Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc đổi mới kinh tế ở nước ta được khởi đầu bằng Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986) với việc thừa nhận kinh tế nhiều thành
phần và chuyển đổi từ kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy vậy nền kinh tế thị trường luôn tiềm ẩn trong nó
những phức tạp,đòi hỏi nhất định. Chấp nhận chuyển sang nền kinh tế thị trường
là chấp nhận sự điều tiết thị trường bằng những quy luật của nó - một điều rất xa
lạ với nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp trước đó. Các quy luật như: quy
luật cung cầu, quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh ... đã trở thành “những bàn tay
vô hình” tác động, điều chỉnh các hoạt động kinh tế thị trường. Nền kinh tế thị
trường mà ở đó lợi nhuận và hiệu quả được xem là mục tiêu, điều kiện đồng thời
là lý do tồn tại hay không tồn tại của doanh nghiệp. Do đó, cạnh tranh cũng xuất
hiện như một hiện tượng phổ biến mang tính tất yếu trên thị trường. Nó diễn ra
trên mọi mặt của đời sống kinh tế và trở thành yếu tố quan trọng mà các doanh
nghiệp buộc phải quan tâm.
Từ năm 1995, với việc tham gia ASEAN, nước ta bắt đầu tham gia vào
quá trình hội nhập kinh tế một cách toàn diện và ngày càng sâu rộng hơn đánh
dấu bằng việc tham gia diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á Thái Bình Dương
(APEC), ký kết hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA) và mới đây là
việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Quá trình này đã làm thay
đổi một cách cơ bản vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế .
Đối xử bình đẳng giữa các nước bạn hàng, giữa doanh nghiệp trong nước
và doanh nghiệp nước ngoài là một trong những cam kết cơ bản trong AFTA,
APEC, BTA và WTO. Các cam kết sẽ tăng thêm sức ép cạnh tranh với hàng hoá
nhập khẩu, với doanh nghiệp nước ngoài hoạt động trong và ngoài lãnh thổ Việt
Nam. Điều này sẽ đặt các doanh nghiệp trong nước cũng như toàn bộ nền kinh
tế trước những thách thức cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài. Tuy
nhiên, thể chế pháp lý ở nước ta lúc này vẫn còn nhiều bất cập trong việc đảm
bảo cạnh tranh lành mạnh và kiểm soát độc quyền trong kinh doanh, đang hạn
của Luật Cạnh tranh (2004).
Với mục đích tìm hiểu một cách toàn diện về cạnh tranh, pháp luật cạnh
tranh và ảnh hưởng của tiến trình CPH DNNN đối với việc đưa Luật Cạnh tranh
vào cuộc sống, người viết đã chọn vấn đề này làm đề tài nghiên cứu cho khoá
luận tốt nghiệp, khoá học 2003 – 2007.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Những năm gần đây có một số bài viết, công trình nghiên cứu khoa học
tập trung nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn của cạnh tranh nói riêng và
CPH DNNN nói chung. Mỗi công trình khoa học có mục đích nghiên cứu khác
nhau, do vậy cách tiếp cận và phạm vi nghiên cứu cũng khác nhau. Nhưng chưa
có đề tài nào tập trung nghiên cứu CPH DNNN trên phương diện như một giải
pháp thực thi Luật Cạnh tranh trong cuộc sống. Vì vậy, nội dung, phạm vi
nghiên cứu đề tài này không trùng lặp với các công trình đã được nghiên cứu
trước đó.
3. Phạm vi và mục đích nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về cạnh
tranh, từ đó khẳng định sự cần thiết của việc CPH DNNN đối với quá trình thực
thi có hiệu quả Luật Cạnh tranh. Đồng thời nghiên cứu thực tiễn cạnh tranh và
CPH DNNN, chỉ ra những kết quả đã đạt được, những điểm còn hạn chế và cần
khắc phục.
- Mục đích nghiên cứu: Đi sâu nghiên cứu tình hình cạnh tranh, tình hình
CPH DNNN ở Việt Nam hiện nay, qua đó tìm ra mối quan hệ biện chứng giữa
chính sách cạnh tranh và chính sách về CPH DNNN .Chỉ ra vai trò của CPH
DNNN đối với quá trình đưa Luật Cạnh tranh vào cuộc sống. Đánh giá đúng
tính chất, thực trạng cạnh tranh trên thị trường Việt Nam và sự cần thiết của
CPH DNNN trong việc tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng. Từ
đó kết hợp với cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất một số giải pháp đẩy nhanh
tiến trình CPH DNNN nhằm thực thi có hiệu quả Luật Cạnh tranh.
