu trên rạch Đầu Sấu ........... 38
Hình 4.11: Sự biến động của N-NO2- qua 2 đợt thu mẫu trên rạch Đầu Sấu ....... 39
Hình 4.12: Sự biến động của N-NO3- qua 2 đợt thu mẫu trên rạch Đầu Sấu ....... 40
Hình 4.13: Sự biến động của P-PO43- qua 2 đợt thu mẫu trên rạch Đầu Sấu ....... 41
Hình 4.14: Sự biến động của Fe tổng qua 2 đợt thu mẫu trên rạch Đầu Sấu ....... 41
Hình 4.15: Sự biến động của pH qua 2 đợt thu mẫu trên rạch Cái Sơn ............... 42
Hình 4.16: Sự biến động của DO qua 2 đợt thu mẫu trên rạch Cái Sơn .............. 43
Hình 4.17: Sự biến động của COD qua 2 đợt thu mẫu trên rạch Cái Sơn ........... 44
Hình 4.18: Sự biến động của N-NO2- qua 2 đợt thu mẫu trên rạch Cái Sơn ........ 45
Hình 4.19: Sự biến động của N-NO3- qua 2 đợt thu mẫu trên rạch Cái Sơn ........ 46
Hình 4.20: Sự biến động của P-PO43- qua 2 đợt thu mẫu trên rạch Cái Sơn ........ 46
Hình 4.21: Sự biến động của Fe tổng qua 2 đợt thu mẫu trên rạch Cái Sơn ........ 47

vi

Bộ Tài nguyên Môi trường
Ủy ban nhân dân
Biochemical oxygen demand (Nhu cầu oxy sinh hóa)
Tài nguyên Môi trường
Trách nhiệm hữu hạn
Quy chuẩn Việt Nam
Tiêu chuẩn Việt Nam
Polyethylene

viii


CHƯƠNG I
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Thành phố Cần Thơ (TPCT) là một trung tâm kinh tế lớn của vùng Đồng
bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), có tổng dân số năm 2011 là 1.209.192 người với
tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 10,28‰, chiếm 6.93% dân số của vùng ĐBSCL.
Trong đó Quận Ninh Kiều có mật độ dân số cao nhất, khoảng 8.602 người/km2,
cao gần gấp 10 lần mật độ dân số trung bình trên toàn thành phố (Cục Thống kê
Thành phố Cần Thơ, 2012). Dân số tăng nhanh và sự phát triển kinh tế làm nảy
sinh nhiều vấn đề về môi trường đặc biệt là môi trường nước.
Trong những năm gần đây, dân cư tập trung sống đông đúc dọc hai bên
các kênh rạch này, tình trạng xây dựng nhà sàn lấn chiếm gây tắc nghẽn dòng
chảy ngày càng tăng, họ thường xuyên thải trực tiếp các chất thải từ sinh hoạt và
từ chợ xuống kênh rạch, điều đó cho thấy ý thức về môi trường của người dân
còn hạn chế đã và đang làm cho vấn đề môi trường ngày càng nghiêm trọng hơn.
Trong giai đoạn từ 2005 – 2010, sản xuất nông nghiệp ở TPCT phát triển
theo mô hình đa canh, diện tích đất nông nghiệp giảm, song giá trị sản xuất toàn
ngành tăng bình quân 5,3%/năm, mức quay vòng 2,3 – 2,6 lần/năm (Cục Thống

QCVN 08:2008/BTNMT).
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu trên, các nội dung đã được thực
hiện:
- Thu mẫu và phân tích một số chỉ tiêu lý, hóa nước như: pH, DO, COD,
N-NO2-, N-NO3-, P-PO43-, Tổng Fe ở đầu và cuối mùa mưa trên 3 rạch Cái Khế,
Đầu Sấu và Cái Sơn nơi tiếp nhận trực tiếp nước thải sinh hoạt và hoạt động
nông nghiệp khu vực Quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ.
- Đánh giá chất lượng môi trường nước tại các thủy vực nghiên cứu dựa
vào QCVN 08:2008/BTNMT.

