1
M U
Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật ngành công
nghiệp truyền thông cũng phát triển nh vũ bão. Công nghệ không dây đã dần
dần đợc phát triển và trở thành chiến lợc của công nghệ truyền thông trong tơng lai. Qua một thời gian phát triển và ứng dụng trong thực tế mạng không
dây đã phát triển rất nhanh và thu đợc rất nhiều thành quả, đóng góp to lớn
cho sự phát triển chung của ngành thông tin liên lạc. Điển hình là các hệ
thống thông tin di động. Tuy là hệ thống ra đời muộn trong lịch sự ngành
thông liên lạc, nhng hệ thống thông tin di động lại có tốc độ phát triển nhanh
nhất cùng với rất nhiều sự cải tiến về mặt kỹ thuật cũng nh cấu trúc của hệ
thống. Các hệ thống di động hiện nay đã đợc phát triển từ những hệ thống
analog 1G, 2G và hiện nay là 3G. Cha dừng lại ở đó, việc nghiên cứu đang đợc
tiếp tục để hớng tới các thế hệ mạng di động cao hơn nh 4G và 5G.
Thông tin di dộng ngày nay không đơn thuần chỉ phục vụ cho liên lạc
thoại mà còn rất nhiều ứng dụng liên quan đến thu phát dữ liệu tốc độ cao
(multimedia, transfer file, email, chat, video), nhằm phục vụ nhu cầu di
chuyển ngày càng nhiều hơn của con ngời, phục vụ cho nhu cầu giải trí, làm
việc, học tập. Việc đó đòi hỏi hệ thống di động cần đợc nâng cấp để có thể
đáp ứng đợc nhu cầu ngày càng cao nhng vẫn có thể tận dụng đợc hạ tầng vốn
có từ các hệ thống đi trớc. Hiện tại các hệ thống di động cũng đã cung cấp các
dịch vụ liên quan đến dữ liệu, tuy nhiên vẫn không thể cung cấp các dịch vụ
nh TV, video. Thêm vào đó là sự ra đời của WiMAX, đang gây sức ép lớn lên
các hệ thống di động 3,5G bởi lẽ WiMAX đáp ứng đợc các yêu cầu đề ra của
hệ thống di động 4G. Điều đáng nói ở đây là WiMAX đợc xem nh là sự mở
rộng của mạng Wifi trong phạm vi rộng. Để giải quyết những vấn đề trên
3GPP đã đa ra tiêu chuẩn 3GPP LTE, công nghệ mạng di động 4G có thể phát
triển lên từ hạ tầng mạng UMTS(3G) hoặc HsxPA(3,5G). Trớc sự ra đời của
WiMAX IEEE 802.16e, 3GPP buộc phải phát triển 3G LTE để có thể đứng
vững trên thị trờng di động.
Bên cạnh đó, ngoài việc phát triển để LTE có thể trở thành công nghệ di
3
- Khả năng.
- Hiệu suất hệ thống.
- Các khía cạnh liên quan đến sự triển khai.
- Cấu trúc và sự di chuyển.
- Sự quản lý tài nguyên vô tuyến.
- Mức độ phức tạp.
- Các khía cạnh chung.
1.1.2. Khả năng
Các mục tiêu yêu cầu tốc độ dữ liệu đỉnh đường xuống và đường lên
tương ứng là 100Mbit/s và 50 Mbit/s khi hoạt động trong sự phân chia phổ
20MHz. Đối với các sự phân chia phổ hẹp hơn, các tốc độ dữ liệu được thay
theo tỷ lệ. Do đó, các yêu cầu này có thể được diễn tả bằng 5 bit/s/Hz đối với
đường xuống và 2.5 bit/s/Hz đối với đường lên. LTE hỗ trợ hoạt động theo cả
FDD lẫn TDD. Rõ ràng, đối với trường hợp TDD, sự truyền theo đường lên
và theo đường xuống không thể xảy ra cùng một lúc. Do đó, yêu cầu tốc độ
dữ liệu đỉnh không thể được thoả mãn đồng thời. Mặt khác, đối với FDD thì
các đặc điểm kỹ thuật LTE cho phép sự thu và phát đồng thời tại các tốc độ
dữ liệu đỉnh đã xác định ở trên.
