TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
NGUYỄN THỊ THU LAN
GIỌNG ĐIỆU THƠ LƢU QUANG VŨ
TRONG TUYỂN TẬP GIÓ VÀ TÌNH
YÊU THỔI TRÊN ĐẤT NƯỚC TÔI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận văn học
HÀ NỘI - 2015
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với Thạc sĩ Nguyễn Thị
Vân Anh, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ Lí luận văn học khoa
Ngữ Văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi
trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi cũng xin gửi tới người thân, gia đình, bạn bè, những người đã luôn động
viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu lời cảm ơn sâu sắc.
Vì điều kiện thời gian có hạn nên đề tài không tránh khỏi những hạn chế nhất
định. Tôi rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô và các bạn để khóa luận
hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Thu Lan
2.1.2. Yếu tố gia đình, quê hương và những kỉ niệm tuổi học trò ......................... 14
2.2. Một số giọng điệu chủ đạo trong các sáng tác trước năm 1975 ......................... 15
2.2.1. Giọng đắm đuối đến mê hoặc.................................................................... 15
2.2.2. Giọng tâm tình, ngợi ca ............................................................................ 22
2.2.3. Giọng lạc quan tin tưởng....................................................................... 26
2.2.4. Giọng cô đơn, khắc khoải ......................................................................... 27
2.2.5. Giọng đượm buồn, xót xa, cay đắng .......................................................... 29
CHƢƠNG 3. GIỌNG ĐIỆU THƠ LƢU QUANG VŨ SAU NĂM 1975............ 41
3.1. Cơ sở hình thành giọng điệu .............................................................................. 41
3.1.1. Bối cảnh lịch sử, văn hóa - xã hội ............................................................. 41
3.1.2. Yếu tố đời tư của nhà thơ.......................................................................... 41
3.2. Một số giọng điệu chủ đạo trong các sáng tác sau năm 1975 ............................ 43
3.2.1. Giọng trăn trở, xót xa ............................................................................... 43
3.2.2. Giọng suy tư, chiêm nghiệm triết lí ........................................................... 45
3.2.3. Giọng dịu dàng, đằm thắm ........................................................................ 49
PHẦN KẾT LUẬN .................................................................................................. 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Giọng điệu là một phương diện biểu hiện quan trọng của chủ thể sáng
tạo. Nó cũng là một nhân tố cốt yếu trong cấu trúc hình thức nghệ thuật của tác
phẩm văn học. Nghiên cứu giọng điệu nghệ thuật của nhà thơ sẽ giúp chúng ta cảm
nhận sâu sắc hơn thế giới tâm trạng, cảm xúc của chủ thể trữ tình và đặc biệt là thấy
được cá tính sáng tạo, phong cách nghệ thuật của mỗi nhà văn.
1.2. Từ trước đến nay, nhắc đến Lưu Quang Vũ là ta biết đến một kịch gia
trân trọng di sản thơ Lưu Quang Vũ ở nhiều bạn đọc.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trên thi đàn Việt Nam, Lưu Quang Vũ xuất hện với một phong cách thơ đôn
hậu, hiền hòa và thiết tha tình nghĩa. Chính vì thế, thơ ông dễ đi vào lòng người,
gây được cảm tình với độc giả. Với Lưu Quang Vũ, thơ luôn là một phần của tâm
hồn, của cuộc đời và lẽ sống. Nhưng, so với kịch, thơ Lưu Quang Vũ lại chịu sự
thách thức và sàng lọc kĩ lưỡng của thời gian. Trong khoảng thời gian dài, độc giả
dường như đã quên thơ Lưu Quang Vũ bởi sự ra đời rầm rộ hơn 50 vở kịch của ông.
Và phải đến khi Lưu Quang Vũ qua đời, nhất là sau khi tập thơ Gió và tình yêu thổi
trên đất nước tôi nhận giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội thì việc đánh giá, ghi
nhận về vai trò, vị trí của thơ Lưu Quang Vũ trong đời sống văn học nước nhà sôi
động và tích cực hơn nhiều.
