Nghiên cứu khoa học
T- hiến phủ (v-ơng triều triều tiên) trong sự đối sánh
với Ngự sử đài (v-ơng triều hậu lê)
phan ngọc huyền*
Túm tt: Trong h thng cỏc c quan thanh tra giỏm sỏt quan li thi phong kin, T hin
ph (vng triu Triu Tiờn) v Ng s i (vng triu Hu Lờ) cú nhiu im tng ng t
v trớ, quyn hn, chc trỏch, c cu t chc cho n c nhng úng gúp, hn ch trong quỏ
trỡnh hot ng ca nú vi t cỏch l mt c quan giỏm sỏt c lp trong b mỏy hnh chớnh
quc gia. Tuy nhiờn, do c thự ca mi nc khỏc nhau, hai c quan ny cng cú s khỏc bit
nht nh v s lng, tờn gi v phm trt ca cỏc chc quan. Bi vit ny l s kho cu
bc u v T hin ph ca vng triu Triu Tiờn t trong s i sỏnh vi Ng s i ca
vng triu Hu Lờ. Thụng qua vic so sỏnh v c cu t chc, chc nng, quyn hn v mt
s úng gúp, hn ch ca hai c quan ny, bi vit mong mun t c s cho nghiờn cu sõu
hn v h thng thanh tra giỏm sỏt quan li núi riờng v quan ch trong lch s trung i Vit
Hn núi chung, gúp phn y mnh hn na vic nghiờn cu v Hn Quc hc Vit Nam.
T khúa: T hin ph, Ng s i, Vng triu Triu Tiờn, Vng triu Hu Lờ, Thanh
tra giỏm sỏt
rong lch s trung i, t chc b
mỏy nh nc ca Vit Nam v
*
Hn Quc u gn vi mụ hỡnh quõn ch
chuyờn ch trung ng tp quyn. V quan
ch, hai quc gia cú nhiu im tng ng
song cng cú nhng nột c thự riờng, dự
cựng chu nh hng t mụ hỡnh quan ch
ca Trung Quc. T gúc nhỡn v h thng
thanh tra, giỏm sỏt quan li thi phong kin
ca Vit Nam v Hn Quc, bi vit ny
chn i tng kho cu l T hin ph
thuc giai on u ca vng triu Triu
1
76 13, ã (Cao Ly s,
quyn 76, chớ th 13, Bỏch quan nht. T hin ph).
69
Nghiªn cøu khoa häc
chức ngạch của các quan văn võ. Theo đó,
đứng đầu Tư hiến phủ là Đại tư hiến (hàm
Tòng nhị phẩm), dưới đó là các chức Trung
thừa, Kiêm Trung thừa (hàm Tòng tam phẩm)
mỗi chức một người, thị sử (hàm Chánh tứ
phẩm, 2 người), Tạp đoan (hàm Chánh ngũ
phẩm, 2 người), Giám sát (hàm Chánh lục
phẩm, 20 người), Thư lại (Hàm thất phẩm, 6
người)2…
Những sự kiện trên cho thấy, Tư hiến phủ
có nguồn gốc từ Tư hiến đài và phải trải qua
nhiều lần đổi tên khác nhau như Ngự sử đài,
Kim ngô đài, Giám sát tư…, mới chính thức
có tên gọi là Tư hiến phủ từ cuối thế kỉ XIII
dưới vương triều Cao Ly và được hoàn thiện
hơn về tổ chức vào cuối thế kỉ XIV dưới
vương triều Triều Tiên.