Các yêu cầu về độ trễ được tách thành các yêu cầu mặt phẳng
điều khiển (control-plane) và các yêu cầu mặt phẳng sử dụng(user-plane). Các
yêu cầu độ trễ mặt phẳng điều khiển xử lý độ trễ để nó chuyển tiếp từ các
trạng thái đầu cuối không tích cực tới một trạng thái tích cực trong đó đầu
cuối di động có thể gửi và/hoặc thu dữ liệu. Có hai số đo: một số đo được
biểu diễn bằng thời gian chuyển tiếp từ một trạng thái tạm nghỉ (a camped
state) là một trạng thái trong đó đầu cuối không biết mạng truy nhập vô
tuyến, nghĩa là mạng truy nhập vô tuyến không có bất cứ ngữ cảnh
đầu cuối nào và đầu cuối không có bất kỳ sự ấn định tài nguyên nào yêu cầu
5
đa để quản lý trong một hệ thống LTE đạt tới 350 km/h (hoặc thậm chí lên tới
500 km/h phụ thuộc vào băng tần ).
Các yêu cầu vùng phủ sóng tập trung vào phạm vi tế bào (bán kính), đó là
khoảng cách lớn nhất từ vị trí tế bào tới một đầu cuối di động trong tế bào.
Yêu cầu cho các kịch bản, trường hợp giới hạn không nhiễu là để thoả mãn
thông lượng người dùng, hiệu quả phổ, và các yêu cầu mức độ di
chuyển cho các tế bào với phạm vi tế bào lên tới 5 km. Đối với các tế bào,
phạm vi tế bào lên tới 30 km, một sự suy giảm nhẹ thông lượng
người dùng được bỏ qua và một sự suy giảm đáng kể hơn về hiệu quả phổ có
thể chấp nhận được liên quan tới các yêu cầu. Tuy nhiên, các yêu cầu về độ di
chuyển nên được thoả mãn. Các phạm vi tế bào lên tới 100 km không
những không nên loại trừ bởi các đặc tính kỹ thuật mà trái lại các quy định
hiệu suất cần được nói rõ trong trường hợp này.
1.1.4. Các khía cạnh liên quan tới triển khai
Các yêu cầu liên quan tới việc triển khai gồm có các kịch bản triển
khai, mức độ mềm dẻo phổ, sự triển khai phổ, sự tồn tại đồng thời và sự liên
kết mạng cùng với các công nghệ truy nhập vô tuyến 3GPP khác nhau như là
GSM và WCDMA/HSPA.
Yêu cầu về kịch bản triển khai bao gồm hai trường hợp khi hệ thống LTE
được triển khai như một hệ thống độc lập và trường hợp nó được triển khai
cùng với WCDMA/HSPA và / hoặc GSM. Do đó, yêu cầu này không nằm
trong giới hạn thực tế chỉ tiêu thiết kế.
Sự tồn tại đồng thời và sự liên kết mạng cùng với các hệ thống 3GPP
khác nhau và các yêu cầu riêng của chúng thiết lập sự yêu cầu về sự
di chuyển giữa LTE và GSM, và giữa LTE và WCDMA/HSPA cho các đầu
cuối di động hỗ trợ các công nghệ đó.
Bảng 1.1. Các quy định thời gian gián đoạn, LTE-GSM và LTE-WCDMA
Sơ đồ song công hay sự bố trí song công là một thuộc tính của một công
nghệ truy nhập vô tuyến . Tuy nhiên, một sự phân chia phổ cho trước cũng
được kết hợp một cách đặc trưng cùng với một sơ đồ song công cụ thể. Các
hệ thống FDD được triển khai theo các sự phân chia phổ cặp, có một vùng tần
số dành cho phát theo đường xuống, còn vùng kia dành cho phát theo đường
lên. Các hệ thống TDD được triển khai theo các sự phân chia không theo phổ
cặp.
Một ví dụ là phổ IMT-2000 tại 2 GHz, đó là ‘băng lõi’ IMT2000. Như biểu diễn trong hình 1.1, nó gồm có cặp băng tần 1920- 1980 MHz
và 2110- 2170 MHz dành cho truy nhập vô tuyến FDD cơ bản. Hai băng tần
7
1910-2020 MHz và 2010-2025 MHz dành cho truy nhập vô tuyến TDD cơ
bản. Chú ý rằng do sự điều chỉnh địa phương và khu vực thì việc sử dụng của
phổ IMT-2000 (International Mobile Telecommunicational-2000) có thể
khác nhau so với cái gì được biểu diễn ở đây.