Điểm lại các bài phê bình, giới thiệu, nghiên cứu về thơ Lưu Quang Vũ
chúng ta có thể tổng kết những nội dung sau:
2.1. Một số bài nghiên cứu khẳng định Lưu Quang Vũ trước hết và trên hết
là một nhà thơ tài hoa.
Đầu tiên phải kể đến ý kiến của Hoài Thanh, trong bài viết Một cây bút có
nhiều triển vọng đã đánh giá những vần thơ của Lưu Quang Vũ: “nó là vàng thật,
đúng nó là thơ”; “Lưu Quang Vũ có nhiều câu nhiều đoạn đúng là thơ, lại có một
bài thơ rất hay. Năng khiếu của anh đã rõ. Miễn anh đi đúng nhất định anh sẽ đi xa”.
PGS. TS Nguyễn Thị Minh Thái trong bài viết Thơ tình Lưu Quang Vũ thì
cho rằng: “Trong tính cách sáng tạo của con người tài hoa trẻ trung Lưu Quang Vũ
thì thơ là hồn cốt nhân hậu nhất” [10, tr. 92], và “Đi suốt chiều dài đời thơ Lưu
Quang Vũ, tôi có cảm giác như đi vào một kho báu. Ở những câu thơ ta nhặt vô tình
2
nhất cũng óng ánh một vẻ đẹp riêng, không hiểu sao chỉ có ở thơ Lưu Quang Vũ một vẻ đẹp trong vắt của thi ca” [10, tr. 95].
Vũ Quần Phương trong bài Đọc thơ Lưu Quang Vũ đã nhận thấy: “Đọc hết
các bản thảo anh để lại, tôi thấy thơ mới là nơi anh kí thác nhiều nhất và tôi tin
Vương Trí Nhàn lại khám phá một biểu tượng khác: “mưa” - biểu tượng
này thường gắn với rất nhiều bài thơ tài hoa của Lưu Quang Vũ: “Trong các thi
sĩ đương thời, Vũ là người nhạy cảm với mưa, thân thuộc với mưa hơn ai hết”.
“Ở anh, mưa cho thấy sự trôi chảy của thời gian mà con người thấy bất lực, không
sao níu kéo nổi. Mưa làm cho hiện tại trở nên vô nghĩa và tương lai trở nên lờ mờ
không xác định” [8, tr. 69].
Còn trong bài viết Nỗi lao lung của một hồn thơ mới bước vào đời, Phan
Trọng Thưởng chú ý dến biểu tượng “bầy ong” như hình bóng của tác giả: “Hình
như anh cảm thấy sự đồng than, đồng phận nào đó giữa mình với con ong: sự cần
mẫn, ý thức chắt chiu, tìm kiếm, nhỏ nhoi giản dị” [16].
- Yếu tố thứ hai về cách thức biểu hiện trong thơ Lưu Quang Vũ được nói
đến khá nhiều là giọng điệu.
Hoài Thanh đã nhận thấy “Câu thơ Lưu Quang Vũ thường ngọt ngào hiền hậu”.
Trong bài viết Lưu Quang Vũ, hồn thơ đắm đuối, Vũ Quần Phương đã chỉ ra ở Lưu
Quang Vũ một “giọng thơ đến đắm đuối” và khẳng định: “Đắm đuối là bản sắc cảm
xúc của Lưu Quang Vũ”, “Tìm ra những yếu tố cấu thành cái chất đắm đuối này
cũng là cách tìm ra bản chất thi pháp Lưu Quang Vũ” [19, tr. 357]. Lưu Khánh Thơ,
Bích Thu cũng dùng từ “đắm đuối” để nói về giọng điệu thơ Lưu Quang Vũ. Đề cập
đến vấn đề này, Bích Thu trong bài Những bài thơ sống với thời gian đã có nhận
xét: “Thơ của Vũ lôi cuốn người đọc không chỉ ở sự trau chuốt lời lẽ, ngôn từ với
những kĩ xảo ngón nghề mà chính ở hồn thơ đắm đuối chân thành giản dị mà nồng
nàn da diết” [10, tr. 101]. Lê Đình Kỵ trong bài viết Hương cây - Bếp lửa - Đất
nước đời ta đã nêu ý kiến “Thơ Lưu Quang Vũ có một điệu tâm hồn riêng và không
thể thiếu tâm tình” [10, tr. 29].
