xét xử sơ thẩm vụ án hành chính - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
------

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 38 (2012 – 2015)
ĐỀ TÀI:

XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

Giảng viên hướng dẫn:
CHÂU HOÀNG THÂN
Bộ môn: Luật hành chính

Sinh viên thực hiện:
NGUYỄN VĂN VŨ HẢI
MSSV: S120017
Lớp: ĐT 1263 B1

Cần Thơ, Tháng 11/2014


MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ................................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài....................................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài ................................................................................ 1
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài .................................................................................. 2
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài .......................................................................... 2
5. Kết cấu luận văn........................................................................................................ 2
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÀNH
CHÍNH ............................................................................................................................ 4

2.4.2 Sự có mặt của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và hậu quả pháp
lý....................................................................................................................................... 52
2.4.3 Thủ tục tiến hành phiên tòa sơ thẩm vụ án hành chính .................................... 55
2.4.4 Nghị án và tuyên án .......................................................................................... 55
2.5 Thẩm quyền Hội đồng xét xử, bản án sơ thẩm vụ ánh hành chính ................. 64
CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÀNH CHÍNH – KIẾN
NGHỊ HOÀN THIỆN .................................................................................................... 67
3.1 Thực tiễn hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hành chính ..................................... 67
3.1.1 Thực tiễn hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hành chính cả nước ....................... 67
3.1.2 Thực tiễn hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hành chính ở Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp ....................................................................................................................... 69
3.2 Bất cập trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hành chính .............................. 71
3.2.1 Bất cập trong quy định pháp luật ...................................................................... 71
3.2.2 Tính độc lập trong hoạt động xét xử ................................................................. 74
3.2.3 Sự hạn chế về năng lực, trình độ của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm
vụ án hành chính .............................................................................................................. 75
3.2.4 Việc thực thi các phán quyết của Tòa án thiếu tính nghiêm túc ....................... 78
3.2.5 Ý thức pháp luật của người dân còn thấp ......................................................... 79
3.3 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hành
chính ................................................................................................................................ 80


3.3.1 Về công tác xây dựng pháp luật ........................................................................ 80
3.3.2 Nâng cao năng lực, trách nhiệm của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân ............. 82
3.3.3 Công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật........................................ 83
3.3.4 Học kinh nghiệm của nước ngoài ..................................................................... 83
KẾT LUẬN ..................................................................................................................... 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO




Đề tài: Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính

LỜI NÓI ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền, quản lý xã hội
bằng pháp luật. Nhà nước trao quyền cho các tổ chức, cá nhân để họ thay mặt Nhà
nước tiến hành hoạt động quản lý Nhà nước. Trong quá trình quản lý điều hành, cơ
quan hành chính Nhà nước và các cán bộ, công chức nhà nước đôi khi có những
quyết định hoặc những hành vi trái với quy định của pháp luật, xâm phạm đến quyền
và lợi ích hợp pháp của cá nhân cơ quan, tổ chức từ đó làm phát sinh các khiếu kiện
hành chính.
Kể từ ngày 01 tháng 07 năm 1996, tòa án nhân dân ở nước ta chính thức được trao
thẩm quyền xét xử hành chính. Bằng hoạt động xét xử của mình Tòa án đã thiết lập các
công cụ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, tổ chức, bảo đảm trách nhiệm
của cán bộ, công chức Nhà nước, đẩy mạnh tiến trình dân chủ hóa mọi mặt của đời sống
và việc quan trọng hơn cả là góp phần và thực hiện mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp
quyền của dân, do dân và vì dân.
Tại kỳ hợp thứ VII, ngày 24 tháng 11 năm 2011, Quốc hội khóa XII đã thông qua
Luật tố tụng hành chính và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2011. Việc ra
đời của Luật tố tụng hành chính đã đánh dấu một bước ngoặc mới trong công tác lập
pháp, tạo hành lang pháp lý để người dân thực hiện quyền khởi kiện, được quyền yêu cầu
Tòa án xem xét tính đúng đắn của các quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính
của cá nhân, cơ quan nhà nước. Cũng là cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động xét xử
hành chính của Tòa án.
Tuy nhiên, dù đã có những nổ lực trong việc xây dựng thiết chế và pháp luật liên
quan đến xét xử hành chính, nhưng hoạt động xét xử hành chính ở nước ta còn khá hạn
chế cả về số lượng và chất lượng. Cho đến những năm gần đây tỷ lệ án hành chính sơ
thẩm bị hủy, bị sửa còn khá cao. Để tìm hiểu rõ hơn thực trạng việc áp dụng pháp luật