Hình1.1. Cấp phát phổ ‘băng lõi’ IMT cơ bản tại 2 GHz
Sự phân chia cặp đối với FDD trong hình 1.1 là 2 x 60 MHz, nhưng phổ
có thể dùng được đối với một nhà khai thác mạng đơn lẻ có thể là 2 x 20 MHz
hoặc thậm chí 2 x 10 MHz. Trong các băng tần khác thậm chí ít phổ hơn có
thể dùng được. Hơn nữa, sự di chuyển của phổ hiện nay dùng cho các công
nghệ truy nhập vô tuyến khác nhau nhất thiết phải thực hiện từ từ để đảm
bảo rằng số lượng của các phần phổ còn lại đủ để hỗ trợ nhiều người
dùng hiện tại.
Vì vậy, lượng phổ mà có thể được di chuyển theo hướng LTE lúc ban đầu
có thể tương đối nhỏ, sau đó có thể sẽ từ từ tăng lên, như đã biểu diễn trong
hình 1.2. Sự thay đổi của các kịch bản phổ có thể có sẽ đưa đến một sự quy
định cho tính mềm dẻo phổ đối với LTE về mặt các độ rộng băng thông
•
Sự tương tác lẫn nhau giữa lớp mạng vô tuyến (RNL:
Radio Network Layer) và lớp
mạng truyền tải (TNL:
9
Transport Network Layer) không nên loại trừ nếu quan tâm
đến cải thiện hiệu suất của hệ thống.
•
Cấu trúc LTE RAN nên hỗ trợ một QoS từ đầu cuối tới đầu
cuối. TNL nên đưa ra yêu cầu QoS phù hợp với RNL.
•
Cơ chế QoS cần tính đến các loại lưu lượng khác nhau cái mà
tồn tại để cung cấp việc sử dụng hiệu quả dải thông: lưu
lượng mặt bằng điều khiển, lưu lượng mặt bằng sử dụng và
lưu lượng O&M.
•
LTE RAN nên được thiết kế theo cách để tối thiểu hoá sự thay
đổi rung pha đối với lưu lượng cần rung pha thấp như TCP/IP.
1.1.6. Quản lý tài nguyên vô tuyến
dung ra. Chi phí được tập trung vào đường trục, sự vận hành và bảo dưỡng.
Do đó, không chỉ giao diện vô tuyến mà còn sự truyền tải tới các vị trí trạm
gốc và hệ thống quản lý nên được chú ý bởi LTE. Một quy định rõ về các
giao diện nhiều nhà cung cấp cũng nằm trong các loại quy định này.
Hơn nữa, các đầu cuối không phức tạp và công suất thấp được quy định.
1.2. Các yêu cầu chung đối với SAE (System architecture evolution)
Mục tiêu đặt ra đối với SAE cũng được chia thành các phần sau:
• Các lĩnh vực hoạt động và người sử dụng ở mức độ cao.
• Dung lượng cơ bản.
• Đa truy nhập và di chuyển không giới hạn.
• Khía cạnh giao diện con người – máy.
• Các yêu cầu về hiệu suất đối với sự phát triển của hệ thống 3GPP.
• Bảo mật và tính riêng tư.
• Tính cước
Mặc dù các yêu cầu của SAE rất nhiều và phân chia vào subgroups ở
trên, các yêu cầu của SAE chủ yếu là không liên quan đến phần vô tuyến. Vì
11
vậy, ta sẽ tóm tắt các yêu cầu quan trọng nhất của SAE có tác động tới phần
truy cập vô tuyến hoặc là kiến trúc của SAE.
Hệ thống SAE cần phải có khả năng để vận hành nhiều hơn so với
mạng truy nhập vô tuyến LTE và cần phải có những chức năng lưu động cho
phép một thiết bị đầu cuối di động di chuyển giữa những hệ thống truy nhập
vô tuyến khác nhau. Thật ra, những yêu cầu không làm hạn chế tính lưu động
giữa những mạng truy nhập rnhưng, nhưng mở ra về sự lưu động tới mạng
truy nhập cố định. Những mạng truy nhập không cần phải được phát triển bởi
3GPP, những mạng truy nhập khác không phải 3GPP cần phải cũng được
xem xét.
Một số mô hình tính phí, bao gồm cả bên gọi trả tiền, tỷ lệ cố định, và
tính phí dựa trên trên QoS được yêu cầu để được hỗ trợ trong SAE. Khía cạnh
tính cước thỉnh thoáng có thể thấy trong mạng truy nhập vô tuyến, đặc biệt là
những mô hình được tính phí dựa trên gửi QoS hoặc gửi dữ liệu khối tin. Tuy
nhiên, hầu hết các chương trình tính phí chỉ có thể thấy thông tin trong các
mạng lõi.