Như vậy, có thể thấy, qua những bài viết về thơ Lưu Quang Vũ, các nhà
nghiên cứu đã phát hiện ra những nét đặc sắc khác nhau trong thơ của ông. Chúng
ta có thể thấy đã có một số bài viết nghiên cứu thơ ông dưới góc độ giọng điệu
4
5
Phương pháp thống kê, phân loại
Phương pháp so sánh đối chiếu
Phương pháp phân tích văn học
7. Đóng góp của khóa luận
Trên cơ sở, phát hiện được giọng điệu chủ âm và các sắc giọng phong phú
khác trong thơ Lưu Quang Vũ, khóa luận một mặt cho thấy những nét độc đáo trong
tư duy nghệ thuật của Lưu Quang Vũ. Mặt khác, cũng góp một tiếng nói khẳng định
và ghi nhận Lưu Quang Vũ ở một tầm cao mới, xứng đáng hơn trên bình diện thơ ca
chứ không dừng lại ở một cây bút thơ được mọi người biết đến.
8. Bố cục khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung của khóa luận
được triển khai thành 3 chương:
Chương 1: Khái quát về giọng điệu
Chương 2: Giọng điệu thơ Lưu Quang Vũ trước năm 1975
Chương 3: Giọng điệu thơ Lưu Quang Vũ sau năm 1975
6
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ GIỌNG ĐIỆU
1.1. Khái niệm giọng điệu
Từ trước tới nay trong văn học, chúng ta thường bắt gặp khái niệm “hơi
văn”, “khí văn”, hay “tone”. Đó đều là những cách gọi khác nhau của giọng điệu.
Với tư cách là một phạm trù thẩm mĩ của tác phẩm văn học, giọng điệu đã thu hút
được sự quan tâm của giới phê bình nghiên cứu. Các nhà nghiên cứu, phê bình văn
điệu trong văn học là một hiện tượng nghệ thuật toát ra từ bản thân tác phẩm và
mang một nội hàm tư tưởng thẩm mĩ… Giọng điệu văn học là hiện tượng “siêu
ngôn ngữ học”, phụ thuộc vào cấu trúc nghệ thuật của tác phẩm, khuynh hướng
nghệ thuật của tác giả và của thời đại. Giọng điệu là biểu hiện của thái độ, cảm xúc
của chủ thể đối với đời sống”. Hay trong một công trình khác, ông khẳng định:
“Giọng điệu là một yếu tố đặc trưng của hình tượng tác giả… Giọng điệu ở đây
không đơn giản là một tín hiệu âm thanh có âm sắc đặc thù để nhận ra người nói mà
là một giọng điệu mang nội dung tình cảm, thái độ ứng xử trước các hiện tượng đời
sống” [12, tr. 142]. Có thể thấy, trong quan niệm của Trần Đình Sử, giọng điệu là một
hiện tượng đã vượt ngoài “tầm kiểm soát” của ngôn ngữ, và được tạo nên bởi mối quan
hệ giữa thái độ, cảm xúc của nhà văn với hiện thực cuộc sống. Như vậy, quan niệm này
không chỉ chú ý tới khía cạnh thái độ cảm xúc, lập trường tư tưởng, tình cảm của tác
giả, mà còn chú ý tới tính chi phối của phạm vi hiện thực tới giọng điệu.
Theo cách khác, Lê Huy Bắc trong bài viết Giọng và giọng điệu trong văn
xuôi hiện đại lại không thể hiện trực tiếp quan niệm của mình, mà thông qua việc
phân biệt giọng và giọng điệu để giới hạn nội hàm của khái niệm. Theo ông: “Giọng
điệu là âm thanh xét ở góc độ tâm lí, biểu hiện các thái độ: buồn, vui, hờ hững, …”.
Với các giới hạn này, có thể nói Lê Huy Bắc đã phát hiện ra bản chất của giọng
điệu. Tuy nhiên nó vẫn chưa là một khái niệm đầy đủ.