tích, tổng hợp để hoàn thành việc nghiên cứu của mình.
5. Kết cấu luận văn
Luận văn gồm: Lời nói đầu, 3 chương, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về xét xử sơ thẩm vụ án hành chính
Chương này tập chung tìm những vấn đề về lý luận cơ bản cần nghiên cứu như:
tìm hiểu về tố tụng hành chính, vụ án hành chính, xét xử sơ thẩm vụ án hành chính cũng
như những đặc điểm của chúng, hay là các chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng như:
người khởi kiện, người bị kiện, đồng thời giới thiệu những nguyên tắc của Luật tố tụng
hành chính.
Chương 2: Pháp luật về xét xử sơ thẩm vụ án hành chính
Nội dung chương này là tìm hiểu, phân tích các quy định của pháp luật hiện hành
về xét xử sơ thẩm vụ án hành chính, đồng thời so sánh với các quy định cũ để tìm ra

GVHD: Châu Hoàng Thân

2

SVTH: Nguyễn Văn Vũ Hải


Đề tài: Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính
những hạn chế cũng như những tiến bộ, những bước phát triển của những quy định trong
Luật qua từng thời kỳ.
Chương 3: Thực tiễn xét xử sơ thẩm vụ án hành chính - kiến nghị hoàn thiện
Chương này sẽ giới thiệu về thực trạng thi hành pháp luật về xét xử sơ thẩm vụ
án hành chính của Tòa án nhân dân trong cả nước và ở địa phương cụ thể là ở tỉnh Đồng
Tháp. Nêu lên những thuận lợi, khó khăn cũng như bắt cập và nguyên nhân dẫn đến
những khó khăn, bắt cập đó trong quá trình xét xử sơ thẩm vụ án hành chính. Thông qua
đó đề ra những kiến nghị, giải pháp khắc phục nhằm hoàn thiện pháp luật về xét xử sơ
thẩm vụ án hành chính.

tố tụng, được giải quyết bởi Tòa hành chính nằm trong hệ thống Tòa án nhân dân theo
một cơ chế riêng được điều chỉnh bởi ngành Luật Tố tụng hành chính. So với cơ chế giải
quyết các tranh chấp hành chính bằng thủ tục giải quyết khiếu nại hành chính, thì việc
giải quyết bằng cơ chế tố tụng hành chính có ưu điểm lớn hơn đó là các tranh chấp hành
chính được giải quyết bởi một hệ thống cơ quan chuyên trách độc lập đó là Tòa hành
chính thuộc hệ thống Tòa án nhân dân. Bên cạnh đó, thủ tục tố tụng hành chính còn đảm
bảo sự bình đẳng giữa công dân với cơ quan công quyền trước Tòa án. Chính vì vậy, đây
là một cơ chế hữu hiệu góp phần bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ
chức khi quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm bởi các quyết định hành chính,
hành vi hành chính của các cơ quan công quyền.

1

Diệp Thành Nguyên, Tài liệu học tập Luật Tố Tụng Hành Chính, Trường Đại Học Cần Thơ, 2012, tr 10

GVHD: Châu Hoàng Thân

4

SVTH: Nguyễn Văn Vũ Hải


Đề tài: Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính

1.1.2 Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính
Nhà nước Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì
dân, Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Điều này có nghĩa là mọi người phải tuân
thủ pháp luật. Để đảm bảo điều đó Nhà nước đã trao quyền lực của mình cho Tòa án để
bảo vệ pháp luật, bảo vệ công lý, “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”2. Tòa hành chính là một bộ phận trong hệ thống Tòa án


