Chính sách tiền tệ trong việc đối phó với lạm phát ở Việt Nam từ năm 2007 đến nay - Pdf 22

Mục lục
I.Cơ sở lí thuyết 3
1.Lạm phát 3
a.Khái niệm: 3
b.Thước đo lạm phát: 3
2.Tiền tệ và lạm phát 4
3.Chính sách tiền tệ trong việc đối phó với lạm phát: 4
a.Khái niệm CSTT: 4
b.Các công cụ của CSTT: 4
II.Thực trạng lạm phát Việt Nam từ năm 2007 đến nay 5
1.Diễn biến: 5
a.Giai đoạn 2007-2008: lạm phát tăng cao 5
b.Năm 2009: diễn biến lạm phát khá trầm lắng 7
c.Từ năm 2010 đến nay: diễn biến bất thường 8
2.Nguyên nhân: 9
III.Vai trò của CSTT trong việc đối phó với lạm phát của Việt Nam từ
2007 đến nay 11
1.Thực trạng sử dụng chính sách tiền tệ để kiềm chế lạm phát của Việt Nam
từ 2007 đến nay: 11
a.Giai đoạn thắt chặt CSTT từ năm 2007-2008 11
b.Giai đoạn nới lỏng CSTT cuối năm 2008 đến tháng 10/2010: 14
c.Giai đoạn thắt chặt từ cuối năm 2010 - đầu 2011: 15
2.Đánh giá CSTT của việt Nam trong việc đối phó với lạm phát giai đoạn 2007
đến nay 17
3.Đề xuất: 18
MỞ ĐẦU
Lạm phát luôn là vấn đề kinh tế vĩ mô được quan tâm hàng đầu ở mỗi quốc gia.
Hiện nay, ở Việt Nam, sự gia tăng liên tục về giá của các mặt hàng thiết yếu như
xăng, gas, điện…đã có ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống.
“Lạm phát bao giờ và ở đâu cũng là bản chất của tiền tệ”,vì vậy chính sách tiền
tệ là một trong những chìa khóa hữu hiệu nhằm kiểm soát và giải quyết vấn đề lạm

i
0
i
t
i


=
Trong đó: CPI
t
là chỉ số giá tiêu dùng trong thời kỳ t
P
i
là giá mặt hàng tiêu dùng thứ i/nhóm hàng i
Q
i
là lượng hàng tiêu dùng thứ i/nhóm hàng i
Chỉ số điều chỉnh GDP:
Chỉ số so sánh giữa GDP danh nghĩa và GDP thực tế để thấy sự biến động
của giá cả hàng hóa sản xuất trong nước.
Chỉ số điều chỉnh
100*
QP
QP
100*
GDP
GDP
GDP
t
i




(%)
Trong đó: P
t
là chỉ số giá của thời kỳ t
P
t-1
là chỉ số giá của thời kỳ (t-1)
(Có thể tính theo CPI hoặc chỉ số điều chỉnh GDP)
3
2. Tiền tệ và lạm phát
Phương trình số lượng: MV=PY
M: cung tiền V: tốc độ chu chuyển tiền tệ
Y: sản lượng P: giá của 1 đơn vị sản lượng
MS=m.B B: cơ sở tiền tệ gồm tiền mặt ngoài ngân hàng và tiền dự trữ
m=(cr+1)/(cr+rr)
cr: tỉ lệ tiền mặt ngoài ngân hàng so với tiền gửi
rr: tỉ lệ dự trữ thực tế = dự trữ bắt buộc + dự trữ dôi ra
Lạm phát xảy ra khi lượng tiền cung ứng M tăng nhanh hơn sản lượng Y.
3. Chính sách tiền tệ trong việc đối phó với lạm phát:
a. Khái niệm CSTT:
CSTT là chính sách kinh tế vĩ mô mà NHTW sử dụng để làm thay đổi lượng
tiền cung ứng nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế đã đề ra từ trước.
Phân loại: CSTT mở rộng và CSTT thắt chặt.
b. Các công cụ của CSTT:
- Tỉ lệ dự trữ bắt buộc
- Thị trường mở
- Lãi suất