2


CHƯƠNG II
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Tổng quan về tài nguyên nước
2.1.1 Tầm quan trọng của nước đối với con người
Theo Nguyễn Khắc Cường (2000), nước là một tài nguyên vô cùng quý
giá. Nhờ nước mà trên trái đất tồn tại sự sống. Nước là yếu tố chủ yếu chi phối
mọi hoạt động của xã hội con người. Nước sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực
nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, nuôi trồng thủy sản và sinh hoạt.
Bảng 2.1: Phân bố trữ lượng nước trong môi trường
Trữ lượng nước, 106 km3

Thành phần môi trường
Nước biển

1370

Băng, tuyết ở hai cực

đổi tùy theo mức độ biến đổi của lượng mưa, nếu lượng mưa giảm 10% thì lưu
lượng nước năm có thể giảm 17 – 53%, nhiệt độ không khí tăng 2,5ºC và giảm
26 – 90% với nhiệt độ không khí tăng 4,5ºC. Mức độ biến đổi mạnh nhất xảy ra ở
Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ vì tại đây là hai khu vực thiếu nước và nhiệt độ
cao nhất so với các vùng trong nước (Trần Thanh Xuân, 2004).

3


Nước ta có khoảng 830 tỷ m³ nước mặt trong đó chỉ có 310 tỷ m³ được tạo
ra do mưa rơi trong lãnh thổ Việt Nam chiếm 37% còn 63% do lượng mưa ngoài
lãnh thổ chảy vào. Tổng trữ lượng tiềm tàng khả năng khai thác nước dưới đất
chưa kể phần hải đảo ước tính khoảng 60 tỷ m³/năm. Trữ lượng nước ở giai đoạn
tìm kiếm thăm dò sơ bộ mới đạt khoảng 8 tỷ m³/năm (khoảng 13% tổng trữ
lượng). Tuy nhiên nếu tính cả nước mặt và nước dưới đất trên phạm vi lãnh thổ
thì bình quân đầu người chỉ đạt 4.400 m³/người, năm (Thế giới 7.400 m³/người,
năm). Theo chỉ tiêu đánh giá của Hội Tài nguyên nước Quốc tế IWRA thì quốc
gia nào dưới 4.000 m3/người, năm là quốc gia thiếu nước. Như vậy, nước ta là
một trong những nước đang và sẽ thiếu nước trong một tương lai rất gần (Thực tế
nếu kể cả lượng nước từ các lãnh thổ nước ngoài chảy vào thì Việt Nam trung
bình đạt khoảng 10.600 m3/người, năm) (Ngô Đình Tuấn, 2007).
2.1.2 Sơ lược về tài nguyên nước ở Đồng bằng Sông Cửu Long
Nguồn nước và chất lượng các nguồn nước là những yếu tố quan trọng có
tính chất quyết định cho phát triển kinh tế và đời sống. Ở ĐBSCL có 3 nguồn
nước chính là nước mưa, nước mặt và nước ngầm. Nước mưa là nguồn nước có
chất lượng cao cần cho ăn uống và sinh hoạt ở nông thôn, nhất là các vùng thiếu
nước mặt và nước ngầm. Tuy nhiên, vì lượng mưa chỉ tập trung vào 6 tháng mùa
mưa nên việc lưu trữ để sử dụng trong mùa khô là rất cần thiết. Riêng về nước
mặt có trữ lượng rất lớn và phân bố rộng khắp ĐBSCL, 6 tháng mùa mưa trữ
lượng rất dồi dào và chất lượng tốt hơn mùa khô. Bênh cạnh nguồn chính – nước