5

SVTH: Nguyễn Văn Vũ Hải


Đề tài: Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính
Theo từ điển giải thích thuật ngữ pháp lý thông dụng thì quy định: “Sơ thẩm là xét
xử một vụ án mà bị cáo, người bị hại, đương sự có quyền kháng cáo và Viện kiểm sát có
quyền kháng nghị để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại”
Có thể thấy, với cách hiểu của Từ điển giải thích thuật ngữ pháp lý thông dụng
chúng ta có cái nhìn toàn diện nhất về sơ thẩm.
Từ quan niệm về xét xử và sơ thẩm, có thể hiểu xét xử sơ thẩm vụ án hành chính là:
“Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính là việc tòa án đưa vụ án thuộc thẩm quyền ra
xét xử công khai tại phiên tòa khi có đủ căn cứ do pháp luật tố tụng quy định. Mục đích
của xét xử sơ thẩm là xác định rõ bản chất vụ án trên cơ sở các chứng cứ để từ đó ra bản
án, quyết định đúng pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ
chức”5.
Xét xử sơ thẩm là hoạt động xét xử ở cấp thứ nhất do Tòa án có thẩm quyền thực
hiện theo quy định pháp luật. Với tư cách là một giai đoạn trong quá trình tiến hành tố
tụng, xét xử sơ thẩm vụ án hành chính là một giai đoạn trung tâm của quá trình tố tụng
hành chính.
Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính là giai đoạn tiếp theo sau khi tòa đã thụ lý đơn
khởi kiện của cá nhân, tổ chức (đương sự) đối với quyết định hành chính, hành vi hành
chính của cơ quan nhà nước, cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền
trong cơ quan nhà nước và quyết định kỷ luật buộc thôi việc của thủ trưởng các cơ quan
nhà nước đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ từ vụ trưởng trở xuống, khi các đương
sự cho rằng quyết định, hành vi hành chính đó xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của
họ. Hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hành chính chỉ được tiến hành khi vụ án không thuộc
trường hợp bị tạm hoãn, đình chỉ, tạm đình chỉ. Như vậy, mọi hành vi tố tụng khác như

Quản lý hành chính nhà nước là một hoạt động của Nhà nước được thực hiện
trước hết và chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước, trong quá trình thực hiện quản
lý hành chính nhà nước khó có thể tránh khỏi sự xung đột hay tranh chấp về lợi ích, quan
điểm áp dụng pháp luật giữa chủ thể quản lý hành chính nhà nước và đối tượng quản lý
hành chính nhà nước. Khi những xung đột, tranh chấp này bị đẩy lên cao, các bên khởi
kiện vụ án hành chính nhưng việc khởi kiện phải tuân theo các quy định của pháp luật, và
do đó vụ án hành chính chỉ phát sinh khi Tòa án có thẩm quyền thụ lý đơn khởi kiện của
cá nhân, cơ quan Nhà nước hay tổ chức.
Vậy, “vụ án hành chính là vụ việc tranh chấp hành chính được tòa án có thẩm
quyền thụ lý theo yêu cầu khởi kiện của cá nhân, tổ chức đối với quyết định hành chính,
hành vi hành chính nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ”6.
Việc khái niệm về vụ án hành chính chưa được quy định trong một điều luật cụ thể
thì sẽ ít nhiều gây khó khăn cho cả người khởi kiện và Tòa án khi giải quyết, vậy cần
phải sớm khắc phục vấn đề này.
1.1.4 Quyết định hành chính
Cơ quan hành chính nhà nước và các cơ quan nhà nước khác thực hiện nhiệm vụ
và chức năng quản lý hành chính nhà nước có thể bằng nhiều hoạt động và phương thức
khác nhau. Một phương thức hoạt động thông thường thể hiện quyền lực nhà nước là việc
ban hành các quyết định quản lý hành chính nhà nước. Quyết định quản lý hành chính
nhà nước được ban hành nhằm:

6

Giáo trình Luật Tố tụng hành chính Việt Nam, NXBTư pháp, năm 2010, tr 219

GVHD: Châu Hoàng Thân

7

SVTH: Nguyễn Văn Vũ Hải

hạn của mình. Các tổ chức này có thể tự mình ban hành các quyết định hành chính hoặc
phối hợp với các cơ quan nhà nước để ban hành các văn bản liên tịch.
Thứ hai, quyết định hành chính mang tính quyền lực nhà nước. Quyết định hành
chính nhà nước luôn thể hiện rõ tính quyền lực nhà nước trên cơ sở ủy nhiệm của cơ quan
Từ điển giải thích thuật ngữ luật học - Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân Hà nội, năm
1999, tr 87
7

