Ý thức nữ quyền trong văn xuôi y ban - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG

Ý THỨC NỮ QUYỀN TRONG
VĂN XUÔI Y BAN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lý luận văn học

Người hướng dẫn khoa học: TS. LÊ THỊ LAN ANH

HÀ NỘI – 2015


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG

Ý THỨC NỮ QUYỀN TRONG
VĂN XUÔI Y BAN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lý luận văn học

Người hướng dẫn khoa học:
ThS. Nguyễn Thị Vân Anh

HÀ NỘI – 2015



MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
1.

Lý do chọn đề tài .................................................................................... 1

2.

Lịch sử nghiên cứu vấn đề ...................................................................... 2

3.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .......................................................... 4

4.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu........................................................... 4

5.

Phương pháp nghiên cứu ........................................................................ 5

6.

Đóng góp của khóa luận ......................................................................... 5

7.

Cấu trúc của khóa luận ........................................................................... 5

NỘI DUNG ................................................................................................... 6

TÀI LIỆU THAM KHẢO


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong xã hội Việt Nam xưa, người phụ nữ ít được quan tâm đúng mực,
các tác phẩm văn chương phản ánh về người phụ nữ lại càng hiếm hoi, ý thức
nữ quyền tồn tại trong các tác phẩm văn chương lúc đó khá mờ nhạt.
Khi đất nước bước vào thời kì đổi mới, điều kiện kinh tế xã hội có nhiều
biến đổi, văn học cũng có những chuyển biến tích cực trong đó tiêu biểu là sự
xuất hiện của dòng văn chương mang âm hưởng nữ quyền do chính các tác giả
nữ sáng tác. Vương Trí Nhàn trong bài Phụ nữ và sáng tác văn chương đã nhận
xét:“hình như do sự nhạy cảm của riêng mình, phái nữ bắt mạch thời đại
nhanh hơn nam giới”. Phải chăng đây là nguyên nhân giúp hàng loạt các cây
bút nữ nhận được sự ái mộ của độc giả, trong đó phải kể tới nhà văn nữ Y Ban.
Cùng với các nhà văn, nhà thơ nữ đương thời: Lê Minh Khuê, Võ Thị
Hảo, Lý Lan, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh,... Y Ban là cây bút
thể hiện rõ những cảm nhận, trải nghiệm táo bạo, tế nhị về giới mình trong
các sáng tác văn học. Các tiểu thuyết, truyện ngắn của Y Ban viết về những
điều nhà văn suy ngẫm. Y Ban luôn đứng về phía những người phụ nữ chịu
đau khổ, thiệt thòi. Bằng tài năng của mình nhà văn đã mang tiếng nói của
giới mình đến đông đảo công chúng, đồng thời thể hiện tiếng nói đòi bình
đẳng giới của tác giả trong xã hội hiện nay.
Có thể nói, âm hưởng nữ quyền được thể hiện đậm đặc trong các sáng
tác của nhà văn Y Ban. Ý thức nữ quyền trở thành sợi chỉ đỏ, định hướng và
xuyên suốt quá trình sáng tác của chị. Với số lượng tác phẩm lớn, chủ yếu là
tiểu thuyết và truyện ngắn, Y Ban đã bộc lộ cảm quan riêng của mình về
người phụ nữ đồng thời góp thêm một tiếng nói vào cuộc đấu tranh bình đẳng
giới đã và đang phát triển trong văn học Việt Nam những năm gần đây.
Trang văn của Y Ban cất lên để ca ngợi, khẳng định vẻ đẹp, vai trò, thiên