13
Chương 2
CÁC KỸ THUẬT SỦ DỤNG TRONG LTE
2.1. Truy nhập vô tuyến LTE
2.1.1. Các sơ đồ truyền dẫn: OFDM đường xuống và SC-FDMA
đường lên.
Sơ đồ truyền dẫn đường xuống dựa trên cơ sở OFDM (Orthogolnal
Frequency-Division Mtilplexing). Do thời gian symbol OFDM tương đối dài
kết hợp với một tiếp đầu tuần hoàn CP (CP:Cycle Prefix), OFDM có sức chịu
đựng cao về mặt chống lại độ chọn lọc tần số kênh. Mặc dù sự sai lạc tín hiệu
do một kênh chọn lọc theo tần số về nguyên lý có thể được xử lý bằng cách
san bằng ở bên thu, sự phức tạp của việc san bằng bắt đầu trở nên không hấp
dẫn để thực thi trong một thiết bị đầu cuối di động tại các độ rộng băng trên
5MHz. Vì vậy, OFDM cùng với sức chịu đựng vốn có của nó đối với pha
đinh chọn lọc theo tần số đã được áp dụng cho đường xuống, đặc biệt là khi
được kết hợp cùng với sự ghép không gian.
Các lợi ích khi dùng OFDM gồm có:
• OFDM cung cấp sự truy nhập tới miền tần số, theo cách đó cho
số. Sự phân tách người dùng trực giao có ích trong nhiều trường hợp vì nó
ngăn ngừa nhiễu nội tế bào. Tuy nhiên, sự cấp phát một tài nguyên dải thông
tức thời rất lớn cho một người dùng đơn lẻ là một chiến lược không hiệu quả
ở các trường hợp mà trong đó tốc độ dữ liệu chủ yếu bị giới hạn bởi công suất
truyền hơn là dải thông. Trong hoàn cảnh như thế, một đầu cuối chỉ được cấp
phát một phần của tổng dải thông truyền dẫn và các đầu cuối khác có thể phát
song song trên phần còn lại của phổ. Theo cách đó, đường lên LTE này bao
gồm thành phần đa truy nhập miền tần số, kế hoạch truyền dẫn đường lên
15
LTE đôi khi cũng được gọi là FDMA đơn sóng mang (SC-FDMA: Single
Carrier-FDMA).
2.1.2. Sự lập lịch phụ thuộc kênh và sự thích nghi tốc độ
Điểm chủ yếu của sơ đồ truyền dẫn LTE là việc sử dụng truyền dẫn
kênh chia sẻ, trong đó nguồn tài nguyên thời gian-tần số được chia sẻ một
cách động giữa những người sử dụng. Việc sử dụng truyền dẫn kênh chia sẻ
thích ứng tốt với các yêu cầu nguồn tài nguyên thay đổi một cách nhanh
chóng đã được đề ra bởi dữ liệu gói và cũng cho phép một vài công nghệ then
chốt khác được sử dụng bởi LTE.
Trong mỗi khoảng thời gian ngắn, bộ lập lịch điều khiển để ấn định
những người dùng các tài nguyên được chia sẻ này. Nó cũng quyết định tốc
độ dữ liệu được dùng cho mỗi liên kết, tức là sự thích nghi tốc độ và có thể
được xem như một phần của bộ lập lịch này.
Bộ lập lịch là một phần tử chủ chốt và quyết định lớn đến hiệu suất
toàn bộ đường xuống, đặc biệt là trong một mạng tải mức cao. Sự tăng đáng
kể dung lượng hệ thống có thể đạt được nếu các điều kiện về kênh được đưa
vào tính toán trong quyết định lập lịch, nên được gọi là sự lập lịch phụ thuộc
kênh (Channel-Dependent-Scheduling). Điều này đã được khai thác trong
này cũng cho phép các sự biến đổi kênh tương đối nhanh được theo dõi nhờ
bộ lập lịch này.