Trong chuyên luận Giọng điệu trong thơ trữ tình, PGS.TS. Nguyễn Đăng
Điệp đã có sự nghiên cứu khá kĩ càng về giọng điệu trong văn học. Tác giả đã bày
tỏ khá rõ nét quan niệm về vấn đề này. Nguyễn Đăng Điệp đã cho rằng: “Giọng
điệu biểu thị thái độ, cảm xúc, tư thế của chủ thể phát ngôn qua lời văn nghệ thuật.
Không thể có giọng điệu nếu không có những rung động sâu sắc, những nỗi đau,
8
những xót xa trước thân phận con người, không chia sẻ với họ niềm vui và tình yêu
cuộc sống” [2, tr. 57].
thể, là giọng điệu ngôn ngữ trong đời sống với những nét đặc thù về tính cách,
phong tục, nghề nghiệp, thói quen, trình độ,…; còn giọng điệu nghệ thuật luôn
mang nội dung tình cảm, thái độ, cách ứng xử của tác giả trước những hiện tượng
đời sống được miêu tả. Việc đồng nhất giọng điệu nghệ thuật và giọng điệu tác giả
vốn có ngoài đời là một việc làm mang tính khiên cưỡng, thậm chí sai lệch về bản
chất vấn đề.
Bên cạnh đó chúng ta cũng cần phân biệt giọng điệu với ngữ điệu. “Không
nên lẫn lộn giữa giọng điệu với ngữ điệu là phương diện biểu hiện của lời nói thể
hiện qua cách lên giọng, xuống giọng, nhấn mạnh …” [4, tr. 135]. Tuy cả hai khái
niệm này cũng có cùng một phương tiện biểu hiện là âm thanh, nhưng chúng lại
thuộc hai lĩnh vực khác nhau. Ngữ điệu thuộc phạm vi của ngôn ngữ học, là hiện
tượng của câu và nó có các chức năng biểu cảm. Còn giọng điệu lại là hiện tượng
“siêu ngôn ngữ”, thuộc phạm vi của lí luận văn học, nó phụ thuộc vào cấu trúc nghệ
thuật của tác phẩm, khuynh hướng nghệ thuật của tác giả và cả thời đại.
1.2. Vai trò của giọng điệu
Giọng điệu nghệ thuật là một trong những vấn đề phức tạp nhất của thi pháp
học hiện đại. Tuy nhiên, việc tìm hiểu giọng điệu trong tác phẩm văn chương lại
cung cấp những tri thức về một phương diện cơ bản cấu thành hình thức nghệ thuật
của văn học, một thước đo không thể thiếu để xác định tài năng và phong cách độc
đáo của người nghệ sĩ.
Nhìn một cách khái quát, giọng điệu phản ánh lập trường xã hội, thái độ tình
cảm và thị hiếu thẩm mĩ của tác giả. Từ đây giọng điệu có vai trò rất quan trọng
trong việc tạo nên phong cách nhà văn và tác dụng truyền cảm cho người đọc.
Dấu ấn phong cách trong giọng điệu chính là “chất riêng” độc đáo, không thể
lẫn của mỗi nhà văn, mà nói như Turghenev là: “không thể tìm thấy trong bất kì cổ
họng của người khác” [5, tr 90]. Tại sao giọng điệu lại là yếu tố hàng đầu thể hiện
phong cách nghệ thuật của nhà văn? Có thể lí giải theo cách của M.B. Khrapchenco
trong cuốn Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học: “Do chỗ
Khác hẳn với văn xuôi tự sự, “Thơ trữ tình chủ yếu được nói đến như một
bản tự thuật tâm trạng” bởi thế, giọng điệu trong thơ trữ tình chủ yếu là giọng đơn.
Giọng điệu trữ tình được thể hiện ở nhiều cấp độ: Giọng điệu trữ tình chịu sự quy
định của chủ thể trữ tình, cảm hứng chủ đạo và góc độ giao tiếp, giọng điệu in đậm
11
dấu ấn cá tính sáng tạo của nghệ sĩ - vì cá tính sáng tạo là thể hiện tập trung nhất,
rực rỡ nhất của cái cá biệt, chủ quan…
Có thể nói, giọng điệu là yếu tố không thể thiếu trong bất kì tác phẩm văn
chương nào, trong đó có thơ. Nếu không có giọng điệu, tác phẩm nghệ thuật sẽ
không còn là tác phẩm nghệ thuật nữa. Giọng điệu trong thơ thể hiện quan điểm,
tình cảm, thái độ của tác giả đối với cách nhìn về cuộc sống và sự vật.