2


tâm trạng” [14]. Trên báo Nông nghiệp số 5, năm 2006, bài viết Phụ nữ là
đàn bà đã đưa ra nhận xét về một vài tác phẩm của Y Ban: “Ngay ở tên tác
phẩm các tác giả đã muốn lưu ý với độc giả rằng họ đang viết về phụ nữ: Đàn
bà xấu thì không có quà (Y Ban),…” hay “Văn học cách mạng không thể có
phụ nữ ngoại tình vì đã là người nữ anh hùng không thể có hành vi phi đạo
đức. Ngược lại, các nhà văn hôm nay rất sính nói chuyện đàn bà ngoại tình,
ngoại tình công khai, ngoại tình nén lút, ngoại tình xác thịt hay ngoại tình
bằng những giấc mơ (Người đàn bà và những giấc mơ – Y Ban)” [15]. Xoay
quanh vấn đề truyện ngắn và ý thức phái tính trong văn xuôi Y Ban còn có
những bài viết như: Nhà văn Y Ban và đàn bà xấu, Nhà văn Y Ban: Phụ nữ
…đến cái tuổi này thì mọi cái đều dễ giải tỏa,… Đáng chú ý là các bài viết
của các tác giả: Lê Thị Hương Thủy, Vũ Thị Oanh, Phong Lê. Tuy nhiên
những bài viết về sáng tác của Y Ban trên các báo và tạp chí chưa thực sự
phong phú về số lượng và khảo sát chưa sâu. Các tác giả chỉ dừng lại tìm hiểu
một số tác phẩm tiêu biểu, nhận diện tác giả mà chưa nghiên cứu cụ thể các
bình diện của tác phẩm hoặc hệ thống hóa tác phẩm. Nhưng trên các báo
mạng và các diễn đàn văn nghệ ta sẽ thấy một không khí sôi nổi, thẳng thắn,
tự do khi trao đổi về những tập truyện ngắn của Y Ban.
2.2. Các bài viết, trao đổi về sáng tác của Y Ban trên các diễn đàn
và báo mạng
Trong bài phỏng vấn do Hoàng Thu Phố thực hiện khi cuốn Hành trình
của tờ tiền giả ra mắt, Y Ban bày tỏ việc chị “đánh giá cao độc giả hơn các
nhà phê bình văn học” là “điều hiển nhiên”. Vì chị cho rằng: “Bạn đọc là
người thông minh nhất” và chị “hoàn toàn tôn trọng ý kiến của độc giả”. Bài
viết “Y Ban – hành trình đến tận cùng thế tục” trên www.vietimes, tác giả
Hoàng Tố Mai đã hệ thống lại những sự kiện đặc biệt của truyện ngắn Cẩm cù

trong văn xuôi Y Ban.
4


4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của khóa luận là khảo sát và phân tích các tác phẩm
tiểu thuyết và truyện ngắn của nhà văn Y Ban.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện khóa luận này, chúng tôi vận dụng một số
phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
- Phương pháp hệ thống
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp phân tích tổng hợp
6. Đóng góp của khóa luận
Trên cơ sở những khái niệm được xác lập, khóa luận đi sâu tìm hiểu sự
biểu hiện ý thức nữ quyền trong văn xuôi của Y Ban, từ đó chỉ ra giá trị của ý
thức nữ quyền trong việc biểu đạt quan niệm thẩm mỹ của nhà văn. Với khóa
luận này, chúng tôi hy vọng góp phần làm rõ những nét độc đáo trong ý thức
nữ quyền của Y Ban nói riêng, đồng thời khẳng định sức mạnh và ưu thế của
dòng văn học nữ Việt Nam hiện đại nói chung.
7. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung khóa
luận được cấu trúc theo 3 chương:
Chương 1: Khái quát về chủ nghĩa nữ quyền và phê bình nữ quyền
Chương 2: Những dấu hiệu biểu hiện ý thức nữ quyền trong văn xuôi Y Ban
Chương 3: Phương thức thể hiện ý thức nữ quyền trong văn xuôi Y Ban