Khác với việc thay đổi tên gọi nhiều lần
của cơ quan giám sát cao nhất dưới vương
triều Triều Tiên, Ngự sử đài dưới triều Hậu
ngự sử (hàm Chánh tam phẩm), dưới là Phó
Đô ngự sử (hàm Chánh tứ phẩm) và Thiêm
Đô ngự sử (hàm Chánh ngũ phẩm) mỗi chức
1 người. Giúp việc trong Ngự sử đài còn có
các chức Đề hình Giám sát ngự sử (hàm
Chánh thất phẩm, 1 người), Giám sát ngự sử
13 đạo (hàm Chánh thất phẩm, tổng cộng 26
người), Chiếu ma (hàm Tòng bát phẩm, 1
người) và Ngục thừa Sở án ngục Ngự sử đài
(hàm Chánh cửu phẩm, 1 người)4. Trải qua
thời gian, số lượng các chức quan có thay đổi
ít nhiều nhưng riêng tên gọi cơ quan thì được
giữ nguyên cho đến hết thời Hậu Lê (cuối thế
kỉ XVIII). Phải đến đầu thế kỉ XIX, khi
vương triều Nguyễn được xác lập, Ngự sử đài
mới được đổi tên thành Đô sát viện.
Nhìn vào cơ cấu tổ chức, không khó để
nhận thấy tên gọi, số lượng và phẩm trật của
các quan viên trong Tư hiến phủ (vương triều
Triều Tiên) và Ngự sử đài (vương triều Hậu
Lê) có sự khác nhau. Sự khác nhau này không
chỉ giữa Việt Nam và Hàn Quốc mà đặt trong
so sánh với Đô sát viện nhà Minh của Trung
Quốc cũng có nét khác biệt. Điều này thể hiện
rõ qua bảng so sánh dưới đây:
4
Theo Thiên Nam dư hạ tập (Tập X, Phần Quan chế), in
trong: Nguyễn Ngọc Nhuận (Chủ biên, 2006), Một số văn bản
01
02
02
20
06
01
01
01
02
26
01
01
Chánh nhị phẩm
Chánh tam phẩm
Chánh tứ phẩm
Chánh lục phẩm
Chánh thất phẩm
Tòng cửu phẩm
Chánh bát phẩm
Chánh cửu phẩm
Tòng cửu phẩm
Chánh thất phẩm
02
02
02
01
01
02
Kinh lịch
Đô sát viện
Đô sự
(Vương triều
Tư vụ
nhà Minh)
Chiếu ma
Kiểm hiệu
Tư ngục tư
Thập tam đạo Giám sát ngự sử
Nguồn: Tổng hợp từ Thiên Nam dư hạ tập, Triều Tiên thực lục và Minh sử
Bảng thống kê trên cho thấy, ngoài sự
khác nhau về tên gọi các chức quan, phẩm
trật của trưởng quan và thuộc viên ở Tư hiến
phủ và Ngự sử đài có sự chênh lệch thường
là một bậc (Đại tư hiến hàm Tòng nhị phẩm
trong khi Đô ngự sử hàm Chánh tam phẩm.
Phẩm trật của cả hai chức quan đứng đầu
này nếu so với hàm Chánh nhị phẩm của
trưởng quan Đô sát viện đầu thời Minh thì
cũng thấp hơn từ 1 đến 2 bậc). Riêng về số
lượng biên chế thì cả hai cơ quan này về cơ
Nghiªn cøu ®«ng b¾c ¸, sè 7(161) 7-2014
bản tương đương nhau (khoảng 30 người).
Con số này so với số lượng biên chế của Đô
sát viện nhà Minh thì thấp hơn nhiều vì nhà
Minh ngoài Đô sát viện ở kinh đô còn có Đô
sát viện ở Nam Kinh, nếu tính con số tương
thi cuc, un nn v chnh n phong tc,
lm nhim v n hc v giỏm sỏt [quan li
tỏc gi chỳ]7.
Nhỡn vo chc nhim ca T hin ph,
khi so sỏnh vi Ng s i thi Lờ thỡ c bn
khụng khỏc gỡ nhau. Lch triu hin chng
loi chớ ó vit v quyn hn ca Ng s i
nh sau: n hc cỏc quan, núi bn v
chớnh s hin thi. Phm cỏc quan lm trỏi
phộp, chớnh s hin thi cú thiu sút, u
c xột hc trỡnh by, cựng l xột bn v
thnh tớch ca cỏc nha mụn lnh, Ph
doón, Trn th, Lu th, Tha ty v xột hi
cỏc v kin v ngi quyn quý kinh c hip,
v ngi cai qun h lm8.
ã 1613 (Kinh quc i
in, phn li in; bn khc in lu ti s kh Thỏi Bch
Sn nm 1613).
