TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI
KHOA BẢO HIỂM
TIỂU LUẬN
MÔN HỌC: LÝ THUYẾT BẢO HIỂM XÃ HỘI
Đề tài: Anh chị hãy phân tích và làm sáng tỏ hoạt động bảo
hiểm xã hội là dịch vụ công phi lợi nhuận.
Sinh viên: Nguyễn Thị Thúy
Lớp:D9BH7
HÀ NỘI, 5 – 2015
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI
KHOA BẢO HIỂM
TIỂU LUẬN
MÔN HỌC: LÝ THUYẾT BẢO HIỂM XÃ HỘI
Đề tài: Anh chị hãy phân tích và làm sáng tỏ hoạt động bảo
hiểm xã hội là dịch vụ công phi lợi nhuận.
Sinh viên: Nguyễn Thị Thúy
Lớp:D9BH7
HÀ NỘI, 5 – 2015
2
KÝ HIỆU VÀ VIẾT TẮT
1.3.3 Đối với xã hội ……………………………………………………………..8
1.4 Các nội dung cơ bản của BHXH..................................................................9
1.4.1 Đối tượng tham gia BHXH………………………………………………..9
1.4.2 Các chế độ BHXH………………………………………………………...9
1.4.3 Tài chính BHXH………………………………………………………….10
1.4.4 Quản lý BHXH…………………………………………………………...11
1.5 Dịch vụ công phi lợi nhuận……………………………………………….11
Phần II: PHÂN TÍCH LÀM SÁNG TỎ HOẠT ĐỘNG BHXH LÀ DỊCH VỤ
CÔNG PHI LỢI NHUẬN…………………………………………………….12
2.1. Trong đời sống xã hội…………………………………………………….12
2.2 Hoạt động tài chính BHXH dựa trên nguyên tắc cân đối thu – chi…...13
2.2.1 Các chế độ ngắn hạn……………………………………………………13
2.2.2
Các chế độ dài hạn…………………………………………………….14
4
2.3
Các khoản lợi nhuận từ đầu tư quỹ BHXH cũng như trợ cấp từ
BHXH không phải đóng thuế……………………………………………….15
Phần III: LIÊN HỆ THỰC TẾ HOẠT ĐỘNG BHXH Ở VIỆT NAM….16
KẾT LUẬN.......................................................................................................21
TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................................21
PHỤ LỤC..........................................................................................................21
MỞ ĐẦU
Do kinh nghiệm và kiến thức còn chưa nhiều nên bài viết của em còn nhiều
thiếu sót nên em rất mong nhận được sự góp ý của thầy để rút kinh nghiệm
những lần sau. ( địa chỉ: )
NỘI DUNG
Phần I: TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ DỊCH VỤ CÔNG PHI
LỢI NHUẬN.
1.1
Khái niệm BHXH.
Luật BHXH được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 06 năm 2006 đã xác
định “ BHXH là sự đảm bảo tay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ
khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết.
Theo định nghĩa trên BHXH không bao hàm BHYT nhưng khi nghiên cứu
BHXH cần phải nghiên cứu BHYT.
1.2
Các nguyên tắc cơ bản của BHXH
- Mọi người đều có quyền tham gia và hưởng BHXH .
- Mức hưởng BHXH dựa trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng bảo hiểm và chia
sẻ cộng đồng.
- BHXH thực hiện dựa trên cơ sở số đông bù số ít.
- Nhà nước thống nhất quản lý BHXH.
7
giảm hậu quả rủi ro, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội.
Hiện nay, khi đã trở thành một cấu phần cơ bản nhất trong hệ thống an sinh
xã hội, BHXH là cơ sở để phát triển các bộ phận an sinh xã hội khác.
BHXH còn phản ánh trình độ phát triển kinh tế, xã hội của một quốc gia.
Hoạt động BHXH cũng góp phần vào việc huy động vốn đầu tư, làm cho thị
trường tài chính phong phú và kinh tế xã hội phát triển.