5



túy. Trong khi đó, ở phương Đông, đặc biệt là ở Trung Quốc và Việt Nam,
phong trào nữ quyền gắn liền với phong trào cứu quốc và nữ giới sát cánh
cùng nam giới có tư tưởng tiến bộ để vừa đấu tranh giải phóng dân tộc, vừa
cởi trói cho giới của mình khỏi những ràng buộc cũ của xã hội. Chính vì vậy,
trào lưu nữ quyền ở phương Đông không diễn ra một cách mạnh mẽ, độc lập
và có tính đối kháng với nam giới quyết liệt như ở phương Tây. Đây không
phải là cuộc đấu tranh của một giới phản kháng lại một giới mà là cuộc đấu
tranh chung của một cộng đồng xã hội có tư tưởng cấp tiến về giới chống lại
những hệ tư tưởng cổ hủ áp bức người phụ nữ.
Đây là một khái niệm khá quen thuộc với con người thời hiện đại, có
mức độ phổ biến rộng trong phạm vi xã hội. Tuy nhiên, với nội hàm và ngoại
diện của nó, khái niệm này lại gây nên những phản ứng khác nhau. Do đặc
thù lịch sử, văn hóa, chính trị, xã hội… vấn đề nữ quyền ở mỗi quốc gia, mỗi
dân tộc lại khác nhau.
Chủ nghĩa nữ quyền là một hiện tượng hết sức phức tạp, mang tính lịch
sử, dân tộc. Nó bao gồm nhiều xu hướng và giai đoạn đấu tranh khác nhau.
Theo các nhà nghiên cứu chủ nghĩa nữ quyền thì quá trình phát triển của chủ
nghĩa nữ quyền có thể được khái quát thành ba xu hướng tương ứng với ba
làn sóng nữ quyền, đó là:
Làn sóng nữ quyền thứ nhất (The First Wave of feminism) diễn ra vào
cuối thế kỉ XIX. Ở giai đoạn này, phụ nữ đấu tranh chủ yếu đòi các quyền lợi
như: đòi trả lương ngang bằng với nam giới, đòi tăng lương và giảm giờ làm,
quyền được bầu cử, quyền được mở rộng ngành nghề đối với phụ nữ...
Làn sóng nữ quyền thứ hai (The Second Wave of feminism) diễn ra từ
năm 1918 đến 1968. Người khởi xướng của làn sóng nữ quyền giai đoạn
này là nữ văn sỹ Pháp Simone de Beauvoir (1908 - 1986) cùng với tác
phẩm nổi tiếng Giới tính thứ hai (1949). Đây là công trình đặt nền móng
cho việc nghiên cứu phụ nữ từ góc nhìn giới (gender). Nó đưa đến một
7

8


với những phương pháp luận có khi khác hẳn nhau, đều cùng chia sẻ một số
niềm tin chung. Một, tất cả những cái gọi là chủ thể tính, bản ngã và bản sắc,
bao gồm cả bản sắc của nữ giới - thường được gọi là nữ tính - không phải là
những gì tất định và bất biến, hay nói như Beauvoir, “người ta không sinh ra
là phụ nữ, người ta trở thành phụ nữ”. Hai, cơ chế tiêu biểu nhất trong việc
đàn áp phụ nữ chính là nền văn hoá phụ quyền, hay thỉnh thoảng, với một số
nhà nữ quyền, còn được gọi là nền văn hoá duy dương vật (phallocentric
culture). Và ba, nhiệm vụ của các cây bút nữ không phải chỉ là chống lại mọi
hình thức áp chế của nam giới mà còn phải cố gắng xác định một thứ mỹ học
riêng của nữ giới, từ đó, thiết lập nên những điển phạm riêng, và cuối cùng,
xây dựng những tiêu chí riêng trong việc cảm thụ và đánh giá các hiện
tượng văn học.
Nói đến những khác biệt giữa giới tính nam và nữ, người ta thường căn
cứ trên năm yếu tố chính: sinh lý, kinh nghiệm, vô thức, các điều kiện kinh tế,
xã hội và diễn ngôn. Ngày xưa (và hiện nay vẫn còn, ở một số nơi nào đó trên
thế giới), người ta căn cứ chủ yếu vào yếu tố sinh lý để chứng minh phụ nữ là
những “người đàn ông bất toàn” (imperfect men), là những kẻ không có gì cả,
trừ... tử cung (tota mulier in utero / woman is nothing but a womb); sau, dưới
ảnh hưởng của Freud, người ta xem phụ nữ là những kẻ không có cu và không
lúc nào không bị day dứt bởi mặc cảm bị thiến (castration complex). Một số
nhà nữ quyền luận muốn chứng minh ngược lại: chính nhờ một số đặc điểm
riêng biệt về sinh lý, như việc có kinh, có thai, có sữa và sinh đẻ, người phụ
nữ có quan hệ gần gũi và mật thiết với thế giới vật lý và với hiện thực nói
chung hơn hẳn đàn ông. Những phân tích này dẫn một số nhà nữ quyền luận
đến với phân tâm học: trong khi nam giới, khi chớm có ý thức, đã phải tách ra
khỏi mẹ của mình để nhập vào thế giới phụ quyền của bố, phụ nữ, ngược lại,
ở mãi với mẹ, xây dựng bản sắc của mình bên cạnh mẹ. Những chọn lựa ban