6
T nhng ghi chộp trong i Vit s kớ
ton th, i Vit s kớ tc biờn hay Triu
Tiờn thc lc, cú th hỡnh dung c th hn
nhng chc trỏch v quyn hn chớnh ca c
T hin ph v Ng s i nh sau:
2.1. T vn, gúp ý cho vua sa sang
chớnh lnh
Tn sut cỏc s kin cỏc quan viờn thuc
T hin ph dõng s lờn Quc vng Triu
Tiờn khuyờn can nh vua lm sao gi
Phan Huy Chỳ (2008), Lch triu hin chng loi chớ,
Sd, tr. 585.
72
, (Triu Tiờn Lý triu
thc lc, Thỏi T nguyờn niờn thu, tht nguyt).
9
Nghiên cứu đông bắc á, số 7(161) 7-2014
Nghiªn cøu khoa häc
mới, giữ nguyên phép thu cống cũ để tăng
thêm chữ tín của Điện hạ với dân, và cũng để
dân có thêm chữ tín ở Điện hạ”10.
Những dẫn chứng trên chứng minh chức
trách rất quan trọng của Tư hiến phủ trong
việc đưa ra những góp ý giúp vua sửa sang
chính lệnh, kịp thời điều chỉnh những việc
làm chưa hợp lí trong quá trình cai trị đất
nước.
Chức trách này cũng được phát huy tương
tự đối với các quan viên thuộc Ngự sử đài
dưới triều Hậu Lê. Ngay từ thời Lê Thái Tổ,
nhà vua đã cho phép các quan viên thuộc
Ngự sử đài được phép tấu bày, góp ý nếu
“thấy trẫm có chính lệnh hà khắc, thuế má
nặng nề, hại cho lương dân, thưởng công
phạt tội không đúng, không theo phép
bản thân nhà vua nói riêng và việc triều
chính nói chung có điều gì thiếu sót. Tháng
giêng năm 1435, nhận thấy vua Lê Thái
Tông có phần mải chơi, chưa chăm chỉ học
hành, phong thái thiết triều chưa nghiêm
chỉnh, các ngôn quan ở Ngự sử đài đã chỉ ra
6 điều không nên của nhà vua và khuyên vua
nên “lấy dung nghi nghiêm chỉnh của thiên tử
mà kính người đại thần, chọn người có công,
nghe lời can thẳng”14.
Những lời tâu của các quan thuộc Tư hiến
phủ (vương triều Triều Tiên) và Ngự sử đài
(vương triều Hậu Lê) có thể được vua nghe
theo, cũng có thể không nghe theo song đều
chứng tỏ tinh thần tận tâm phụng sự, dám
nói thẳng, giúp cho các bậc quân vương
nhận ra hạn chế của mình để tu thân, trị
quốc.
2.2. Chấn chỉnh phong hóa, pháp độ của
triều đình
Các quan lại ở cả Tư hiến phủ và Ngự sử
đài đều được sử chép là quan phong hiến
(chỉ người giữ gìn kỉ cương, phong hóa,
pháp độ của triều đình). Với chức trách ấy,
quan lại ở cả hai cơ quan này trước hết phải
là người sống liêm trực, gương mẫu, đảm
bảo cho trật tự, kỉ cương và phong tục trong
triều đình, ngoài dân gian được giữ nghiêm.
Các quan viên ở Tư hiến phủ dưới vương
triều Triều Tiên đã chú ý giám sát tất cả
không được thuần hậu vậy”16.
Những lời tâu trên của các quan viên ở Tư
hiến phủ cho thấy nỗ lực của họ trong việc
giúp vua giữ nghiêm kỉ cương triều chính,
giữ gìn phong tục tốt đẹp trong thiên hạ.