GVHD: Châu Hoàng Thân

8

SVTH: Nguyễn Văn Vũ Hải


Đề tài: Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính
lập pháp tối cao. Đó là thẩm quyền nhân danh các cơ quan nhà nước, các tổ chức được
trao thẩm quyền hành chính nhà nước. Nội dung các quyết định hành chính được hình
thành trên cơ sở ý chí quyền lực đơn phương theo thẩm quyền của các chủ thể quản lý
hành chính nhà nước. Ngoài ra, điều này còn thể hiện ở tính đảm bảo thi hành, các chủ
thể của quản lý hành chính được quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế khi cần thiết.
Thứ ba, các quyết định hành chính được ban hành theo trình tự thủ tục, dưới hình
thức được pháp luật quy định. Trên cơ sở thẩm quyền của mình, do pháp luật quy định,
các chủ thể có thẩm quyền khi ban hành quyết định hành chính phải tuân theo trình tự,
thủ tục, hình thức được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật có liên
quan của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Quyết định hành chính rất phong phú, đa dạng về nội dung cũng như hình thức thể
hiện và chủ thể ban hành, Song Căn cứ vào tính chất pháp lý, quyết định hành chính nhà
nước được chia ra làm quyết định chủ đạo, quyết định quy phạm và quyết định cá biệt 8:
Quyết định chủ đạo

định được thực hiện.
Có đối tượng áp dụng cụ thể. Chỉ có đối tượng được nêu đích danh phải tuân thủ
quyết định hành chính cá biệt tương ứng.
Phải căn cứ trên ít nhất một quyết định quy phạm để ban hành. Các chế tài trong
quy phạm tương ứng phải được áp dụng đúng, chính xác…
1.1.5 Hành vi hành chính
Việc thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước của các chủ thể có thẩm
quyền không chỉ được phản ánh trong việc ban hành các quyết định hành chính mà còn
được thể hiện ở các hành vi cụ thể của những chủ thể này trong thực tiễn quản lý hành
chính nhà nước. Theo từ điển giải thích thuật ngữ luật học: “Hành vi hành chính là hành
vi của người có thẩm quyền khi thực hiện công vụ trong lĩnh vực quản lý hành chính theo
quy định của pháp luật”9
Theo định nghĩa này, hành vi hành chính chỉ gắn với cá nhân người có thẩm
quyền. Nhưng trên thực tế, chủ thể thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước còn
bao gồm cả cơ quan, tổ chức.
Những dấu hiệu đặc trưng của hành vi hành chính như sau:
Thứ nhất, hành vi hành chính được thực hiện bởi các chủ thể có thẩm quyền theo
quy định của pháp luật bao gồm cơ quan hành chính, cơ quan nhà nước, tổ chức khác và
những người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức này
Thứ hai, hành vi hành chính có nội dung là việc thực hiện hoặc không thực hiện
nhiệm vụ, công vụ trong quản lý hành chính nhà nước của các chủ thể có thẩm quyền.
Thứ ba, cũng giống như các quyết định hành chính, các hành vi hành chính biểu hiện
dưới hình thức là hành động cụ thể của chủ thể có thẩm quyền thường được thực hiện theo
trình tự, thủ tục được pháp luật quy định. Việc tuân thủ trình tự, thủ tục này là yêu cầu bảo đảm
tính hợp pháp của các hành vi hành chính. Đương nhiên, đối với các hành vi hành chính được

Từ điển giải thích thuật ngữ luật học – Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội,
năm 1999, tr 99.
9


Thứ nhất: Vụ án hành chính chỉ phát sinh khi có yêu cầu khởi kiện vụ án hành
chính của các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định pháp luật.
Điều 5 Luật tố tụng hành chính năm 2010 quy định: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức có
quyền khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
mình theo quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2010”.
Trong quá trình quản lý hành chính của các cơ quan nhà nước và những người có
thẩm quyền trong các cơ quan này ban hành các quyết định hành chính hoặc thực hiện
các hành vi hành chính không đúng theo quy định pháp luật, gây ảnh hưởng đến quyền,
GVHD: Châu Hoàng Thân