- Nước thải đô thị là hỗn hợp các loại nước thải có trong đô thị, gặp trong
các hệ thống cống rãnh của thành phố. Nó bao gồm nước thải sinh hoạt của các
khu dân cư, đã qua hay chưa qua các trạm xử lý trước khi xả vào nguồn tiếp nhận
(Lê Văn Khoa, 1995). Đặc điểm của nước thải đô thị là có hàm lượng chất hữu
cơ cao, khi thải ra nguồn tiếp nhận sẽ gây ô nhiễm với các biểu hiện sau:
+ Gia tăng trọng lượng, chất rắn lơ lững, độ đục, màu.
+ Tăng hàm lượng chất hữu cơ, làm giảm lượng oxy hòa tan (DO).
+ Tăng hàm lượng một số loài tảo dẫn đến hiện tượng phú dưỡng hóa.
+ Làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người.
Nước thải từ hộ gia đình, khách sạn, trường học, cơ quan… chứa các chất
thải trong quá trình sinh hoạt, vệ sinh của con người, gọi chung là nước thải sinh
hoạt hay nước thải từ khu dân cư (Lê Trình, 1997). Đặc điểm cơ bản của nước
thải sinh hoạt là có chứa hàm lượng cao các chất hữu cơ không bền vững, dễ bị
phân hủy sinh học (như cacbohydrat, protein, dầu mỡ,…), chất dinh dưỡng
(phosphate, nitrate), chất rắn, vi trùng và mùi.

5


Bảng 2.2: Thành phần nước thải sinh hoạt khu dân cư
Chỉ tiêu

Nồng độ

Tổng chất rắn (TS), mg/L

Cao

Trung bình


500

250

85

40

20

COD, mgO2/L
Tổng Nitơ, mg/L
-

Nitơ hữu cơ, mg/L

35

15

8

-

Nitơ amoni, mg/L

50

25


(Nguồn: Metcalf & Eddy, 2004)
- Nước thải nông nghiệp bao gồm các loại nước tưới tiêu, chất thải động
vật, phân bón và các chất cải tạo đất, các loại hóa chất sử dụng trong nông
nghiệp. Cho nên tổng số các chất thải nông nghiệp có thể đưa vào nguồn nước là
khá lớn, đặc biệt là những vùng nông nghiệp đã phát triển (Nguyễn Khắc Cường,
2002).
- Nguồn nước thải y tế chủ yếu từ các khâu giải phẫu, xét nghiệm, khám
chữa bệnh, giặt giũ, vệ sinh của nhân viên y tế, bệnh nhân và thân nhân. Chính vì
thế mà trong nước thải y tế sẽ chứa các chất: Nitrogen, phospho, clorua, kali, chất
béo, hydrocacbon, vi trùng lao, vi trùng gan, vi trùng tả, lỵ, thương hàn, sốt rét,…
(Trịnh Thị Thanh và ctv., 2004). Thế nhưng tại các nước đang phát triển nói
chung và tại Việt Nam nói riêng, không phải tất cả các bệnh viện, cơ sở y tế điều
có hệ thống xử lý chất thải y tế. Để xây dựng một hệ thống xử lý chất thải y tế thì
số tiền đầu tư phải cao, sẽ rất tốn kém. Chính vì thế, hàm lượng chất thải y tế thải
ra một cách bừa bãi đang ngày càng tăng cao hơn.
Theo Quỹ Nhi Đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEP, 1995), có khoảng 88 %
các loại bệnh tật có liên quan đến nước sử dụng không sạch. Trên thế giới có
khoảng 1,1 tỉ người không được sử dụng nước sạch, 2,6 người không có đủ các
điều kiện vệ sinh thích hợp. Hàng năm có hàng tỉ người mắc bệnh và hàng triệu
người chết do sử dụng nước bị ô nhiễm (WHO, 1993).

6


2.2 Sơ lược về Thành phố Cần Thơ
2.2.1 Vị trí địa lý
TPCT nằm ở khu vực trung tâm ĐBSCL, tọa độ: 10º2′N 105º47′E và
10,033ºN 105,783ºE, giáp với 5 tỉnh: phía Đông giáp Vĩnh Long và Đồng Tháp,
phía Bắc giáp An Giang, phía Tây giáp Kiên Giang và phía Nam giáp với Hậu
Giang. Khoảng cách giữa thành phố Cần Thơ và các đô thị khác trong vùng như