Dưới thời Hậu Lê, Ngử sử đài cũng nhiều
lần dâng sớ tư vấn cho vua các biện pháp giữ
gìn phong hóa, pháp độ của triều đình. Với
hàng ngũ quan lại các cấp, bất kì ai có biểu
hiện tỏ ý coi thường phép nước, làm bại hoại
quốc tục, gia phong, Ngự sử đài đều dâng sớ
hạch tội. Đại Việt sử kí toàn thư có chép lại
sự kiện tháng 12 năm 1434 đời vua Lê Thái
Tông như sau: Ngôn quan là Phan Thiên
Tước dâng sớ hặc tội Tiền tổng quản Lê Thụ
về các việc: đang có quốc tang mà lấy vợ,
“朝鲜李朝实录”, 太祖三年六月壬辰 (Triều Tiên Lý
triều thực lục, ngày Nhâm Thìn tháng sáu năm thứ ba đời
vua Thái Tổ).
15
“鲜李朝实录”, 定宗二年十二月 (Triều Tiên Lý triều
thực lục, Định Tông nhị niên thập nhị nguyệt).
16
74
làm nhà cửa to, sai người nhà ra cõi ngoài
mua bán riêng với người nước ngoài. Một ví
dụ khác: tháng Giêng năm 1449 thời vua Lê
những hành vi phạm pháp của quan lại các
nha môn.
17
Ngô Sỹ Liên và các sử thần Hậu Lê (2004), Đại Việt sử
ký toàn thư, Sđd,, tr. 138, 209.
Nghiªn cøu ®«ng b¾c ¸, sè 7(161) 7-2014
Nghiên cứu khoa học
Vớ d, Triu Tiờn Thỏi T nguyờn niờn
(1392), mựa thu thỏng 7 ngy t T, T hin
ph ó dõng s hch ti Vng Khang
Thng i th sỏt tam o, nhng nhiu gõy
thúi t18
Cng thi Thỏi T, do cú hin tng quan
li i kinh lớ t ý thay i giỏ c ti vt t
tỳi nờn T hin ph ó kp thi dõng s hch
ti. Thỏng 8 nm Triu Tiờn Thỏi T nm
th 2 (1393), T hin ph li hch ti Trung
khu vin Phú s C Thnh Lóo cựng ngi
ng cp l Triu Bn i iu tra Liờu
ụng, t ý cho thay i giỏ nga tin v vi
on, nh vua bói chc ca Thnh Lóo19.
iu ỏng núi l cỏc quan T hin ph
u t ra ngay thng, cng trc trong vic
giỏm sỏt v hch ti quan li trong triu ỡnh,
ngay c khi ngi ú l i thn nm quyn
v cao trong triu ỡnh. Thỏng 2, nm Triu
hot ng ca quan li cỏc nha mụn, kp
thi phỏt hin cỏc hnh vi sai trỏi ca quan
li bỏo lờn nh vua. Thỏng 11 nm 1489
thi vua Lờ Thỏnh Tụng, triu ỡnh sai
hỡnh Giỏm sỏt ng s khỏm xột quan li
B Hỡnh, ngi no li bing gian tham,
tha hay hoón tự ti thỡ lm bn tõu lờn, theo
lut tr ti.
u thi Hu Lờ, tỡnh trng quan li lm
sai phỏp lut, lng quyn, kt bố ng khụng
phi l chuyn hi hu. Trong ú, tiờu biu
nht l trng hp ca t thn Lờ Sỏt. By
gi, Lờ Sỏt l quan i t , mi vic lm
u t rừ s lng quyn ca mỡnh. Hnh vi
ca Lờ Sỏt ó b thuc quan Ng s i l
inh Cnh An v Lờ Vnh Tớch hch ti rng:
Lờ Sỏt cú chiu mun chuyờn quyn, ti y
khú dung th c22. Li hc ca cỏc i
quan ó c vua phờ chun. Nm 1437, vua
Thỏi Tụng xung chiu bói b chc tc, sau
ú li bt Lờ Sỏt phi t t nh vi ti danh
cu kt bố ng, mu hi trung lng. Trong
19
, (Triu Tiờn Lý
triu thc lc, inh Tụng nh niờn, nh nguyt, t Hi).
20
Nghiên cứu đông bắc á, số 7(161) 7-2014
tượng tham ô cụ thể như vậy cho thấy các
Đài quan thời này đã khá tích cực trong việc
phát huy vai trò của mình trong các cơ quan
thanh tra, giám sát quan lại thời Hậu Lê.