11

SVTH: Nguyễn Văn Vũ Hải


Đề tài: Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính
lợi ích hợp pháp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức. Nên đã dẫn đến sự tranh chấp giữa
họ, đối tượng quản lý hành chính sẽ có yêu cầu khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mình và vụ án hành chính có thể phát sinh.
Thứ hai: Vụ án hành chính phát sinh khi được Tòa án thụ lý
Khi quyền, lợi ích hợp pháp của đối tượng quản lý hành chính bị xâm hại thì họ sẽ
khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình ra Tòa án có thẩm quyền giải
quyết các tranh chấp hành chính, không có nghĩa là vụ án hành chính đương nhiên phát
sinh khi có đơn khởi kiện vụ án. Việc khởi kiện phải tuân theo các quy định của pháp
luật, do đó vụ án hành chính chỉ phát sinh khi Tòa án có thẩm quyền thụ lý đơn khởi kiện
của các cá nhân, cơ quan Nhà nước hay tổ chức. Bởi lẻ, mỗi cấp Tòa án được giao nhiệm
vụ giải quyết những tranh chấp thuộc thẩm quyền của mình theo quy định pháp luật. Tòa
án chỉ có nhiệm vụ giải quyết vụ án hành chính theo yêu cầu khởi kiện nếu vụ án đó được
thụ lý. Việc thụ lý vụ án còn làm phát sinh những quyền hạn cụ thể của Tòa án trong xét
xử hành chính. Khi đơn kiện đã thụ lý thì vụ án hành chính đã phát sinh và vụ án đó phải

Xuất phát từ đặc thù của xét xử hành chính - là xét xử các tranh chấp hành
chính giữa chủ thể quản lý hành chính nhà nước (cá nhân, tổ chức được sử dụng
quyền hành pháp) và đối tượng quản lý hành chính nhà nước (cá nhân, tổ chức phải
phục tùng quyền hành pháp) phát sinh do việc ban hành quyết định hành chính hay
thực hiện hành vi hành chính nên việc giải quyết các tranh chấp này phải được thực
hiện theo một trình tự đặc biệt. Đó là thủ tục tố tụng hành chính - trình tự xét xử các
vụ án hành chính tại Toà án được quy định trong Luật tố tụng hành chính 2010, bao
gồm các giai đoạn sau:
Giai đoạn thụ lý vụ án hành chính: là giai đoạn mở đầu cho toàn bộ quá trình giải
quyết vụ án hành chính tại Tòa án.
Giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hành chính: được tính từ khi thụ lí vụ án
hành chính cho đến khi Tòa án ra một trong các quyết định: Đưa vụ án ra xét xử; Tạm
đình chỉ việc giải quyết vụ án; hoặc đình chỉ việc giải quyết vụ án.
Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hành chính: được tính từ khi có quyết định đưa vụ
án ra xét xử cho đến khi Toà án thực hiện xong các thủ tục sau phiên tòa sơ thẩm. Trong
giai đoạn này, Toà án phải tiến hành các công việc: Chuẩn bị mở phiên tòa sơ thẩm; Tiến
hành phiên toà sơ thẩm; Thực hiện thủ tục sau phiên toà sơ thẩm.
Ba là: Hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hành chính của Tòa hành chính được thể
hiện thông qua việc áp dụng pháp luật để xét xử các khiếu kiện đối với quyết định hành
chính, hành vi hành chính của chủ thể quản lý hành chính nhà nước.
Tòa án là cơ quan xét xử các tranh chấp trong lĩnh vực hành chính. Thông qua
việc được trao thẩm quyền xét xử đó, Tòa án sử dụng quyền tư pháp của mình để xem xét
tính hợp pháp hay không hợp pháp của các quyết định hành chính, hành vi hành chính bị
khiếu kiện. Việc xem xét tính hợp pháp hay không hợp pháp nói trên luôn phải tuân theo
những nguyên tắc, quy định chặt chẽ của pháp luật. Điều này nhằm đảm bảo cho hoạt
động xét xử sơ thẩm vụ án hành chính có thể bảo đảm cao nhất quyền và lợi ích hợp pháp
của các chủ thể tham gia tố tụng. Đồng thời, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào

GVHD: Châu Hoàng Thân


công khai và minh bạch. Do đó, việc pháp luật quy định Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ
án hành chính nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức
trong trường hợp tranh chấp với chủ thể quản lý hành chính nhà nước.
1.3 Nguyên tắc trong tố tụng hành chính
Cũng như các hoạt động khác của Nhà nước, việc xây dựng và thực hiện pháp luật
tố tụng hành chính phải tuân thủ những nguyên tắc pháp lý nhất định để bảo đảm tính
thống nhất của hệ thống pháp luật nói chung và sự nhất quán, hiệu quả trong việc thực thi
pháp luật tố tụng hành chính nói riêng.