4. Phương pháp nghiên cứu
3
1. Khái quát chung về cạnh tranh và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
1.1. Cạnh tranh - động lực thúc đẩy nền kinh tế thị trường
Quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh
tế thị trường sẽ làm thay đổi về căn bản vai trò của Nhà nước trong thị trường.
Có những điều được coi là hiển nhiên trong nền kinh tế kế hoạch hoá đã trở nên
không phù hợp với nền kinh tế thị trường và ngược lại, có điều không được chấp
nhận trong kinh tế tập trung lại thích hợp trong kinh tế thị trường - cạnh tranh là
một trong những phạm trù như vậy.
Nền kinh tế thị trường hiểu một cách đơn giản nhất là nền kinh tế vận
hành theo cơ chế thị trường. Ở đó, sản xuất cái gì, như thế nào, cho ai được giải
quyết do yêu cầu khách quan của thị trường. Cơ chế thị trường được hiểu là tổng
thể các nhân tố cơ bản vận động dưới sự chi phối của các quy luật thị trường
trong môi trường cạnh tranh nhằm mục tiêu lợi nhuận. Cạnh tranh là một trong
những đặc trưng cơ bản của cơ chế thị trường. Không có cạnh tranh thì không có
nền kinh tế thị trường. Chính vì vậy, nền kinh tế thị trường khi vận hành cũng
phải tuân theo những quy luật khách quan riêng của mình, đó là quy luật cạnh
tranh.
1.1.1. Khái niệm cạnh tranh
Cho đến nay, về mặt kinh tế đa số các quốc gia trên thế giới đều đi theo
con đường kinh tế thị trường. Thừa nhận với nền kinh tế thị trường cũng đồng
nghĩa với việc thừa nhận các quy luật của nó, trong đó có quy luật cạnh tranh là
quy luật chi phối mạnh mẽ nhất mọi hoạt động của nền kinh tế thị trườn. Nhận
thức được quy luật cạnh tranh, những vấn đề liên quan đến cạnh tranh trong nền
kinh tế thị trường là vô cùng quan trọng và cần thiết đối với Nhà nước – chủ thể
có nhiệm vụ điều tiết nền kinh tế thị trường, đối với các thành phần trong nền
kinh tế thị trường với tư cách là các chủ thể trực tiếp tham gia vào quá trình
5
cạnh tranh. Trong kinh tế thị trường, cạnh tranh là sự sống còn của doanh
nghiệp.
Về mặt thuật ngữ, cạnh tranh (compete. đgt) tên tiếng Anh (competition)
diễn ra trên một thị trường hàng hoá cụ thể. Ví dụ: vì mục tiêu lợi nhuận, doanh
số hoặc thị phần. Xét về phương diện pháp lý, cạnh tranh chỉ có thể diễn ra trong
điều kiện pháp luật thừa nhận và bảo hộ tính đa dạng của các loại hình sở hữu,
khi tự do thương mại và theo đó là sự tự do kinh doanh và quyền tự chủ của các
nhân được hình thành và đảm bảo.
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh, các tín hiệu giá cả, lợi nhuận tạo
ra sự kích thích để các doanh nghiệp chuyển nguồn lực từ nơi tạo ra giá trị thấp
hơn sang nơi giá trị cao hơn. [16, tr. 17].
1.1.2. Vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường
Cạnh tranh có thể đưa đến lợi ích cho người này và thiệt hại cho người
khác, song xét dưới góc độ toàn xã hội, cạnh tranh luôn có tác động tích cực.
Đối với xã hội, cạnh tranh là động lực quan trọng nhất để huy động nguồn lực
của xã hội vào sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ còn thiếu, qua đó nâng
cao năng lực sản xuất của toàn xã hội. Đối với nền kinh tế, cạnh tranh đảm nhận
một số chức năng quan trọng như: đảm bảo điều chỉnh giữa cung và cầu; hướng
dẫn việc sử dụng các nhân tố vào sản xuất vào những nơi có hiệu quả nhất, tạo
môi trường thuận lợi để sản xuất thích ứng với mọi sự biến động của nhu cầu và
công nghệ sản xuất, cạnh tranh tác động tích cực đến sự phân phối thu nhập.