Lưu Quang Vũ là một nhà thơ trẻ trưởng thành trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ. Lưu Quang Vũ đã nhanh chóng tạo cho mình một giọng điệu riêng. Đó
là giọng điệu trẻ trung, trong sáng, tràn đầy niềm tin yêu vào cuộc sống trong thời kì
đầu, là giọng cay đắng xót xa trước những va vấp và những mất mát của bản thân.
Xuyên suốt các tác phẩm thơ là giọng đắm đuối nồng nàn. Với giọng điệu thơ độc
đáo đó, thơ Lưu Quang Vũ vừa mới xuất hiện đã thu hút được sự chú ý đặc biệt của
độc giả.
12
Chƣơng 2
GIỌNG ĐIỆU THƠ LƢU QUANG VŨ TRƢỚC NĂM 1975
2.1. Cơ sở hình thành giọng điệu
2.1.1. Bối cảnh lịch sử, văn hóa - xã hội
Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tuy đã
chế (chủ yếu tiếp xúc và chịu ảnh hưởng văn hóa các nước xã hội chủ nghĩa, cụ thể
là Liên Xô và Trung Quốc …).
Trong hoàn cảnh như vậy, văn học giai đoạn 1945 - 1975 vẫn phát triển và
đạt được nhiều thành tựu, đóng góp cho lịch sử văn học những giá trị riêng.
2.1.2. Yếu tố gia đình, quê hương và những kỉ niệm tuổi học trò
Lưu Quang Vũ mang nợ thơ từ trong huyết thống. Cha ông - Lưu Quang Thuận
sinh ông cùng lúc với thơ. Có thể nói, Lưu Quang Thuận là một tính cách thơ đằm
thắm, dạt dào và mặn mòi như biển Đà Nẵng quê ông. Ngay từ thuở mới lên năm,
lên sáu, nhà thơ Lưu Quang Thuận đã sớm phát hiện ra tâm hồn đa cảm, tài hoa của
đứa con trai đầu lòng và ông “đã tin chắc rằng sau này lớn lên con trai của mình sẽ
trở thành thi sĩ” [13]. Còn mẹ Lưu Quang Vũ là một phụ nữ tảo tần, đảm đang, giàu
lòng yêu thương và đức hi sinh. Bà đã để lại trong tâm trí nhà thơ những hình ảnh
ngọt ngào của tuổi thơ “mải chơi trốn học”, “những tối mẹ ngồi khâu lại áo”… Đó là
những kỉ niệm một thời không thể quên đã in dấu trong các sáng tác của Lưu Quang Vũ
sau này.
Hình thành nên diện mạo, tâm hồn thơ Lưu Quang Vũ còn có sự góp mặt của
vùng quê trung du Bắc Bộ - thôn Chu Hưng “ấm những ngày gian khổ khó quên
nhau”. Đúng vậy, quê hương từ xưa đến nay vốn là nguồn cảm hứng không bao giờ
vơi cạn trong thơ. Quê hương là nơi chôn nhau cắt rốn, là nơi thấm đượm biết bao kỉ
niệm, là nơi ta gửi gắm tình cảm sâu đậm. Chính ở nơi đây, Lưu Quang Vũ được sinh
ra trong mối tình nồng thắm của cha mẹ và sự yêu thương, bao bọc của làng xóm. Vì
thế cái tên Chu Hưng đi vào trong thơ Lưu Quang Vũ một cách rất giản dị tự nhiên
không chỉ như một địa danh, một nơi chôn nhau cắt rốn mà còn như nguồn cội sáng
tạo đời thơ Lưu Quang Vũ.