1.4 Các nội dung cơ bản của BHXH
1.4.1 Đối tượng tham gia BHXH
Trong BHXH, đối tượng tham gia chủ yếu là NLĐ và NSDLĐ. Người lao
động tham gia BHXH, đồng thời là người được hưởng bảo hiểm. Ngoài ra, thân
nhân của người tham gia BHXH cũng có thể được hưởng bảo hiểm trong một số
trường hợp nhất định, theo quy định của pháp luật. Nếu NLĐ tham gia quan hệ
lao động thuộc đối tượng BHXH bắt buộc thì NSDLĐ có nghĩa vụ phải tham gia
đóng phí bảo hiểm cho người lao động đó.
Ngoài ra để đảm bảo quyền lợi cho NLĐ ở khu vực phi kết cấu, Luật BHXH
đã quy định về hình thức BHXH tự nguyện.
1.4.2
Các chế độ BHXH
9
Các chế độ BHXH là hệ thống các quy định về mức hưởng của từng trường
hợp, điều kiện hưởng, mức hưởng và thời hạn hưởng cho người lao động khi họ
gặp phải những rủi ro thuộc từng phạm vi bảo hiểm. Tùy theo điều kiện, hệ
thống BHXH của mỗi nước có thể có các chế độ BHXH khác nhau trong số 9
chế độ mà Tổ chức Lao động quốc tế quy định. Hiện nay, pháp luật BHXH Việt
Nam quy định 5 chế độ: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp,
hưu trí và tử tuất.
Quản lý nghiệp vụ BHXH thường do các cơ quan thực hiện BHXH đảm
nhiệm. Ở Việt Nam, thiết lập một cơ quan BHXH thống nhất từ cấp trung ương
đến cấp địa phương để quản lý nghiệp vụ BHXH. Điều đó không những hỗ trợ
cho thị trường lao động có sự thống nhất mà còn có khả năng mở rộng phạm vi
bao phủ và thực hiện đồng bộ chính sách BHXH nói riêng và chính sách an sinh
xã hội nói chung. Theo mô hình này BHXH là cơ quan dịch vụ công, thuộc
Chính phủ, thực hiện pháp luật BHXH và quản lý, sử dụng quỹ BHXH theo quy
định.
1.5 Dịch vụ công phi lợi nhuận.
Dịch vụ công là những hoạt động phục vụ lợi ích chung, thiết yếu, các quyền
và nghĩa vụ cơ bản của của tổ chức và công dân do Nhà nước trực tiếp thực hiện
hoặc chuyển giao cho đơn vị ngoài Nhà nước thực hiện nhằm thực hiện mục tiêu
đảm bảo hiệu quả, công bằng, không nhằm mục tiêu lợi nhuận. Xét theo lĩnh vực
11
cung ứng dịch vụ thì dịch vụ công chia làm 3 loại: dịch vụ công trong lĩnh vực
sự nghiệp, dịch vụ hành chính công, dịch vụ công trong lĩnh vực công ích.
Phần II: PHÂN TÍCH LÀM SÁNG TỎ HOẠT ĐỘNG BHXH LÀ DỊCH VỤ
CÔNG PHI LỢI NHUẬN
2.1. Trong đời sống xã hội
Trong đời sống xã hội, BHXH được Nhà nước trực tiếp đứng ra quản lý hoặc
bàn giao cho các cơ quan thuộc Nhà nước đứng lên quản lý, thống nhất từ trung
ương đến cơ sở. Không có sự xuất hiện của bất kì một đơn vị kinh doanh bảo
hiểm nào như công ty, tập đoàn hay doanh nghiệp bảo hiểm.
Trong khi đó, BHTM với mục đích lợi nhuận thì việc kinh doanh bảo hiểm
được thực hiện bởi sự vận hành của thị trường bảo hiểm với sự tham gia của
nhiều chủ thể như : doanh nghiệp bảo hiểm, môi giới bảo hiểm, đại lý bảo hiểm.
Nhà nước xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện pháp Luật BHXH. Thanh
hiện hoạch toán riêng và cân đối thu – chi theo từng quỹ thành phần.
Phương thức cân đối thu – chi của các quỹ như sau.
2.2.1 Các chế độ ngắn hạn.
Cơ chế tài chính của các chế độ BHXH ngắn hạn là cơ chế thu đến đâu chi
đến đấy hoặc theo cơ chế đánh giá hàng năm.