Tầm quan trọng của những chức năng này có thể thay đổi theo từng thời kỳ. Ở
mỗi thời kỳ khác nhau, tuỳ theo việc đánh giá tầm quan trọng của mỗi chức
năng, người ta xây dựng mô hình chính sách cạnh tranh khác nhau.
Cạnh tranh điều chỉnh cung – cầu hàng hoá trên thị trường: khi một cung
hàng hoá nào đó lớn hơn cầu, cạnh tranh giữa những người bán làm cho giá cả
thị trường giảm xuống, chỉ những chủ cơ sở kinh doanh kinh doanh nào đủ khả
năng cải tiến công nghệ, trang bị kỹ thuật, phương thức quản lý và hạ được giá
bán sản phẩm mới có thể tồn tại được. Với ý nghĩa đó, cạnh tranh là nhân tố
quan trọng kích thích ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến trong sản xuất.
7
Khi một cung hàng hoá nào đó thấp hơn cầu, hàng hoá sẽ trở nên khan
hiếm trên thị trường, giá cả tăng tạo nên lợi nhuận cao hơn mức bình quân. Khi
những quốc gia khi thống kê DNNN lại bỏ qua những DNNN do chính quyền
địa phương quản lý. Tuy nhiên, đa số các nước đều có những điểm chung khi
nói đến DNNN - Đó là vấn đề sở hữu của Nhà nước.
Định nghĩa DNNN được sử dụng khá phổ biến là định nghĩa trong Báo
cáo của Tổ chức phát triển Liên hợp quốc (UNIDO). Theo UNIDO, DNNN
được định nghĩa là các tổ chức kinh tế thuộc sở hữu Nhà nước hoặc do Nhà
nước kiểm soát, có thu nhập chủ yếu từ việc tiêu thụ hàng hoá và cung cấp dịch
vụ. Theo định nghĩa này, DNNN bao gồm các doanh nghiệp mà Nhà nước giữ
phần lớn cổ phần và cả những doanh nghiệp tuy Nhà nước không giữ phần lớn
cổ phần song do sự phân tán của cổ đông mà Nhà nước nắm giữ quyền chi phối,
các doanh nghiệp hoàn toàn thuộc sự quản lý của các bộ ngành.
Khái niệm DNNN trong hệ thống pháp luật Việt Nam thay đổi qua nhiều
thời kỳ tương ứng với sự thay đổi về quan niệm đối với sở hữu Nhà nước, thay
đổi trong cơ chế quản lý kinh tế. Cùng với việc chuyển sang nền kinh tế thị
trường và để DNNN hoạt động có hiệu quả hơn, năm 1995, Nhà nước ta đã ban
hành Luật DNNN, thể chế hoá nhiều quan điểm mới về loại hình doanh nghiệp
này.
Luật DNNN 1995 định nghĩa DNNN như sau: “DNNN là tổ chức kinh tế
do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh
hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nước
giao, DNNN có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu
trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh
nghiệp quản lý. DNNN có tên gọi, có con dấu riêng và có trụ sở chính chính trên
lãnh thổ Việt Nam”
Khái niệm DNNN được phát triển tương đối sâu trong định nghĩa và các
quy định của Luật DNNN 2003. Điều 1 – Luật DNNN 2003 quy định: “DNNN
là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc cổ phần, vốn góp
chi phối, được tổ chức dưới hình thức Công ty Nhà nước, công ty cổ phần, công
ty trách nhiệm hữu hạn”.
9
10
hội sang sở hữu của cá nhân, CPH DNNN ở Việt Nam nhằm thu hút sự tham gia
làm chủ thực sự của người lao động vào DNNN thông qua việc để họ sở hữu
một phần vốn trong DNNN, biến họ từ “người lao động ” thuần tuý thành người
lao động “có sở hữu vốn của doanh nghiệp”. Giải pháp này làm cho doanh
nghiệp có thêm những chủ nhân thực sự bên cạnh chủ nhân trừu tượng là Nhà
nước. Với tư cách là giải pháp cải cách nền kinh tế, CPH DNNN ở nước ta
được tiến hành với sự cân nhắc triệt để các hậu quả chính trị và xã hội của nó.