GVHD: Châu Hoàng Thân

14

SVTH: Nguyễn Văn Vũ Hải


Đề tài: Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính
Các nguyên lý của Luật tố tụng hành chính Việt Nam là những tư tưởng pháp lý
chỉ đạo, có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ hệ thống các chế định tố tụng.
Căn cứ vào nội dung và ý nghĩa của các nguyên tắc, có thể chia chúng thành hai
nhóm như sau :
+ Nhóm thứ nhất: nhóm các nguyên tắc chung;
+ Nhóm thứ hai: nhóm các nguyên tắc điều chỉnh các hoạt động riêng biệt của tố
tụng hành chính.
Việc phân loại các nguyên tắc của Luật tố tụng hành chính chỉ mang tính tương
đối. Bởi vì, các nguyên tắc của Luật tố tụng hành chính đều có vai trò chỉ đạo toàn bộ hệ
thống các chế định của Luật tố tụng hành chính và điều liên hệ mật thiết với nhau.
1.3.1 Nhóm các nguyên tắc chung
Nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự10
Đương sự tự mình hoặc có thể nhờ Luật sư hay người khác bảo vệ quyền và lợi ích

quyền. Tuy nhiên, khi tham gia vào tố tụng hành chính với tư cách là người bị kiện, họ
phải tôn trọng việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng của các chủ thể khác, nghĩa là họ
chỉ thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng hành chính như các đương sự khác, không
được thực hiện thẩm quyền của mình trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước để
ngăn cản các đương sự khác thực hiện quyền và nghĩa vụ của họ hay gây khó khăn cho
Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án hành chính.
Nguyên tắc về tiếng nói, chữ viết dùng trong tố tụng hành chính12
Tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng hành chính là tiếng Việt. Quốc ngữ nước
ta là tiếng Việt, tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ dân tộc ta đa số người dân sử dụng thành thạo
tiếng Việt, dân số biết đọc và biết viết tiếng Việt, nên việc sử dụng chữ viết và tiếng nói
tiếng Việt trong tố tụng hành chính tạo sự thuận lợi, nhanh chống, chính xác trong quá
trình tố tụng hành chính.
Tuy nhiên, Đất nước ta là khối đại đoàn kết dân tộc, gồm 54 dân tộc và mỗi dân
tộc có chữ viết và tiếng nói riêng của dân tộc mình, không phải người dân nào cũng biết
đọc biết viết tiếng Việt một cách thành thạo như tiếng của dân tộc mình. Cũng như trong
quá trình hội nhập quốc tế thì các vụ án hành chính liên quan đến yếu tố nước ngoài
không ngừng tăng, việc đó đồng nghĩa với người nước ngoài tham gia vào tố tụng hành
chính ngày càng nhiều. Việc bảo đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc
trước Tòa án nhằm bảo đảm sự biểu đạt chính xác yêu cầu của đương sự, tạo điều kiện
cần thiết để những người không sử dụng được tiếng Việt có thể tham gia tích cực vào tố
tụng hành chính. Qua đó Tòa án có thể xét xử một cách khác quan, công bằng và đúng
pháp luật. Người tham gia tố tụng hành chính có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của
dân tộc mình và trong trường hợp này phải có người phiên dịch.
Nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có hội thẩm nhân dân13
Nhà nước ta là nhà nước mang bản chất dân chủ rất cao, tính dân chủ cũng được
thể hiện trong việc xét xử của Tòa án, “Việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân có Hội
thẩm tham gia…”14. Việc hội thẩm nhân dân tham gia vào xét xử nói chung và xét xử
hành chính nói riêng là biểu hiện của sự kiểm tra, giám sát của nhân dân đối với hoạt

Điều 22 Luật Tố tụng hành chính năm 2010

của nhân dân.
Việc xét xử công khai còn có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao trách nhiệm
của người tiến hành tố tụng hành chính, bảo đảm người dân giám sát được hoạt động xét
xử của Tòa án.
Tuyên nhiên, không phải bất kỳ vụ án hành chính nào cũng được xét xử công khai.
Theo quy định pháp luật thì vụ án hình chính được tiến hành xét xử không công khai
trong trường hợp cần giữ bí mật nhà nước hoặc giữ bí mật của đương sự theo yêu cầu
chính đáng của họ. Trong trường hợp này, việc xét xử hành chính được tiến hành không
có sự tham gia của người dân. Song dù Tòa án xét xử kín, nhưng Tòa án phải tuyên án
công khai.
Nguyên tắc Toà án xét xử tập thể và quyết định theo đa số16
Nguyên tắc được cụ thể hóa tại Điều 16 Luật Tố tụng hành chính: “Tòa án xét xử
tập thể vụ án hành chính và quyết định theo đa số”.