sông, kênh thuộc TPCT chịu sự chi phối của dòng chảy thông qua sông Hậu,
thủy triều biển Đông, mưa nội vùng và hệ thống cơ sở hạ tầng. Trong đó, sự tổ
hợp giao tranh giữa ảnh hưởng của chế độ dòng chảy thượng nguồn sông
MeKong và chế độ triều Biển Đông chi phối mạnh nhất. Hệ thống sông rạch
chính tại Cần Thơ gồm:
Sông Hậu: là nhánh phía Tây của sông MeKong trong lãnh thổ Việt Nam,
vừa là nguồn cung cấp nước ngọt chính cho ĐBSCL và Cần Thơ, vừa là ranh
giới tự nhiên của TPCT với 2 tỉnh Đồng Tháp và Vĩnh Long. Sông Hậu cũng là
thủy lộ Quốc tế cho các tàu đi về Campuchia... Sông Hậu là con sông lớn nhất
của vùng với tổng chiều dài chảy qua Cần Thơ là 55 km. Tổng lượng nước sông
Hậu đổ ra biển khoảng 200 tỷ m3/năm (chiếm 41% tổng lượng nước của sông
MeKong). Tổng lượng phù sa của sông Hậu là 35 triệu m3/năm (chiếm gần 1/2
tổng lượng phù sa sông MeKong).
Hệ thống các kênh rạch nội đồng: Rạch Cần Thơ (dài 16 km đổ ra sông
Hậu tại bến Ninh Kiều), rạch Bình Thủy, rạch Trà Nóc, rạch Ô Môn, rạch Thốt
Nốt, kênh Cái Sắn,... Đây là những kênh rạch lớn dẫn nước từ sông Hậu vào các
vùng nội đồng và nối liền với kênh rạch của các tỉnh lân cận thành phố Cần Thơ,
có nước ngọt quanh năm, vừa có tác dụng tưới nước trong mùa cạn, vừa có tác
dụng tiêu úng trong mùa lũ và có ý nghĩa lớn về giao thông.
Hiện nay, một số kênh rạch bị ô nhiễm ngày càng gia tăng như: rạch Tham
Tướng, rạch Cái Khế thuộc quận Ninh Kiều, rạch San Trắng quận Bình Thuỷ,
rạch Bò Ót quận Thốt Nốt,....
Do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, nên chất lượng và số lượng nước có
khuynh hướng thay đổi trong các năm qua.

8


Hàng năm vào mùa mưa, nước lũ từ thượng nguồn tràn về đến ĐBSCL kết
hợp với thủy triều dâng và lượng mưa tập trung trong thời gian ngắn thường gây

Nam (SIWRP 2007) về "Quy hoạch quản lý tổng hợp tài nguyên nước của lưu
vực sông tại thành phố Cần Thơ" về chất lượng nước, sông Hậu và nước các
kênh vẫn chưa bị ô nhiễm nặng (trừ Coliform và E -Coli). Tuy nhiên, dấu hiệu ô
nhiễm hữu cơ đã xuất hiện ở nhiều nơi (sông Cần Thơ, Ô Môn, cửa cống đầu