• Lập lịch đường xuống
Ở đường xuống, mỗi đầu cuối thông báo một sự đánh giá về chất
lượng kênh tức thời tới trạm gốc. Các đánh giá này thu được nhờ phép đo dựa
vào một tín hiệu chuẩn được phát bởi trạm gốc và cũng được dùng cho các
mục đích điều chế. Dựa vào đánh giá chất lượng kênh, bộ lập lịch đường
xuống có thể ấn định các nguồn tài nguyên cho những người sử dụng, đưa các
chất lượng kênh vào trong tính toán. Về nguyên lý, một đầu cuối được lập
lịch có thể được ấn định một tập bất kỳ của các khối tài nguyên rộng 180 kHz
trong mỗi khoảng thời gian lập lịch 1ms.
• Lập lịch đường lên
Đường lên LTE được dựa vào sự phân tách trực giao của những
người sử dụng và nó làm nhiệm vụ của bộ lập lịch đường lên để ấn định các
tài nguyên trong cả miền thời gian lẫn miền tần số (kết hợp TDMA và
FDMA) cho những người dùng khác nhau. Các quyết định lập lịch được đưa
ra một lần cho mỗi ms để điều khiển các đầu cuối di động mà được phép phát
bên trong một tế bào trong một khoảng thời gian đã cho về những tài nguyên
tần số truyền dẫn sẽ thực hiện và những tốc độ dữ liệu đường lên (dạng truyền
tải) mà sử dụng. Chú ý rằng chỉ một miền tần số kề nhau được ấn định cho
các đầu cuối di động trong đường lên như là hệ quả của việc dùng truyền dẫn
đơn sóng mang trên đường xuống LTE.
Các điều kiện kênh có thể được đưa vào trong tính toán trong quá
trình xử lý lập lịch đường lên giống như việc lập lịch cho đường xuống. Tuy
nhiên, thông tin thu được về các điều kiện kênh đường lên này là một nhiệm
18
vụ không phải không quan trọng. Vì vậy, các phương pháp khác nhau để đạt
cụ cho sự thích nghi tốc độ ngầm. Giao thức cơ bản cũng giống với cái đã
dùng đối với HSPA- nhiều quá trình xử lý ARQ lai dừng và đợi song song.
Những sự truyền lại có thể được yêu cầu nhanh chóng sau sự truyền mỗi gói.
Độ dư thừa tăng lên được dùng như chiến lược kết hợp mềm và các bộ đệm
các bit mềm máy thu có thể thực hiện sự kết hợp mềm giữa các lần thử.
2.1.4. Hỗ trợ nhiều anten
LTE đã hỗ trợ nhiều anten tại cả ở trạm gốc lẫn đầu cuối như một bộ
phận không thể thiếu của đặc tính kỹ thuật. Về nhiều khía cạnh việc sử dụng
nhiều anten là kỹ thuật chủ yếu để đạt được các mục đích hiệu suất LTE lớn.
Nhiều anten có thể được sử dụng theo nhiều cách khác nhau cho các mục đích
khác nhau:
20
• Nhiều anten thu có thể được dùng cho phân tập thu. Đối với các sự
truyền dẫn đường lên, cái này đã được sử dụng trong nhiều hệ thống tế bào
cho nhiều năm. Tuy nhiên, hai anten thu là chuẩn cho tất cả các đầu cuối
LTE, hiệu suất đường xuống cũng được cải thiện. Cách đơn giản nhất của
việc sử dụng nhiều anten thu là sự phân tập thu cổ điển để triệt phađing,
nhưng các độ tăng ích thêm vào có thể đạt được trong kịch bản hạn chế nhiễu
nếu các anten cũng được dùng không chỉ cung cấp sự phân tập chống pha
đinh mà còn để khử nhiễu.
• Nhiều anten phát tại trạm gốc có thể dùng cho phân tập phát và các loại
khác về tạo chùm (beam-forming). Mục đích chính của tạo chùm là cải thiện
tỉ số SNR và/hoặc SIR thu được, cuối cùng là cải thiện dung lượng hệ thống
và vùng phủ sóng.