Và ngay từ thuở còn cắp sách tới trường, Lưu Quang Vũ đã là một cậu bé đa
cảm. Cậu học sinh lớp 9 họ Lưu từng rung động, xuyến xao trước một cô bạn nhỏ
mến thương:
“Suối nào mát bằng suối hồi còn bé
Vẫn tắm mùa hè xao động nắng trưa
sự xuất hiện của M.Bakhtin và các công trình khoa học nổi tiếng của ông, vấn đề
giọng điệu văn chương mới thật sự trở thành một đối tượng tự giác của khoa học
15
văn học. Cùng với sự lớn mạnh của thi pháp học hiện đại, việc nghiên cứu giọng
điệu như một hiện tượng nghệ thuật đã thu được nhiều thành tựu đáng ghi nhận.
Ngày nay, khi tìm hiểu một nhà văn hay một thời đại văn học, người ta không thể
không quan tâm đến giọng điệu với tư cách là một yếu tố then chốt tạo nên sự độc
đáo của nhà văn và thời đại văn học ấy. Trong văn học, giọng điệu thể hiện thái độ,
lập trường, cách nhìn nhận của chủ thể phát ngôn về đối tượng được nói đến và đối
tượng mà lời văn đó hướng tới.
Tìm hiểu giọng điệu trong tập thơ Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi của
Lưu Quang Vũ, chúng tôi nhận thấy giọng điệu chủ đạo được nhà thơ sử dụng trong
tập thơ đó là giọng “đắm đuối đến mê hoặc” khi viết về quê hương, đất nước và
những người thân yêu của anh.
Giọng điệu đó cũng là một đặc trưng mang tính thi pháp của thơ Lưu Quang
Vũ. Tâm hồn tươi trẻ với những khao khát mãnh liệt được gắn bó với cuộc đời đã
tạo nên trong thơ anh chất men nồng nàn, đắm say. Ngay từ những vần thơ đầu tay,
Lưu Quang Vũ đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc bởi những cảm xúc
tươi trong, tin cậy và đặc biệt bởi một giọng thơ rất đắm đuối.
Theo Vũ Quần Phương: “đắm đuối là một đặc điểm của suốt đời Lưu Quang Vũ”.
Vui hay buồn, tin cậy hay hoang mang… bao giờ anh cũng đắm đuối. Đặc điểm này
ít thấy ở các nhà thơ khác. Hình như từ sau cách mạng tháng Tám -1945, thơ Việt
Nam ta chuộng sự tỉnh táo, chắc khỏe, giàu chất liệu cụ thể của đời sống công nông
binh, các nhà thơ thường sử dụng bút pháp hiện thực. Thơ có ít mê hơn. Giọng thơ
còn mang nhiều sự đắm đuối, trong kháng chiến chống Pháp, có lẽ chỉ thấy ở
Nguyễn Đình Thi và Quang Dũng, ngay Xuân Diệu nổi tiếng về say đắm ở giai
đoạn trước, giờ đây cũng tỉnh táo nhiều. Vào những năm sáu mươi, một vài nhà thơ
đằm thắm, mà ông gọi giản dị đất Việt là Việt Nam, là Người - Một đất nước đau thương
mà anh dũng. Tình yêu nồng nàn với quê hương đất nước nên mỗi một vùng đất, mỗi
một miền quê anh đi qua đều để lại trong lòng nhà thơ những ấn tượng khó phai: “Ta đi
giữ nước yêu thương lắm/ Mỗi xóm thôn qua mỗi nghĩa tình” (Gửi tới các anh).
Trong cái cảm nhận của tuổi thơ, của một cậu bé lúc ấy mới 15 tuổi, quê
hương hiện lên mượt mà như những bức tranh thủy mặc, sinh động và mang tính
chất dân gian như tranh Đông Hồ. Rời xa thôn Chu Hưng đã 9 năm, nhà thơ bồi hồi
nhớ lại. Hình ảnh thôn Chu Hưng thật ấm nồng, tha thiết: “Ôi Chu Hưng đêm nằm
nghe suối đổ/ Nghe gió ngàn và tiếng hoẵng giữa rừng sâu/ Ôi Chu Hưng sắn vùi
trong bếp đỏ” (Thôn Chu Hưng).
17
Và “Con suối nhỏ xuyên rừng nơi ấy/ Là ngọn nguồn sông biển yêu thương”.