9


kênh rạch Tham Tướng, và đặc biệt là những nơi đặt nuôi cá lồng ). Trong tương
lai, với việc mở rộng quy hoạch các khu công nghiệp (theo kế hoạch từ Thốt Nốt
đến Cái Răng) và đô thị hóa cũng như hoạt động sản xuất ngày càng tăng, ô
nhiễm và suy thoái chất lượng sẽ là mối đe dọa quan trọng và gây ra nguy hiểm
cho việc quản lý chất lượng nguồn nước, trừ khi kế hoạch chiến lược cụ thể về
chất thải rắn, nước thải và cách sử dụng các tác nhân hóa học trong hoạt động sản
xuất nông nghiệp được đặt ra.
Cụ thể, theo kết quả giám sát ô nhiễm hiện tại của Sở Tài nguyên Môi
trường (TNMT) TPCT về sự phát triển của chất lượng môi trường ở TPCT 19992008, gần như tất cả các kênh mương thoát nước và nguồn nước cung cấp chính
trong thành phố đang có quá nhiều ô nhiễm, nước chuyển sang màu đen và có
mùi khủng khiếp. Vấn đề ô nhiễm nước tại TPCT đã trở thành một mối quan tâm
bức xúc. Hầu như tất cả nước thải tại thành phố vẫn chưa được xử lý trước khi
thải vào sông Hậu, chất thải công nghiệp chưa được phân loại và xử lý. Mặt nước
trong khu vực nông thôn bị ô nhiễm chủ yếu là do các chất hữu cơ và vi khuẩn.
Nước mặt bị ô nhiễm nghiêm trọng gây ô nhiễm nước ngầm, trong khi nước bề
mặt của các con sông chính, sông Hậu chẳng hạn, bị ô nhiễm với các chất ô
nhiễm hữu cơ và vi khuẩn. Ngoài ra, dựa trên kết quả giám sát ô nhiễm hiện tại
của Sở TNMT về sự phát triển của chất lượng môi trường ở TPCT 1999-2008,
gần như tất cả các kênh mương thoát nước và nguồn nước cung cấp chính đều bị
ô nhiễm nặng nề. Kênh rạch bị ô nhiễm với nồng độ BOD từ 10-15 mg/l vượt
quá quy chuẩn 2-3 lần, nồng độ coliform là 4000-160,000 MPN/100ml vượt hơn
20 lần; và hóa chất BVTV chảy xuống kênh rạch và các kênh dẫn nước ở mức

An Cư, An Bình, Hưng Lợi, Cái Khế, Xuân Khánh, Thới Bình, Tân An, quận
Ninh Kiều vừa có thêm một phường nữa là phường An Khánh (theo Nghị định số
11/2007/NĐ-CP ngày 16/01/2007 của Chính phủ). Đây là nơi có mật độ dân cư
8.416 người/km², cao gần gấp 10 lần mật độ dân số trung bình của cả thành phố
(Cục thống kê Cần Thơ, 2011).
Báo cáo về kết quả thực hiện Nghị quyết năm 2004 của Quận ủy Ninh
Kiều cho biết: Quận có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao (15,5%) có cấu kinh tế
chuyền dịch đúng hướng. Cụ thể: thương mại - dịch vụ (chiếm 60,4%), du lịch và
công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp – xây dựng (38,3%) và nông nghiệp (1,3%).
Với kết quả thu ngân sách đạt 239.79 tỷ đồng. Ninh Kiều trở thành đơn vị dẫn
đầu toàn thành phố; thu nhập bình quân cũng cao nhất thành phố với số tuyệt đối
960 USD/người. Ninh Kiều có hệ thống giao thông đường thủy, đường bộ quốc
gia đi qua, là nơi hội tụ của nhiều tuyến đường giao thông thủy, bộ quan trọng
của vùng nên rất thuận tiện cho việc vận chuyển và lưu thông nguyên liệu và sản
phẩm hàng hoá, tạo ra các trục phát triển từ thành phố Cần Thơ đến các thị xã,
thành phố của nhiều tỉnh trong vùng. Quận là trung tâm thương mại của thành
phố với hàng loạt chợ và trung tâm mua sắm cao cấp, là trung tâm hành chính,
văn hoá, giáo dục, công nghệ, y tế, du lịch của thành phố Cần Thơ.
2.3.2 Hiện trạng chất lượng môi trường nước Quận Ninh Kiều, thành
phố Cần Thơ
Sở TNMT đã chủ trì kết hợp Phòng TNMT quận Ninh Kiều, UBND
phường An Cư tiến hành khảo sát thực tế, kiểm tra hiện trạng môi trường, thu
mẫu nước mặt tại hồ Xáng Thổi vào tháng 6 năm 2013. Kết quả cho thấy: Khu
vực nước mặt bên trong lòng hồ và thảm cỏ, lối đi bộ xung quanh bờ hồ phát sinh
các loại rác thải sinh hoạt, rác thải của các cơ sở kinh doanh gây mất mỹ quan đô
11


thị và ô nhiễm môi trường. Lòng hồ đang cạn dần do tiếp nhận bùn thải, nước
thải chưa xử lý từ hệ thống cống thoát nước đô thị xung quanh khu vực phường