Đặc biệt CPH DNNN vẫn đảm bảo được tính định hướng xã hội chủ nghĩa của
việc phát triển kinh tế thị trường trong lúc vẫn củng cố được những thành quả
của công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở nước ta [20, tr. 170].
Xét về bản chất pháp lý: CPH là việc biến doanh nghiệp một chủ thành
doanh nghiệp nhiều chủ, tức là chuyển từ hình thức sở hữu đơn nhất sang sở hữu
chung thông qua việc chuyển một phần tài sản của doanh nghiệp cho những
người khác.Những người này trở thành sở hữu chủ của doanh nghiệp theo tỷ lệ
tài sản mà họ sở hữu trong doanh nghiệp CPH. Xét đưới góc độ này thì CPH dẫn
tới sự xuất hiện không chỉ của công ty cổ phần trên nền tảng của doanh nghiệp
được CPH
Qua phân tích trên đây ta thấy, để hiểu rõ hơn về bản chất của CPH, cần
phải nhận thức được bản chất chính trị và bản chất pháp lý của CPH.
1.2.2. Vai trò của CPH DNN trong việc thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh
CPH có vai trò to lớn trong việc đổi mới DNNN, nhất là ở những nền kinh
tế chuyển đổi từ kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa. Tác dụng của CPH thể hiện ở một số khía cạnh sau đây:
Thứ nhất, CPH có tác dụng làm cho sở hữu đối với doanh nghiệp trở nên
đa dạng hơn. Chính vì vậy nó giải quyết được khá triệt để về vấn đề sở hữu
trong DNNN loại hình doanh nghiệp với những vướng mắc về hậu quả và sự
kém năng động trong sản xuất kinh doanh.
Thứ hai, CPH có tác dụng trong xã hội hoá tư liệu sản xuất trong doanh
nghiệp thuộc sở hữu một chủ. Như vậy, các thực thể kinh doanh vĩ mô cũng trở
tốt lành cho những hành động lãng phí, tham nhũng. CPH tạo ra sự giám sát chặt
12
chẽ của chủ sở hữu (cổ đông) đối với giám đốc và cán bộ quản lý DNNN CPH.
Điều này có nghĩa là Giám đốc, nhân viên quản lý không dễ dàng thực hiện các
hành vi vụ lợi như khi DNNN đang hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của Nhà
nước.
Những phân tích về tác động của CPH đã nêu ở trên có ý nghĩa quan
trọng đối với việc đổi mới và nâng cao hiệu quả của DNNN, từ đó góp phần
thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh trên thị trường.
2. Khái quát pháp luật về cạnh tranh và pháp luật về cổ phần hóa doanh
nghiệp nhà nước
2.1. Pháp luật về cạnh tranh
Cạnh tranh là một hiện tượng gắn liền với kinh tế thị trường. Do đó cạnh
tranh chỉ xuất hiện dưới những tiền đề kinh tế pháp lý cụ thể. Ngày nay, có lẽ
không ai còn hoài nghi về sự phát triển tất yếu của nền kinh tế thị trường ở nước
ta, vì vậy cạnh tranh đã đựoc nhìn nhận chung như là động lực phát triển nội tại
của nền kinh tế thị trường. Cạnh tranh cũng chỉ thật sự diễn ra khi pháp luật thừa
nhận và bảo hộ tính đa dạng của các loại hình sở hữu, khi tự do thương mại và
theo đó là tự do kinh doanh, tự do khế ước và quyền tự chủ của các cá nhân
được hình thành và bảo đảm. Cạnh tranh cũng chỉ diễn ra khi không có bất kỳ
một quy định hay hành vi nào ngăn cản sự nhập cuộc của các doanh nghiệp tiềm
năng [19, tr. 5]- những doanh nghiệp chuẩn bị gia nhập thị trường. Tất cả những
tiền đề đó đã được hình thành ở nước ta từ khi Đảng và Nhà nước ta có chủ
trương thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường đó. Nền tảng pháp lý của chủ
trương đó là Hiến pháp 1992 (Điều 15 và các điều 16, 19, 20, 21, 22, 25). Ngày
nay, nhu cầu nâng cao hơn nữa hiệu quả và sức mạnh cạnh tranh của sản phẩm,
của doanh nghiệp, và cả nền kinh tế đòi hỏi phải tạo ra cơ sở pháp lý cho tự do
cạnh tranh và kiểm soát quá trình đó trong quỹ đạo của nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa.