(logocentrism), vốn được xem là nền tảng của văn minh Tây phương, gắn liền
chặt chẽ với chủ nghĩa duy dương vật (phallocentrism), ở đó, nam giới luôn
10


luôn đóng vai trò thống trị.
Trong lĩnh vực văn học, Annis Pratt cho phê bình nữ quyền luận nhắm
đến bốn mục tiêu chính: một, cố gắng phát hiện và tái phát hiện các tác phẩm
văn học của phụ nữ; hai, phân tích và đánh giá các khía cạnh hình thức văn
bản của các tác phẩm ấy; ba, tìm hiểu xem những tác phẩm ấy đã phản ánh
quan hệ nam nữ ra sao; và bốn, mô tả những sự phát triển của các yếu tố liên
quan đến huyền thoại và tâm lý liên quan đến người phụ nữ trong văn học.
Tuy nhiên, không phải ai cũng đồng ý với những mục tiêu này. Lillian S.
Robinson lý luận là bốn mục tiêu ấy xác lập trên cơ sở bốn cách tiếp cận quen
thuộc dựa trên: thư mục, văn bản, chu cảnh (hay xã hội học) và phê bình theo
khuynh hướng cổ mẫu (archetypal criticism), và cả bốn đều là sản phẩm của
nam giới. Bởi vậy, nhiệm vụ của các nhà phê bình nữ quyền luận là phải xa
lánh thay vì đi theo các cách tiếp cận ấy. Elaine Showalter cổ xuý cho sự ra
đời của cái bà gọi là “nữ phê bình gia” (gynocritics), bên cạnh loại phê bình
nữ quyền (feminist critique) đã có, ở đó, phụ nữ chỉ tham dự với tư cách
người đọc. “Nữ phê bình gia” có nhiệm vụ xác lập cái khung lý thuyết và mỹ
học riêng để phân tích các tác phẩm văn học của phụ nữ, để phát triển những
mô hình phê bình dựa trên kinh nghiệm riêng của phụ nữ hơn là chỉ tiếp nhận
những mô hình và lý thuyết do nam giới dựng nên. Trên thực tế, tham vọng
thoát ra ngoài các lý thuyết được xem là mang dấu ấn phụ quyền đã có không
phải là điều dễ. Bản thân cách tiếp cận dựa trên văn bản của Showalter cũng
chỉ là một sự thừa kế muộn màng của Phê bình mới vốn thịnh hành mấy thập
niên trước đó mà thôi. Hầu hết các nhà phê bình nữ quyền luận khác đều nằm
trong những cái khung quen thuộc khác: hoặc phân tâm học hoặc hậu cấu trúc
luận hoặc Mác-xít (còn được gọi là chủ nghĩa nữ quyền duy vật, materialist

Các tác phẩm thuộc dòng văn học nữ quyền xoay quanh các vấn đề: Lấy
người phụ nữ làm trung tâm của tác phẩm văn học, đòi quyền sống, quyền
được hưởng hạnh phúc tự do cho người phụ nữ, tôn vinh vẻ đẹp thân xác và

12


tâm hồn, trân trọng những khát vọng của người phụ nữ…
1.4. Một số đặc điểm cơ bản về tư tưởng nữ quyền trong văn xuôi
Việt Nam đương đại
Ở Việt Nam, tinh thần nữ quyền lên ngôi và dần trở thành một khuynh
hướng văn học nổi bật kể từ sau 1986, đặc biệt là từ đầu thế kỉ XXI. Đây cũng
là một xu thế tất yếu của thời đại khi phụ nữ trở thành “chủ thể ngôn từ, chủ
thể trải nghiệm, chủ thể tư duy, chủ thể thẩm mỹ” [21].
Văn học nữ quyền ở Việt Nam không phát triển thành một chủ lưu trong
dòng chảy chung của văn học hiện đại như ở Pháp, Mĩ (những nơi phong trào
bình đẳng giới diễn ra mạnh mẽ). Tuy vậy, với nhu cầu “nhận thức lại”,
hướng đến giải phóng phụ nữ trên nhiều phương diện, nhiều cây bút nữ Việt
Nam đã phần nào khẳng định quyền của phụ nữ thông qua văn chương.
Ý thức nữ quyền trong văn xuôi Việt Nam hiện đại bắt đầu được thể hiện
mạnh mẽ với truyện ngắn của Y Ban (Bức thư gửi mẹ Âu Cơ, Người đàn bà
có ma lực), Võ Thị Hảo (Hành trang người đàn bà Âu Lạc, Người sót lại của
rừng cười), Nguyễn Thị Thu Huệ (Hoàng hôn màu cỏ úa, Người đàn bà ám
khói), Dạ Ngân (Con chó và vụ li hôn)... Song phải đến đầu thế kỉ XXI, cùng
với sự trỗi dậy của các cây bút nữ, văn học nữ và bộ phận văn học mang tinh
thần nữ quyền (ở cả thơ và văn xuôi) mới thật sự trở thành một dòng văn học
có chỗ đứng riêng. Ở thể văn xuôi khuynh hướng văn học nữ quyền gắn với
tác phẩm của Y Ban (Xuân Từ Chiều, Trò chơi hủy diệt cảm xúc…), Dạ Ngân
(Gia đình bé mọn), Đoàn Lê (Tiền định), Lý Lan (Tiểu thuyết đàn bà), Thuận
(Phố Tàu, Paris 11 tháng 8), Đoàn Minh Phượng (Mưa ở kiếp sau), Võ Thị