kì, thường tăng mạnh vào các tháng cuối năm và đầu năm do nhu cầu mua sắm Tết.
Tuy nhiên những năm gần đây mức biến động ngày càng mạnh và CPI trong năm
2008, đầu năm 2009, những tháng đầu năm 2011 đã phá vỡ quy luật đó.
a. Giai đoạn 2007-2008: lạm phát tăng cao
CPI bắt đầu tăng mạnh vào 2 quý cuối năm 2007. Chỉ số giá tăng trung bình
khoảng 1,14%/tháng. Việc tăng chỉ số giá mạnh vào cuối năm 2007 đã đẩy CPI năm
này lên 12,63%, trong đó nhóm lương thực thực phẩm có mức tăng cao nhất. Lạm
phát năm 2007 vượt xa mức 8,5% mà Quốc hội đã đề ra.
5
Nguồn: Tổng cục thống kê
Tiếp tục đà tăng từ cuối năm 2007, mức tăng CPI liên tục đạt trên 2% từ tháng
12/2007 đến tháng 6/2008.
Chỉ số lạm phát tháng 2/2008 lên tới 3,56% so với tháng 1/2008 và 15,7% so
với tháng 2/2007, mức tăng cao nhất trong hơn 12 năm và cũng là tỉ lệ cao nhất tại
khu vực Đông Nam Á trong khi đó lạm phát ở Trung Quốc chỉ ở mức 7,1 % và
Indonesia là 7,4 %.
Đến tháng 3/2008, lạm phát đạt 9,19% so với tháng 12/2007 đã vượt qua mức
theo mục tiêu đã đề ra cho cả năm 2008 là thấp hơn tốc độ tăng trưởng GDP (8,5%
-9%).
6
Tháng 5/2008, CPI đạt mức tăng cao kỉ lục 3,91%, CPI tăng 25,2% so với
tháng 5/2007.
Tháng 6/2008, CPI tăng 2,14% so với tháng 5, là mức tăng thấp nhất tính từ
đầu năm. Trong 6 tháng đầu năm, bình quân chỉ số CPI tăng 2,86%/tháng.
CPI bắt đầu có xu hướng giảm tăng nóng từ tháng 7/2008. Mức tăng CPI tháng
9 giảm xuống còn 0,18% so với tháng trước và đạt âm trong cả 3 tháng quý
IV/2008, lần lượt là -0,19%, -0,76%, -0,68%.
Lạm phát năm 2008 đạt mức cao nhất trong vòng 10 năm trở lại, đồng thời
cũng là năm có diễn biến khó lường, vượt qua quy luật thông thường. CPI tăng cao
liên tục trong cả 2 quý đầu năm, sau đó lại giảm liên tục trong quý IV.

Cuối năm 2010, lạm phát cán đích ở mức 11,75% so với tháng 12/2009 với
mức tăng cao nhất thuộc nhóm giáo dục (19,38%), ăn uống (16,18%), nhà ở và vật
8
liệu xây dựng (15,74%). Đây đều là những nhóm hàng thiết yếu, ảnh hưởng trực tiếp
đến đời sống, sinh hoạt của người dân.
Chỉ số giá tiêu dùng trong 4 tháng đầu năm 2011 hình thành xu hướng tăng dần
qua các tháng. CPI tháng 1 tăng 1,74%. Mức tăng CPI tháng 2/2011 đã vượt quá
mốc 2% đạt 2,09%, tháng 3/2011 đạt 2,17%, và đến tháng 4 thì mức tăng CPI là
3,32%, cao nhất trong khoảng 3 năm trở lại đây (Trước đó, mức cao hơn thuộc
về tháng 5/2008).
Như vậy, tính đến tháng 4/2011, chỉ số giá tiêu dùng đã tăng 9,64% so với
tháng 12/2010, vượt xa mục tiêu 7% đặt ra hồi đầu năm và đã ở rất gần mức 2 con
số. CPI bình quân 4 tháng đầu năm cũng đã tăng 13,95% so với cùng kì.
Đáng chú ý là, CPI tháng 3/2011 xuất hiện sự bất thường so với nhiều năm
trước đây. Tính từ năm 1995 đến nay, chưa có năm nào chỉ số giá tiêu dùng tháng 3
tăng cao hơn tháng 2, xét trong mức so sánh với tháng trước đó. Thêm vào đó, CPI
tháng 4 tiếp tục tăng rất mạnh, mức tăng cao nhất so với tháng 4 các năm kể từ
1995, cao hơn tới 1,12% so với tháng về nhì (4/2008). Một số chuyên gia cho rằng
đây vẫn chưa là đỉnh của lạm phát năm nay.
2. Nguyên nhân:
Lạm phát ở Việt Nam là do sự tác động tổ hợp của cả ba dạng thức lạm phát: lạm
phát tiền tệ (đây là dạng thức chủ yếu) lạm phát cầu kéo và lạm phát chi phí đẩy.
Lạm phát tiền tệ: Đây là dạng thức lạm phát lộ diện khá rõ. Năm 2007, Việt
Nam chính thức gia nhập WTO, dòng vốn nước ngoài đổ vào Việt Nam tăng
mạnh. Với việc tung một khối lượng lớn tiền đồng để mua ngoại tệ từ các nguồn
đổ vào nước ta (nhằm giữ tỉ giá), lượng tiền trong lưu thông đã tăng trên 30%,
hạn mức tín dụng cũng tăng cao, mức tăng 38%. Ấy là chưa kể sự tăng tín
dụng trong các năm trước đã tạo nên hiện tượng tích phát tác động đến năm
2007 và có thể cả những năm sau.
Lạm phát cầu kéo: Do đầu tư bao gồm đầu tư công và đầu tư của các doanh