Những kí ức về quê hương, về sông Thao, về phố huyện dường như đã mang hơi
thở và lớn lên cùng Lưu Quang Vũ. Thiên nhiên tuổi thơ đầy ắp kỉ niệm. Nó là
nguồn cảm hứng cho cậu bé thi sĩ. Và đó cũng là tình cảm rất tha thiết trong thơ
Lưu Quang Vũ, tạo cho thơ ông một giọng điệu riêng, giọng “đắm đuối đến mê hoặc”.
Có những khi quê hương ấy là một Hải Phòng đầy yêu thương - nơi nhà thơ
dành nhiều tình cảm nhất: “Hải Phòng là một cái gì đó, không phải Hà Nội, nhưng sẵn
sàng chào đón người ta, khi người ta từ bỏ Hà Nội. Hải Phòng có cuộc sống của than
bụi, lại có biển, có trùng khơi, rất hợp với Vũ” [18, tr. 126].
Cũng như nhiều nhà thơ cùng thế hệ, những vần thơ đầu tay của Lưu Quang
Vũ là tiếng nói tha thiết quê hương và gửi trao tin cậy trước cuộc đời. Có khác
chăng, ở Lưu Quang Vũ, tiếng thơ ấy được cất lên với giọng tha thiết, sâu lắng hơn:
“Sao tên sông lại là Thương
Để cho lòng anh nhớ?”
(Qua sông Thương)
Phải yêu lắm cảnh sắc thiên nhiên đất nước mình, Lưu Quang Vũ mới viết nên
Thơ Lưu Quang Vũ dường như đã phá vỡ mọi qui luật, khuôn khổ, mọi định
dạng để dẫn người đọc bước vào một thế giới cảm xúc dâng trào. Thơ ông luôn chảy
theo dòng tình cảm tự nhiên. Câu thơ dài ngắn là theo cảm xúc, hình ảnh tự nhiên như
lời nói thường: “Cốc nước trên bàn/ Quyển sách gập giữa trang/ Tấm gương soi vào
khoảng trống/ Ngọn đèn soi vào gian phòng vắng/ Tấm áo em trên thành phố im lìm/
Chiếc thìa con, lát chanh mỏng úa vàng/ Vài sợi tóc đen/ Vương trên lược/ Những đồ
vật lung linh dấu vết/ Của dịu hiền thân thuộc ngón tay em” (Vắng em).
Hình ảnh cuộc sống hàng ngày hiện lên trong thơ Lưu Quang Vũ thật dịu dàng,
đầy cảm xúc kể cả với những việc rất bình thường như Cái máy nước đầu ngõ. Ta
cũng có thể bắt gặp những hình ảnh ấy trong thơ của Nguyễn Đình Thi khi cảm
nhận về cuộc sống hàng ngày: “Anh yêu em - vậy thôi - anh có em trong đời/ Em
niềm thương của anh, lo lắng của anh/ Dòng sông không bao giờ yên của anh”
(Trên con đường nhỏ).
Có những lúc thơ ông thủ thỉ, ân tình, có lúc dịu dàng. Đặc biệt những vần
thơ viết về tình yêu, với giai điệu lúc nào cũng tha thiết, nồng nàn. Bởi tình yêu như
một lẽ sống không thể thiếu đối với một hồn thơ Lưu Quang Vũ. Và nhà thơ cũng
19
quan niệm rằng: sự đầy đủ của cuộc đời con người là ở chỗ tìm thấy tình yêu, mặc
dù tình yêu ấy không ở lại cùng ta suốt cuộc đời.
Khi còn là cậu học sinh lớp 9, Lưu Quang Vũ đã là một cậu bé nhiều cảm
xúc, lắm mộng mơ với những rung động đầu đời thật nhẹ nhàng, trong sáng. Trong
bài thơ Tuổi thơ, ta bắt gặp một giọng điệu trẻ trung khi viết về cuộc sống với một
niềm tin yêu mãnh liệt:
“Hoa nào đẹp bằng hoa tuổi thơ
Ổi nào ngon bằng ổi năm xưa
Suối nào mát bằng suối hồi còn bé
Vẫn tắm mùa hè xao động nắng trưa