lưu văn học nữ quyền là không chỉ các tác giả nam viết về người phụ nữ
mà người phụ nữ với những rung động, trải nghiệm của chính mình, họ lên
tiếng viết về phái họ. Nhà văn nữ Y Ban được coi là tác giả tiêu biểu cho
14


dòng văn học nữ quyền.
Y Ban là người đàn bà từng trải, chị sống sâu sắc, mạnh bạo và dám
thách thức. Chị là một nhà văn nữ giàu nội lực với vốn sống phong phú. Thế
mạnh của Y Ban là viết về nỗi đau, thân phận đàn bà. Chị luôn đòi quyền bình
đẳng cho phụ nữ bởi chị cho rằng: “Người phụ nữ Việt Nam hôm nay vẫn bị
giằng xé giữa cái tam tòng tứ đức và cái quyền con người, quyền của người
phụ nữ hiện đại. Vì vậy mà trong hoàn cảnh này nhân vật của tôi vin vào tam
tòng tứ đức, trong hoàn cảnh khác lại vin vào cái quyền con người hiện đại,
và tôi nghiêng về bên người phụ nữ phải sống như cái quyền họ được
sống”[15]. Với quan niệm như vậy, nhân vật nữ trong tác phẩm của Y Ban
được xây dựng dựa trên ý thức nữ quyền sâu đậm, sắc sảo trong con người Y
Ban. Khảo sát các tác phẩm văn xuôi Y Ban, ta thấy người phụ nữ trở thành
trung tâm tác phẩm của chị và là những đứa con Y Ban gửi gắm tiếng nói đòi
các quyền bình đẳng như đàn ông của nữ giới.
2.1.1. Người phụ nữ với khát vọng hạnh phúc đời thường
Có thể thấy rõ chưa bao giờ hình tượng người phụ nữ lại được đặt ở vị trí
trung tâm và trọng tâm trong những trang viết của các nhà văn như hiện nay,
đặc biệt là trong sáng tác của các tác giả nữ. Có lẽ chính cuộc sống hiện đại
“bộn bề bóng tối và ánh sáng” khiến người ta không khỏi thấp thỏm, lo lắng
về số phận con người, nhất là thân phận đàn bà. Hơn ai hết, những người phụ
nữ chính là những người cần một cuộc sống bình yên thực sự, bình yên trong
tâm hồn và trong cả những khát khao hạnh phúc thường nhật.
Thấu hiểu điều này, ngòi bút của Y Ban đã hướng vào khai thác chủ đề
khát vọng làm giàu và cuộc sống no đủ về vật chất của người phụ nữ. Điều

con, sự hy sinh cao cả của người phụ nữ thật thiêng liêng. Dù nhân vật người
mẹ trong tác phẩm nhận được kết cục không có hậu, nhưng câu trả lời cho câu
hỏi của con trẻ: “với đàn bà, danh dự lớn hơn hay miếng thịt lợn cho con lớn
hơn” [8, Tr.13] đã có lời giải đáp.
Qua những câu chuyện về cơm áo gạo tiền, Y Ban đã lên tiếng khẳng