đôi, gấp ba.
10
III. Vai trò của CSTT trong việc đối phó với lạm phát của Việt
Nam từ 2007 đến nay
1. Thực trạng sử dụng chính sách tiền tệ để kiềm chế lạm phát của Việt
Nam từ 2007 đến nay:
CSTT từ 2007-nay có thể chia làm 3 giai đoạn:
- Giai đoạn thắt chặt từ 2007- 2008
- Giai đoạn nới lỏng cuối 2008- 10/2010
- Giai đoạn thắt chặt từ cuối 2010- đầu 2011
a. Giai đoạn thắt chặt CSTT từ năm 2007-2008
NHNN đã sử dụng đồng bộ các công cụ của CSTT như:
- Tăng mức dự trữ bắt buộc
- Tăng lãi suất
- Nghiệp vụ thị trường mở
i. Tăng mức DTBB
Việc tăng trưởng tín dụng quá nóng bắt đầu được nhìn nhận là nguyên nhân
dẫn đến lạm phát gia tăng.
Ngay lập tức Ngân hàng Nhà nước đã tìm đến những biện pháp hút tiền tư
lưu thông về => Tăng mức DTBB đối với tiền gửi VND dưới 12 tháng lên 10% (kể
từ ngày 01/06/2007) và 11% (kể từ tháng 3/2008).
Với quyết định này, các NHTM phải nộp dự trữ bắt buộc tăng thêm cho Ngân
hàng Nhà nước với số tiền tổng cộng là gần 20.000 tỷ đồng.
Biến động tỷ lệ dự trữ bắt buộc tiền gửi VNĐ ngắn hạn (%)
Nguồn: NHNN Việt Nam
11
ii. Tăng lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết
khấu kể từ ngày 1/2/2008
Cụ thể
- Lãi suất cơ bản từ 8,25% tăng lên 8,75%/năm;