13
Với cơ chế này, quỹ không có dự trữ. Các mức đóng góp của các chế độ được
xác định sao cho hàng năm, các mức đóng góp công thu nhập từ đầu tư tiền đóng
góp phải thỏa đáng để chi trả cho các chế độ và chi phí quản lý hàng năm
2.3.2
Các chế độ dài hạn
Các chế độ bảo hiểm dài hạn bao gồm hưu trí và tử tuất. Cơ chế tài chính đối
với chế độ dài hạn được phân thành 2 phương thức sau:
Đối với chương trình hưu trí có mức hưởng xác định.
-
+ Cơ chế thu đến đâu chi đến đó (chương trình PAYG thuần túy). Trong chương
trình này mức đóng sẽ được xác định sao cho một tập thể NLĐ sẽ đóng đủ mỗi
năm để chi trả lương hưu cho một tập thể người đang hưởng lương hưu của năm
đó với mức hưởng được xác định có sự tương quan với mức thu nhập trước đó.
+ Cơ chế bảo hiểm cân đối có mức thu nhập trước, một tỷ lệ đóng góp được thiết
lập sao cho qua một quãng thời gian quy định được cân đối ( ví dụ 10, 15, 20
năm) thu nhập do đóng góp, lãi suất từ quỹ dự trữ của hệ thống sẽ được thỏa
đáng chi phí cho các chế độ, chi phí hành chính. Tỷ lệ đóng góp được xác định
không phải đóng thuế.
Mặc dù, mục tiêu hoạt động của BHXH là phi lợi nhuận, nhưng để đảm bảo
chi trả cho người thụ hưởng không chỉ hiện tại mà còn tương lai, quỹ không
những phải bảo toàn giá trị mà còn phải tăng trưởng để đáp ứng yêu cầu này.Vì
vậy đầu tư quỹ BHXH chưa sử dụng là cần thiết, để tránh lãng phí nguồn lực,
đồng thời tăng thu, bảo toàn và phát triển quỹ BHXH. Lợi nhuận thu được từ các
hoạt động đầu tư quỹ BHXH phải được tiếp tục tái đầu tư và một phần bù đắp
những khoản tăng thêm của các chi phí BHXH
15
Nhà nước có những chính sách đầu tư và cơ chế giám sát đầu tư chặt chẽ
( quy định tỷ lệ được đầu tư, chỉ định lĩnh vực đầu tư, bảo hộ quy trình đầu tư…)
Đầu tư quỹ hầu như chỉ được giới hạn trong phạm vi mua trái phiếu, tín phiếu ,
công trái kho bạc nhà nước và ngân hàng thương mại quốc doanh, cho vay đối
với ngân sách nhà nước và quỹ đầu tư phát triển. Các hoạt động đầu tư này có rủi
ro thấp, mức lãi suất không cao. Nhà nước hỗ trợ tài chính cho quỹ BHXH trong
trường hợp quỹ bị thâm thủng vì những lý do bất khả kháng.
Hoạt động đầu tư quỹ BHXH cũng phải tuân thủ hài hòa 2 mục tiêu là lợi
nhuận và phục vụ cộng đồng.
Các dự án đầu tư quỹ BHXH không bị Nhà nước đánh thuế hoặc chịu thuế
thấp.
Các khoản thu nhập từ BHXH cũng không phải chịu thuế. Theo quy định
NLĐ có mức thu nhập trên 9 triệu đồng/ tháng là mức khởi điểm chịu thuế thu
nhập cá nhân. Tuy nhiên, đối với người được hưởng lương hưu hàng tháng do
BHXH chi trả theo Quy định luật BHXH, tiền lương hưu nhận được từ các sản
phẩm bảo hiểm hưu trí tự nguyện mà trên mức khởi điểm nộp thuế thu nhập cá
nhân vẫn không phải đóng thuế thu nhập cá nhân.
Phần III: LIÊN HỆ THỰC TẾ HOẠT ĐỘNG BHXH Ở VIỆT NAM
Tại Việt Nam, quản lý BHXH bao gồm hai nội dung cơ bản là quản lý Nhà
thực hiện các chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và quản lý Quỹ
bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế (gọi chung là bảo hiểm xã hội) trên địa bàn tỉnh.
17
3. Ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh là Bảo hiểm xã hội huyện, quận,
thị xã, thành phố trực thuộc Bảo hiểm xã hội tỉnh: chức năng giúp Giám đốc Bảo
hiểm xã hội tỉnh tổ chức thực hiện các chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội và
quản lý tài chính bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam sau 20 năm ngày thành lập, đến nay BHXH Việt
Nam đã phủ khắp 63 tỉnh và thành phố.