Thơ
2.4.1 Rạch Cái Khế
Rạch Cái Khế - một trong những con rạch lớn nhất trên địa bàn quận Ninh
Kiều. Bắt đầu từ phường An Hòa (giáp với lưu vực Bình Thủy) hướng ra cửa
12


Khải Luông, là lưu vực đông dân nhất của thành phố, đặc trưng bởi hai đầm An
Cư và rạch Ngỗng vốn được hình thành do việc lấy đất xây dựng.
Hệ thống cống đổ ra rạch Cái Khế khu vực dân cư các phường Thới Bình,
An Hội, An Nghiệp, An Cư, An Phú và một phần phường Xuân Khánh. Các cống
bố trí chưa hoàn chỉnh, chỉ có trên một số trục lớn. Ngoài ra, còn có thể kể khá
nhiều cống hở do dân tự xây dựng, nhận nước từ các khu vực đông dân cư đưa
thẳng vào rạch Cái Khế, nhiều nhất trên đoạn giữa hai cầu Cái Khế và ngã ba
rạch Ngỗng. Một cách tổng quát, phần lớn tuyến cống chính hữu ngạn rạch Cái
Khế là cống ngầm có đường kính 100 – 120 cm, phân bố trên 6 tuyến đường
chính. Trên các tuyến đường phụ, hầu hết là mương lộ thiên. Ngoài ra, còn có thể
kể một số mương lộ thiên đưa nước thải trực tiếp xuống đầm An Cư. Phía tả ngạn
rạch Cái Khế đều là cống hở; khi đổ ra gần rạch, các cống hở mở lớn khẩu độ ra
gần như là các đường nước tự nhiên. Tổng chiều dài cống ngầm chỉ khoảng
35,5km, mương lộ thiên 7,22km.
Trong thực tế, phần lớn dân cư các phường Thới Bình, An Cư, An Hội,
An Nghiệp đều xả trực tiếp nước thải và một phần rác xuống rạch nhất là đoạn
qua chợ An Nghiệp, hoặc đầm An Cư có rất nhiều cống hở do người dân tự làm
chưa thống kê hết (Cao Thị Minh Thảo, 2009).
Vài năm trở lại đây, nhiều người dân dựng nhà lấn chiếm, nhiều hộ sống
ven kênh rạch có thói quen vứt rác xuống kênh rạch đã gây tác động xấu đến môi
trường nước của rạch. Rạch Cái Khế ô nhiễm khá nặng. Nguyên nhân do nước
thải từ Trung tâm thương mại Cái Khế mỗi ngày thải xuống rạch khoảng 2.000
m³ nước bẩn, chất thải rắn và rác sinh hoạt. Cư dân sống trên những nhà sàn dọc

Minh Thảo, 2009). Theo Võ Phương Thảo (2009), nước trong rạch Cái Khế đoạn
từ cầu Nguyễn Trãi đến cầu Cái Khế đang bị ô nhiễm hữu cơ, DO thấp hơn 3,64
lần/B2, COD vượt 1,55 lần/B1.
2.4.2 Rạch Đầu Sấu
Từ trung tâm thành phố Cần Thơ chạy dọc theo tuyến quốc lộ 1A hướng
về Hậu Giang đến cầu Đầu Sấu (gần Bệnh Viện Da Liễu TPCT). Rạch Đầu Sấu
được xem là ranh giới giữa phường An Bình và phường Hưng Lợi. Rạch Đầu
Sấu nối liền với các rạch Xẽo Nhum, Ngã Bát, Mương Củi, Cái Sơn. Chính vì
thế, khi rạch Đầu Sấu xảy ra tình trạng ô nhiễm thì sẽ ảnh hưởng đến chất lượng
nước của các rạch còn lại và ngược lại khi một trong các rạch trên bị ô nhiễm
cũng sẽ ảnh hưởng đến chất lượng nước của rạch Đầu Sấu.
Chất lượng nước mặt ở rạch Đầu Sấu trong những năm gần đây đã trở nên
ngày càng xấu đi. Theo Nguyễn Chí Hiển (2010), rạch Đầu Sấu đang bị ô nhiễm
nặng, nồng độ DO ở rạch lúc nước ròng vào mùa mưa từ 0,15 – 1,7 mg/L, COD
từ 29,6 – 59,2 mg/L. Do dân cư tập trung sống đông đúc dọc hai bên con rạch,
tình trạng một số hộ dân cất nhà sàn trên rạch, mọi sinh hoạt như ăn, uống, tắm,
giặt,… điều này làm ảnh hưởng không tốt đến chất lượng nước của rạch. Đặc biệt
là nước thải từ các cơ sở y tế, bệnh viện và chất thải từ các hoạt động nông
nghiệp đây là nguồn nước thải có thể là nguyên nhân chính gây nên tình trạng ô
nhiễm như hiện nay. Rạch Đầu Sấu phải hứng chịu cống thoát nước của một số
khu dân cư khác và hệ thống thoát nước của các bệnh viện đổ ra, lại hứng thêm
rác, chất thải, nước thải từ những nhà lấn chiếm rạch khiến con rạch ngày càng bị
ô nhiễm nghiêm trọng.