16


định vai trò quan trọng trong cuộc sống gia đình của người phụ nữ không kém
gì nam giới.
Đến với văn xuôi Y Ban, người đọc còn bắt gặp hình tượng những người
phụ nữ dù có vẻ ngoài xinh đẹp hay khiếm khuyết, dù sống ở thành thị hay
nông thôn, dù thuộc tầng lớp trí thức hay những người lao động bình thường
đều mang trong mình khao khát có được một người đàn ông, một người
chồng để dựa dẫm, chia sẻ niềm vui, nỗi buồn trong cuộc đời.
Chị Quy trong tác phẩm cùng tên là một người như thế. Quy được Huy
lấy về làm vợ nhưng với mục đích là để cô chăm sóc cho mẹ già ở quê cho
“trọn vẹn với gia đình mà thôi chứ anh Huy thì lỡ dở cả” [8, Tr.47]. Chị Quy
khi về nhà chồng vốn là một cô gái 17 tuổi, trẻ trung và có nhan sắc nhưng
được mẹ chồng lấy làm dâu chứ trong mắt anh Huy không hề coi Quy là một
người vợ đích thực, thậm chí có những lúc: “Anh Huy nhìn cái mặt của chị
Quy mà phát ghét. Anh ghét cái bộ mặt cam chịu. Anh ghét cái bộ mặt cứ cúi
nhìn xuống. Anh ghét cái bộ mặt lúc nào cũng bẽn lẽn trước anh. Anh chỉ
muốn đánh đuổi đi” [8, Tr.50]. Cũng như bao người phụ nữ khác, về nhà
chồng Quy tháo vát thu vén công việc nhà chồng, và là một người phụ nữ đẹp
người đẹp nết. Nhưng cuộc hôn nhân không đến bằng tình yêu đã khiến Quy
nhanh chóng rơi vào bi kịch không có được tình yêu của chồng. Anh Huy
công tác trên thành phố nên lấy một người vợ khác và có một đứa con. Ngày
anh đưa con về ra mắt họ hàng và đòi bỏ Quy cũng là ngày chị đối mặt với bi

thường yêu, tặng quà, một người chồng với diện mạo: “Nó có một gương mặt
sáng sủa của nam diễn viên Hàn Quốc… Và một thân hình tựa tựa anh rể, một
cặp đùi rắn chắc thò ra dưới quần đùi. Người đàn ông của nàng là một người
đàn ông lương thiện, có một nghề nghiệp trung bình và là một người đàn ông
chưa có gia đình” [4, Tr.45] và khao khát tiến tới hôn nhân, sinh những đứa
con bụ bẫm, dễ thương. Nếu Nấm có một gia đình như thế thì tối đến Nấm sẽ
đọc sách cho mọi người nghe. Với đứa con, Nấm sẽ đọc chuyện cổ tích, còn
ông chồng Nấm sẽ đọc những câu chuyện tình lãng mạn. Thế nhưng, đến tận
18


28 tuổi, Nấm vẫn chưa được bất cứ người đàn ông nào tặng quà chỉ vì cô
xấu. Sự thật đau lòng đó được Y Ban khoét sâu qua những chi tiết trần trụi:
khi Nấm sống cùng nhà với chị gái, ánh mắt ngưỡng mộ của cô dành cho
anh rể đã khiến anh ta hoảng sợ: “Nhưng mà anh sợ, em có hiểu không. Em
đã bao giờ nhìn thấy ánh mắt da diết của con thú bị xích, khao khát tự do
chưa. Anh đã nhìn thấy ánh mắt đó trong cái nhìn của Nấm” [4, Tr.9], sau đó
kiếm cớ đuổi cô đi; ngay cả người đồng nghiệp già trong lúc say rượu cũng
kịp dừng lại ham muốn với Nấm vì chê cô xấu. Đỉnh điểm là khi một người
đàn ông ở nước ngoài yêu Nấm qua những lần chat trên mạng, khi về nước
gặp Nấm đã nhanh chóng rút lui… Bằng lối viết nhẹ nhàng, tình cảm, đi sâu
vào nội tâm nhân vật, Y Ban đã khiến độc giả đồng điệu cùng từng nhịp tim
của Nấm, bay bổng cùng những giấc mơ hạnh phúc và rồi vỡ òa cùng những
đau đớn, xót xa, thất vọng… Xen lẫn với chuyện đời của Nấm là những tác
phẩm mà cô viết ra trong đau khổ. Những truyện ngắn ấy là nơi để Nấm giải
tỏa những ức chế, khát khao về tình yêu, tình cảm gia đình, bạn bè. Với
Nấm, cô luôn chuẩn bị tinh thần cho những tình huống xấu nhất xảy ra, vì
thế, khi những hy vọng trở thành thất vọng, tuy đau đớn nhưng cô vẫn tỉnh
táo chấp nhận sự thật. Mỗi lần trải qua một cú sốc tình cảm, Nấm càng thêm
vững vàng và những tác phẩm của cô càng hay hơn. Khắc họa nhân vật Nấm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status