2.1.1. Sự cần thiết phải ban hành Luật Cạnh tranh
tượng này. Khi chưa có Luật Cạnh tranh, nhiều khi các cơ quan công quyền đã
phải chọn các giải pháp mang tính tình thế là “mượn” các quy phạm trong các
luật khác để xử phạt, hệ quả tất yếu là dễ bị rơi vào một trong hai khuynh
14
hướng: hoặc “tả khuynh” (hình sự hoá các quan hệ dân sự, kinh tế ), hoặc “hữu
khuynh” (để mặc vi phạm diễn ra mà không xử lý vì chưa có quy phạm để điều
chỉnh) [23]. Chính vì vậy, rất cần thiết phải có các quy định của pháp luật để
điều tiết các hành vi và hiện tượng đã nêu trên.
Thứ hai, nhu cầu kiểm soát độc quyền, đặc biệt khi mở cửa thị trường để
hội nhập kinh tế quốc tế.
Độc quyền trong kinh doanh dù hình thành và tồn tại bằng cách nào cũng
thường gây ra những hậu quả tiêu cực nhất định đối với nền kinh tế quốc dân.
Độc quyền trong kinh doanh sẽ dẫn đến hình thành giá cả độc quyền, giá cả lũng
đoạn cao, làm ảnh hưởng đến lợi ích của người tiêu dùng. Ở hầu hết các nước
đều tồn tại các loại độc quyền tự nhiên, độc quyền Nhà nước. Ở nước ta, với
xuất phát điểm thấp và một số đặc điểm nội tại của tình hình kinh tế – xã hội
trong thời gian tới sẽ vẫn còn một số ngành và lĩnh vực tồn tại một số ngành và
lĩnh vực tồn tại độc quyền Nhà nước. Tuy nhiên, thông qua các quy định của
Luật Cạnh tranh, Nhà nước cần có cơ chế kiểm soát nhằm hạn chế hiện tượng
cửa quyền, lũng đoạn, lạm dụng vị trí độc quyền để tránh gây hậu quả xấu cho
xã hội.
Bên cạnh đó, cùng với quá trình mở cửa thị trường thông qua việc ký kết
và gia nhập các hiệp định thương mại song phương và đa phương, đã và sẽ xuất
hiện những công ty đa quốc gia hoạt động ở Việt Nam. Những công ty này, với
sức mạnh kinh tế của mình, có khả năng tạo lập được vị thế độc quyền. Trong
bối cảnh đó, các doanh nghiệp nội địa Việt Nam với tiềm lực hạn chế đang có
nguy cơ bị loại bỏ. Để chiếm lĩnh thị trường, các doanh nghiệp nước ngoài đã
thiết lập vị thế độc quyền diễn ra ở mức độ khác nhau. Do đó, việc chuẩn bị các
cơ sở pháp lý để kiểm soát độc quyền trong kinh doanh là điều cần thiết.
Thứ ba, yêu cầu tạo lập và duy trì một môi trường kinh doanh bình đẳng.