14


2.4.3 Rạch Cái Sơn
Rạch Cái sơn thuộc phường An Bình, quận Ninh Kiều cũng chịu ảnh
hưởng trực tiếp nguồn thải từ các hộ dân sống dọc theo con rạch và có đoạn đang

trong kỹ thuật môi trường, là một chỉ tiêu cần kiểm tra đối với chất lượng. pH là
yếu tố môi trường ảnh hưởng đến tốc độ và giới hạn phát triển của sinh vật trong
môi trường nước, sự thay đổi giá trị pH trong nước có thể dẫn tới những thay đổi

15


về thành phần các chất trong nước do hóa trình hòa tan hoặc kết tủa, hoặc thúc
đẩy hay ngăn chặn những phản ứng hóa học, sinh học xảy ra trong nước (Đặng
Kim Chi, 2001).
Tính chất của nước được xác định theo các giá trị khác nhau của pH. Khi
pH = 7, nước có tính trung tính; khi pH > 7, nước có tính kiềm; khi pH < 7, nước
có tính axit. pH được chia thành 14 mức từ 0 – 14. Sự biến động pH theo ngày –
đêm là kết quả của sự thay đổi giữa quang hợp và hô hấp của thực vật phù du và
các loài thực vật khác trong thủy vực. pH giảm là do quá trình phân hủy hữu cơ,
hô hấp của thủy sinh vật. Hai quá trình này giải phóng ra nhiều CO2, CO2 phản
ứng với nước tạo ra H+. Ngược lại, quá trình quang hợp được thực vật hấp thu
CO2 làm pH tăng dần, khi CO2 tự do hòa tan trong nước bị hấp thu hoàn toàn thì
pH tăng lên 8,34 (Trương Quốc Phú, 2008).
Nhìn chung, sự sống tồn tại và phát triển tốt nhất trong điều kiện môi
trường nước trung tính có pH = 7. Tuy nhiên, sự sống vẫn chấp nhận một khoảng
nhất định trên dưới giá trị trung tính (6 < pH < 8,5), đôi khi còn rộng hơn và cá
biệt vẫn có những sinh vật sống được ở các pH cực tiểu (0 < pH < 1) và cực đại
pH = 14 trong tự nhiên luôn luôn tồn tại hệ đệm, do vậy sự thay đổi nồng độ axit
(H+) hoặc bazơ (OH-) đến một mức nào đó mới dẫn đến sự thay đổi pH (Trịnh Lê
Hùng, 2007).
pH thấp sẽ thúc đẩy sự hòa tan các muối sắt, nhôm, làm tăng sự ảnh hưởng
xấu các ion này lên thủy sinh vật. Ngoài ra, pH còn ảnh hưởng lên độc chất, có
thể làm tăng tính độc hay giảm tính độc của độc tố (Lê Huy Bá, 2008).
2.5.2 Hàm lượng ôxy hòa tan trong nước – DO ( Dissolved Oxygen)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status