Bên cạnh một số chức trách quan trọng
nêu trên, Tư hiến phủ dưới vương triều Triều
Tiên và Ngự sử đài dưới vương triều Hậu Lê
còn có chức trách và các nhiệm vụ kiêm
nhiệm khác như tham gia khảo xét thành tích
của quan lại để làm cơ sở thăng giáng, công
đồng thẩm xét các vụ hình án quan trọng…
Trong khuôn khổ bài viết này, các nhiệm vụ
đó không đi sâu phân tích.
3. Đóng góp và hạn chế
3.1. Đóng góp
Tư hiến phủ, Ngự sử đài là bộ phận quan
trọng bậc nhất trong số các cơ quan có chức
năng thanh tra, giám sát quan lại để giữ gìn
trật tự, kỉ cương triều chính dưới vương triều
Triều Tiên và vương triều Hậu Lê.
Với trách nhiệm là chức quan “giữ lời
nói” (ngôn quan), các quan lại thuộc Tư hiến
phủ và Ngự sử đài đã hết lòng can gián và tư
vấn cho vua trong điều hành chính sự, bất
chấp cả nguy cơ bị cách chức hay xử tội vì
dám dâng lời nói thẳng. Nhờ hết lòng can
gián với vua mà ít nhiều, một số chính lệnh
chưa đúng của triều đình đã được thu lại,
bản thân nhà vua cũng nhờ đó mà tự thấy
76
“鲜李朝实录”, 定宗二年十一月 (Triều Tiên Lý triều
thực lục, Đinh Tông nhị niên thập nhất nguyệt).
Nghiªn cøu ®«ng b¾c ¸, sè 7(161) 7-2014
Nghiªn cøu khoa häc
cương triều chính của hai vương triều được
duy trì ổn định. Không ít người trong số các
thuộc quan ở Tư hiến phủ và Ngự sử đài đã
được sử cũ ghi lại như là những tấm gương
sáng về sự chính trực, ngay thẳng, không e nể
quyền thế, thậm chí còn chấp nhận đánh đổi
cả con đường hoạn lộ cũng như sinh mạng
của bản thân để làm tròn chức trách của
mình.
Triều Tiên thực lục chép lại câu chuyện về
quan Đại tư hiến Lý Thư - người đứng đầu
Tư hiến phủ thời Triều Tiên Thái Tổ cầm
quyền. Lý Thư vốn là người “khẳng khái, có
khí tiết, luôn dùng lời nói thẳng. Mỗi khi được
triệu nhập đối chất, hoàn toàn không dùng lời
nịnh bợ” 25.
Tương tự, Đại Việt sử ký toàn thư cũng chép
sự kiện tháng 11 năm 1437, vua Lê Thái Tông
cho Trần Hiển giữ chức Thị ngự sử vì “Hiển
không nể người quyền thế, có thể làm chức
(vương triều Hậu Lê) vẫn còn những viên
quan chưa làm hết chức trách của mình.
Trong thành phần nhân sự của Tư hiến
phủ, có người mẫn cán, cũng có kẻ tắc trách,
bị các cơ quan khác phản ánh, hạch tội
ngược trở lại vì tội tắc trách trong công việc.
Năm Định Tông thứ 2 (1399): “Môn hạ phủ
hạch tội Tư hiến Tạp đoan là Mẫn Công Sinh.
Trước có việc Trương Tư Tĩnh giết người
thiếp của Nam Cung Thứ, con của người bị
hại mới kêu oan lên Hiến phủ. Công Sinh lấy
cớ nhân chứng chưa đủ, không thụ lí nên bị
Lang Xá [tên gọi khác của Tư gián viện– tác
giả chú] hạch tội”28. Ngoài thái độ tắc trách,
quan liêu trong công việc, một số viên quan
thuộc Tư hiến phủ tuy giữ trọng trách là
người giữ nghiêm phép nước, nhưng bản
thân lại có những hành vi không chuẩn mực,
gây ảnh hưởng xấu đến kỉ cương, phong hóa
của triều đình. Năm Triều Tiên Thái Tông
nguyên niên (1401), quan Đại tư hiến Lý
Nguyên phạm tội đêm muộn mới về nhà, bị
Tuần quan hộ quân bắt giải rồi mới tha cho.