15
16

Điều 17 Luật Tố tụng hành chính năm 2010
Điều 16 Luật Tố tụng hành chính năm 2010

GVHD: Châu Hoàng Thân

17

SVTH: Nguyễn Văn Vũ Hải


Đề tài: Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính
Kết quả mà Hội đồng xét xử đưa ra (bản án, quyết định của Hội đồng xét xử) rất quan
trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Nên việc xét xử phải


Điều 4 Luật Tố tụng hành chính năm 2010

GVHD: Châu Hoàng Thân

18

SVTH: Nguyễn Văn Vũ Hải


Đề tài: Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính
Cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến tố tụng hành chính phải tuân thủ pháp
luật, tạo điều kiện cho Tòa án giải quyết có hiệu quả vụ án hành chính. Tuy họ không
tham gia trực tiếp vào tố tụng hành chính, nhưng việc chấp hành pháp luật của họ là điều
kiện cần thiết để Tòa án giải quyết vụ án hành chính có hiệu quả hơn. Trong từng trường
hợp cụ thể mà họ có những vai trò và trách nhiệm nhất định, có khi trách nhiệm của họ
đơn thuần là cung cấp những thông tin, có thể thực hiện hay không thực hiện những hành
vi nhất định để Tòa án có thể giải quyết vụ án hành chính một cách nhanh chóng, công
minh, đúng pháp luật.
Bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính đã có hiệu lực pháp luật phải
được tôn trọng, nghiêm chỉnh chấp hành và được bảo đảm thực hiện.
Tòa án là cơ quan tiến hành tố tụng hành chính nhân danh quyền luật Nhà nước,
nên bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được tôn trọng, chấp
hành. Bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính là kết quả của quá trình tố tụng
hành chính nên phải được chấp hành, nếu không thì quá trình tố tụng hành chính trở nên
vô nghĩa. Do đặc thù của xét xử hành chính mà các bản án, quyết định của Tòa án về vụ
án hành chính thường liên quan đến cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm
quyền trong các cơ quan này. Vì vậy, trách nhiệm bảo đảm thi hành án hành chính trước
hết thuộc về các cơ quan hành chính nhà nước: “Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước
về công tác thi hành án hành chính…”18

can thiệp trái pháp luật vào hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm.
Tuy yêu cầu bảo đảm sự độc lập của Thẩm phán và Hội Thẩm là cần thiết trong
hoạt động xét xử, nhưng không có nghĩa là Thẩm phán và Hội Thẩm có toàn quyền quyết
định các vấn đề của vụ án theo ý chí chủ quan tùy tiện. Mà sự độc lập của Thẩm phán,
Hội thẩm khi xét xử phải gắn liền với việc tuân thủ pháp luật. Điều đó có nghĩa là khi xét
xử, Thẩm phán và Hội thẩm phải căn cứ vào các quy định của pháp luật để đưa ra ý kiến,
quyết định của mình về từng vấn đề của vụ án hành chính, chứ không được tùy tiện hay
bằng cảm tính.
1.3.2 Nhóm các nguyên tắc điều chỉnh các hoạt động riêng biệt của tố tụng hành chính
Nguyên tắc tiền tố tụng20
Đây là nguyên tắc đặc thù nhất của Luật tố tụng hành chính. Theo nguyên tắc này,
trước khi khởi kiện vụ án hành chính ra Tòa án có thẩm quyền, đương sự phải khiếu nại
với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu theo quy định của Luật khiếu nại.
Theo Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính trước đây thì tất cả các
loại khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án đều bắt buộc phải trải
qua giai đoạn tiền tố tụng.
Khoản 2 và 3 Điều 103 Luật Tố tụng hành chính quy định:
Cá nhân, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định giải
quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh trong trường hợp không đồng ý
với quyết định đó.
Cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hành chính về danh sách cử tri bầu cử đại biểu
Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân trong trường hợp đã khiếu
nại với cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, nhưng hết thời hạn giải quyết theo
quy định của pháp luật mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết,
nhưng không đồng ý với cách giải quyết khiếu nại.

20

Điều 103 Luật Tố tụng hành chính năm 2010


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status