• Ghép không gian (Spatial Multiplexing), đôi khi được gọi là MIMO, sử
dụng nhiều anten ở cả máy phát lẫn máy thu được hỗ trợ bởi LTE. Ghép
không gian dẫn đến kết quả tốc độ dữ liệu được tăng, sự cho phép các điều
hiện diện đúng như một tín hiệu được phát đi từ một vị trí tế bào đơn lẻ và lệ
thuộc vào đường truyền đa đường. Do sức chịu đựng của OFDM đối với
đường truyền đa đường nên sự truyền dẫn nhiều tế bào như vậy cũng được gọi
là mạng một tần số đa trạm-quảng bá (MBSFN: Multicast-Broadcast SingleFrequency Network) (điều này cũng được gọi là mạng tần số đơn (SFN:
Single Frequency Network) mặc dù trong 3GPP sự viết tắt MBFSN được
dùng vì SFN là sự viết tắt của System Frame Number), sau đó sẽ không chỉ
cải thiện cường độ tín hiệu thu, mà còn loại trừ nhiễu liên tế bào. Vì vậy, cùng
với OFDM, năng suất quảng bá/đa trạm nhiều tế bào cuối cùng còn bị hạn chế
duy nhất bởi tạp âm và trong trường hợp các tế bào nhỏ thì hiệu suất có thể
đạt cực cao. Nên chú ý rằng việc sử dụng truyền dẫn MBSFN cho quảng
bá/đa trạm phải đảm bảo sự đồng bộ khắt khe và sự đồng chỉnh thời gian của
các tín hiệu được phát từ các vị trí tế bào khác nhau.
22
2.2. Kiến trúc giao diện vô tuyến LTE
Tương tự với WCDMA/HSPA, cũng như tất cả các hệ thống thông tin
hiện đại khác, quá trình xử lý đối với LTE được kết cấu thành các lớp giao
thức khác nhau. Mặc dù một vài lớp tương tự với những cái đã dùng trong
WCDMA/HSPA, nhưng cũng có một vài sự khác biệt, ví dụ do các sự khác
nhau trong cấu trúc toàn thể giữa WCDMA/HSPA và LTE. Phần này bao
gồm sự diễn tả về:
• Các lớp mạng phía trên lớp vật lý.
• Sự tác động lẫn nhau của chúng.
• Giao diện với lớp vật lý.
Trong phần này chỉ nói tới kiến trúc truy nhập vô tuyến LTE gồm có
một nốt đơn–eNodeB (Evolved-Universal Terrestrial Radio Access NodeB).
Tổng quát chung về cấu trúc giao thức LTE đối với đường xuống được
minh hoạ trong hình 2.3. Nhưng không phải tất cả các thực thể đã minh hoạ
tới các lớp cao hơn. Khác với WCDMA, giao thức RLC được đặt trong
eNodeB đó chỉ là một loại nút đơn lẻ trong cấu trúc mạng truy nhập vô tuyến
LTE. RLC cung cấp các dịch vụ cho PDCP dưới dạng các dịch vụ mang vô
tuyến. Có một thực thể RLC cho mỗi dịch vụ mang vô tuyến đã thiết lập cấu
hình cho một đầu cuối.
• Điều khiển truy nhập môi trường MAC (MAC: Medium Access
Control) điều khiển các sự truyền lại ARQ lai và lập lịch đường lên và đường
xuống. Chức năng lập lịch được đặt trong eNodeB, cái mà có một thực thể
MAC cho mỗi tế bào đối với cả đường lên và đường xuống. Thành phần giao
thức ARQ lai được hiện diện trong cả ở đầu phát lẫn thu của giao thức MAC.
MAC cung cấp các dịch vụ cho RLC dưới dạng các kênh logic.
• Lớp vật lý PHY (PHY: Physical Layer) xử lý việc mã hoá/giải mã, điều
chế/ giải điều chế, sự ánh xạ nhiều anten, và các chức năng lớp vật lý điển
hình khác. Lớp vật lý cung cấp các dịch vụ cho lớp MAC dưới dạng các kênh
truyền tải.
2.2.1. Điều khiển liên kết vô tuyến RLC
RLC LTE tương tự với WCDMA/HSPA chịu trách nhiệm về phân chia
đoạn (nén mào đầu) các gói IP cũng được biết đến như là RLC-SDUs (SDUService Data Unit ) từ PDCP thành cách đơn vị nhỏ hơn RLC- PDUs (PDU-
25
Protocol Data Unit). Với chú ý là thực thể dữ liệu từ/tới một lớp giao thức cao
hơn được biết đến như một SDU và thực thể tương ứng tới/từ một lớp giao
thức thấp hơn biểu thị PDU. Nó cũng xử lý việc truyền lại của các PDUs bị
thu sai, cũng như việc xoá bỏ bản sao và móc nối các PDUs thu được. Cuối
cùng, RLC đảm bảo phân phát nối tiếp các SDUs cho các lớp phía trên.
Cơ chế truyền lại RLC chịu trách nhiệm cho sự phân phát không bị lỗi
của dữ liệu cho các lớp trên. Để làm điều này, một giao thức truyền lại hoạt