Các quan ở Tư gián viện biết chuyện đã
dâng sớ hạch tội: “Đại tư hiến Lý Nguyên là
người đứng đầu cơ quan giữ cương kỉ, mọi
việc xuất nhập động tĩnh, không thể cẩu thả”.
Sau vụ việc này, Lý Nguyên đã bị bãi chức
“朝鲜李朝实录”, 定宗元年九月辛未 (Triều Tiên Lý
triều thực lục, Đinh Tông nguyên niên, cửu nguyệt, Tân
bừa bãi, Ngự sử quan là Đồng Hanh Phát
trước còn đem việc ấy tâu lên, nhưng sau
thấy Lê Thụ vẫn chứng nào tật ấy thì lại
“không đề cập đến việc đó nữa, rồi lại đem đồ
lễ đến nhà Lê Thụ và nói xin lỗi!”31. Trường
hợp khác cũng xảy ra vào thời Lê Nhân
Tông: Con trai Đại đô đốc Lê Khuyển là Lê
Quán Chi ban đêm họp nhau đánh giết người
ở giữa kinh đô. Vụ việc bị phát giác, Quán
“朝鲜李朝实录”, 太宗元年九月 (Triều Tiên Lý triều
thực lục, Thái Tông nguyên niên, cửu nguyệt).
30
Ngô Sỹ Liên và các sử thần Hậu Lê (2004), Đại Việt sử
ký toàn thư, Sđd, tr.194, 201.
31
Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử
thông giám cương mục, Sđd, tr. 451.
Chi cùng hơn 10 người khác là nội quan và
con trai của những người có chức trách bị hạ
ngục. Khi án sắp xử xong thì Thái hậu can
thiệp, hạ lệnh tha cho Quán Chi và chỉ thu
tiền đền mạng. Trước hiện tượng đó, “các
quan trong Ngự sử đài là bọn Lê Lâm không
dám nói”32.
Ngoài ra, sử nhà Lê còn cho biết thêm một
số quan lại khác thuộc Ngử sử đài phạm tội cố
ý làm trái pháp luật như: Giám sát ngự sử
Quản Công Thiêm (phạm tội dung túng kẻ đưa
hối lộ), Đô ngự sử Trần Xác (phạm tội bảo cử
thông giám cương mụ Sđd, tr. 457.
33
Ngô Sỹ Liên và các sử thần Hậu Lê (2004), Đại Việt sử
ký toàn thư, Sđd, tr.276, 290.
Nghiªn cøu ®«ng b¾c ¸, sè 7(161) 7-2014
Nghiên cứu khoa học
s phõn cụng phõn nhim khi t trong mi
quan h vi cỏc c quan khỏc. S khỏc bit
v tờn gi cỏc chc quan v c quan trc
thuc T hin ph v Ng s i cho phộp
ngh rng, cựng l nh hng t mụ hỡnh
quan ch Trung Quc nhng vng triu
Triu Tiờn ch yu nh hng t t chc
quan ch ca nh ng v nh Tng trong
khi vng triu Hu Lờ, t sau ci cỏch ca
Lờ Thỏnh Tụng li nh hng ch yu t t
chc quan ch ca nh Minh. iu ny gi
cho chỳng ta ngh rng, nu t cp ụi T
hin ph v T giỏn vin ca vng triu
Triu Tiờn trong s i sỏnh vi Ng s i
v Lc khoa thi Hu Lờ thỡ s tng ng
v khỏc bit gia h thng thanh tra, giỏm
sỏt ca hai vng triu ny cũn th hin rừ
rt v cú chiu sõu hn. Mong mun ca bi
vit ny l gúp phn t c s cho nhng
nghiờn cu chuyờn sõu hn nh th./.
).
5. Ngụ S Liờn v cỏc s thn Hu Lờ (2004),
Nghiên cứu đông bắc á, số 7(161) 7-2014
79