cho tình hình thanh khoản của những ngân hàng lâm vào cảnh khó khăn, đặc biệt là
những ngân hàng nhỏ. Tình trạng thiếu thanh khoản của nhiều ngân hàng cổ phần
thậm chí ở trong tình trạng báo động, buộc họ phải đi vay trên thị trường liên ngân
hàng với lãi suất rất cao, có lúc lên đến 30%/năm đối các khoản vay qua đêm.
Chỉ trong vòng 1 tuần Ngân hàng Nhà nước lại bơm ra 33.000 tỷ đồng thông qua
nghiệp vụ thị trường mở (nơi mua bán các loại giấy tờ có giá như tín phiếu, trái
phiếu…) nhằm cứu nguy cho tình trạng thiếu thanh hoản của các ngân hàng thương
mại.
13
Kết cục là động thái này triệt tiêu tác dụng của việc hút tiền từ lưu thông về. Hệ
quả của những biện phát bất nhất này không những không làm lạm phát giảm mà
thậm chí còn tăng cao hơn trong tháng 4 và tháng 5. Theo Tổng cục Thống kê, giá
tiêu dùng tháng 5 tăng đến 3,91% so với tháng trước, cao nhất so với các tháng từ
đầu năm đến nay, đưa tốc độ tăng giá sau 5 tháng lên đến 15,96% so với tháng
12.2007.
b. Giai đoạn nới lỏng CSTT cuối năm 2008 đến tháng 10/2010:
Khủng hoảng tài chính quốc tế tác động tiêu cực đến nền kinh tế trong nước, áp
lực giảm phát xuất hiện. Để phục hồi kinh tế, NHNN đã thực hiện CSTT nới lỏng
theo hướng
i. Giảm các mức lãi suất
- Cuối 2008-2009 lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu giảm
từ 6-7%. Cụ thể:
Điều chỉnh giảm các mức lãi suất chủ đạo (lãi suất cơ bản giảm từ 13%/năm
xuống 7%/năm, lãi suất tái cấp vốn giảm từ 14%/năm xuống 7%/năm, lãi suất tái
chiết khấu giảm từ 12%/năm xuống 5%/năm).
- Đến tháng 10 năm 2010, lãi suất cơ bản và lãi suất tái cấp vốn ổn định ở mức
8%/năm. Lãi suất huy động và lãi suất cho vay đều giảm
=> tăng cường nguồn vốn huy động, đáp ứng nhu cầu mở rộng tín dụng cho
nền kinh tế
Lãi suất chủ đạo của NHNN Việt Nam năm 2008 và 2009

7% đã đột ngột tăng lên 12%.
• 31/3/2011:
· Lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cho vay qua đêm tăng lên là 13%
=> Khẳng định động thái thắt chặt tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước trong
năm 2011, nhằm siết chặt các nguồn vốn trên thị trường, tạo sức ép để các tổ chức
tín dụng giảm tăng trưởng
• 29/4/2011 (có hiệu lực từ ngày 1/5/2011):
16
· Lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện
tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt trong thanh toán bù trừ của NHNN
đối với các ngân hàng: 14,0%/ năm.
· Lãi suất tái chiết khấu: 13%
Ngoài ra, NHNN ra quy định về trần lãi suất huy động vốn bằng USD của tổ chức,
cá nhân tại tổ chức tín dụng lần lượt là 1%/năm và 3%/năm nhằm giảm tiền gửi
USD, khuyến khích các cá nhân bán USD cho ngân hàng và chuyển sang tiền gửi
VNĐ.
2. Đánh giá CSTT của việt Nam trong việc đối phó với lạm phát giai
đoạn 2007 đến nay
- Trước tháng 6/2007, chính sách tiền tệ được nới lỏng quá mức khiến cung tiền
trong lưu thông tăng vọt, trong khi mức độ mở rộng của chính sách tài khoá thấp
hơn nhiều so với chính sách tiền tệ khiến nền kinh tế không thể hấp thụ được nguồn
vốn lớn, hiệu quả đầu tư thấp, nhập khẩu lạm phát từ nước ngoài.
- Cuối năm 2007, đầu năm 2008, thực hiện CSTT thắt chặt mạnh tay dồn dập,
khiến cho tình hình thanh khoản của các ngân hàng lâm vào cảnh khó khăn,
đặc biệt là những ngân hàng nhỏ, đồng thời gây thiệt hại cho các doanh nghiệp.
Nhằm cứu nguy cho các NHTM, NHNN lại bơm ra 33.000 tỉ đồng, triệt tiêu tác
dụng của việc hút tiền từ lưu thông về, đẩy lạm phát tăng cao trong tháng 4 và
5/2008. Lạm phát giảm kể từ nửa cuối năm 2008 1 phần là nhờ tác dụng của
CSTT nhưng cũng cần kể đến nguyên nhân giá thế giới giảm, nguyên nhân
hàng hóa, dịch vụ doanh nghiệp làm ra lại cũng không bán được, rất khó khăn,

những biến động trên thị trường tín dụng, tiền tệ.
NHNN dựa vào độ trễ của CSTT mà đề ra giải pháp đúng thời điểm, định lượng
rõ ràng.
Hiện tại nên tiếp tục duy trì việc thắt chặt tiền tệ. Cần tín hiệu rõ ràng hơn từ
CSTK, thực hiện CSTK thắt chặt đi đôi với CSTT thắt chặt, CSTK hỗ trợ CSTT.
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status