Đến hết năm 2014 đã có 11,37 triệu người tham gia BHXH bắt buộc, tăng
hơn 9 triệu người so với năm 1995 và tăng hơn 4,67 triệu người so với năm 2006
(năm đầu tiên thực hiện Luật BHXH); khoảng 64,8 triệu người người tham gia
BHYT; trên 9 triệu người tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
Hàng năm, BHXH Việt nam lập kế hoạch tài chính ( kế hoạch thu – chi, kế
hoạch đầu tư).
Quỹ BHXH bắt buộc, quỹ BHXH tự nguyện, quỹ bảo hiểm thất nghiệp, quỹ
BHYT được quản lý và sử dụng theo quy định của Luật BHXH, Luật BHYT và
các văn bản hướng dẫn; được hạch toán độc lập và cân đối thu – chi theo từng
quỹ.
BHXH Việt Nam luôn đảm bảo số thu hàng năm, giảm nợ đọng; chế độ,
chính sách BHXH, BHYT được giải quyết kịp thời, đúng quy định; việc quản lý
tài chính và chi trả chế độ BHXH, BHYT được thực hiện chặt chẽ, đảm bảo an
toàn, thuận tiện; quỹ BHYT tiếp tục được cân đối và có kết dư để dự phòng. Cụ
thể số thu và chi hàng năm của BHXH, BHYT như sau:
18
bội chi quỹ.
Quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; quỹ ốm đau thai sản do mức chi
-
hàng năm thấp ( khoảng 12%) nên đến năm 2050 quỹ này vẫn có kết dư.
Quỹ BHXH tự nguyện đến năm 2041 thì cân bằng thu chi, đến năm 2053 thì
-
bội chi.
Quỹ bảo hiểm thất nghiệp dự báo đến 2020 số thu bằng số chi, đến năm 2021
mất cân đối thu – chi trong năm, nhưng quỹ vẫn tồn tại đến năm 2050. Như
vậy dự báo đến 2050 quỹ bảo hiểm thất nghiệp vẫn tự cân đối được.
Tại Việt Nam, cơ chế đầu tư quỹ BHXH chịu sự giám sát chặt chẽ của Nhà
nước. Cụ thể Nhà nước quy định tỷ lệ được đầu tư, chỉ định lĩnh vực đầu tư, bảo
hộ quy trình đầu tư…
Hội đồng quản lý BHXH Việt Nam quy định việc đầu tư theo các hình thức
sau đây:
19
-
Mua trái phiếu, tín phiếu, công trái của Nhà nước, của Ngân hàng thương
-
của quỹ là 369.529,3 tỉ đồng.
Nhìn chung, hoạt động đầu tư quỹ BHXH đảm bảo đúng quy định, an toàn
và có khả năng thu hồi được khi cần thiết. Tuy nhiên, công tác đầu tư quỹ bảo
hiểm xã hội trong thời gian vừa qua chưa thật hiệu quả, quỹ bảo hiểm xã hội
chưa bảo toàn được giá trị: Lãi thu được từ hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ
BHXH thấp hơn chỉ số lạm phát.
KẾT LUẬN
Với bản chất mang tính xã hội, nhằm giải quyết các nhu cầu xã hội, không
nhằm mục đích kinh doanh; luôn luôn nhắm vào đối tượng quan trọng nhất của
20
xã hội là lực lượng lao động; BHXH đã hoạt động để mang lại lợi ích cho NLĐ,
NSDLĐ và toàn bộ nền kinh tế. Và với phân tích ở trên đã minh chứng, hoạt
động BHXH phải và đang là dịch vụ công phi lợi nhuận.
Qua bài tiểu luận này, em đã nhìn ra được bản chất của BHXH, từ đó có
những định hướng cho việc học tập, nghiên cứu sau này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Luật Bảo hiểm xã hội và các văn bản hướng dẫn thi hành, NXB Tài chính,
2.
2007.
Giáo trình Bảo hiểm xã hội, Giáo trình Bảo hiểm xã hội, Trường đại học
Lao động – Xã hội, NXB Lao động – Xã hội.
PHỤ LỤC