cạnh tranh. Bên cạnh đó, quản lý Nhà nước về cạnh tranh cũng là một vấn đề
lớn thuộc pháp luật cạnh tranh mà theo đó, pháp luật thiết lập cơ quan cạnh
tranh và xác lập địa vị pháp lý của chúng [22, tr . 5;6]. Nhiều quốc gia đã điều
tiết cạnh tranh bằng pháp luật ngay cuối thế kỷ XIX như : Canada là quốc gia
đầu tiên trên thế giới ban hành Luật Cạnh tranh (1889). Song khi nhắc đến Luật
16
Cạnh tranh, người ta vẫn coi Hoa Kỳ là “cha đẻ” của ngành luật này với hai đạo
luật được ban hành cách đây trên dưới một thế kỷ (Đạo luật Sherman Act năm
1980 và Clayton Act năm 1914) hoặc từ những thập niên 40, 50 của thế kỷ XX
như: Pháp (1945), Nhật Bản (1947), Cộng hoà Liên Bang Đức (1958)… Kinh
nghiệm của một số nước trong thiết kế chính sách cạnh tranh được thể hiện:
Mỹ là một trong những nước sử dụng rộng rãi và thành công yếu tố cạnh
tranh để phát triển kinh tế và là nước ban hành Luật Cạnh tranh từ rất sớm. Do
vậy thực tế, Mỹ đã có môi trường cạnh tranh tự do nên pháp luật cạnh tranh của
Mỹ tập trung chủ yếu vào việc ngăn ngừa hạn chế hình thành độc quyền. Trong
khi đó, do hệ thống pháp luật còn quy định hạn chế cạnh tranh nên Australia có
một cách tiếp cận ngược lại: chú trọng phát triển cạnh tranh, chống hạn chế cạnh
tranh hơn là kiểm soát hành vi của doanh nghiệp độc quyền [16, tr . 22].
Ở Pháp, Luật Cạnh tranh được hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật
có mục đích điều tiết thị trường. Nói một cách đơn giản thì Luật Cạnh tranh bao
gồm “những quy định kiểm soát, những biện pháp mà các tác nhân kinh tế sử
dụng để thu hút khách hàng của tác nhân khác” [15, tr. 14].
Nhật Bản là một nước Châu Á có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam,
nhất là văn hoá kinh doanh, với việc đánh giá tinh thần cộng đồng cao hơn tính
độc lập cá thể. Nền kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh cũng gặp những vấn đề mà
hiện nay ta đang phải giải quyết như: môi trường kinh doanh thiếu minh bạch, rõ
ràng.
Mặc dù cách rất xa Việt Nam về mặt địa lý, nhưng kinh nghiệm của
Mexico rất đáng đựoc tham khảo. Là một nước đang phát triển, Mexico chấp
nhận và khuyến khích cạnh tranh ngay cả với nước láng giềng khổng lồ có
Luật Cạnh tranh (2004) ra đời là một chế định pháp lý mới, phù hợp với
cơ chế thị trường. Luật này điều chỉnh những nội dung chủ yếu sau:
- Quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh: Thoả thuận hạn chế cạnh tranh,
lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền, tập trung kinh
tế;
- Quy định về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh;
- Quy định về cơ quan quản lý cạnh tranh và Hội đồng cạnh tranh;
18
- Quy định về trình tự thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh, biện pháp xử
lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh.
Cùng với việc ban hành Luật Cạnh tranh, Chính phủ đã ban hành các văn
bản hướng dẫn thi hành Luật Cạnh tranh, gồm những văn bản sau:
- Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 của Chính phủ quy định
chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh;
- Nghị định số 120/2005/NĐ-CP ngày 30/09/2005 của Chính phủ quy
định về xử lý vi phạm trong lĩnh vực cạnh tranh;
- Nghị định số 05/2005/NĐ-CP ngày 09/01/2006 của Chính phủ về việc
thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn, cơ cấu tổ chức của
Hội đồng cạnh tranh;
- Nghị định số 06/2006/NĐ-CP ngày 09/01/2006 của Chính phủ quy định
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục quản lý cạnh tranh.
Luật Cạnh tranh (2004) và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo ra
khung pháp lý để duy trì một trật tự cạnh tranh lành mạnh ở nước ta.
2.2. Pháp luật về CPH DNNN
CPH là giải pháp sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả của
DNNN, mang tính chất chiến lược và có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của
nền kinh tế, xã hội của đất nước.
2.2.1. Sự cần thiét của pháp luật điều chỉnh CPH DNNN
CPH DNNN động chạm đến sở hữu Nhà nước, sở hữu toàn dân theo
hướng giảm tỷ trọng của nó. Hơn nữa, do nhiều yếu tố gắn với cơ chế kế hoạch
liên quan đến việc thực thi Nghị định này [20, tr. 275]. Cho đến nay, việc rà soát
và đánh giá lại các tác động cũng như hiệu lực của các quy định pháp luật về
CPH chưa được thực hiện một cách chính thức và đầy đủ. Một trong những yêu
cầu hiện nay là rà soát để loại bỏ các quy định mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu tác
dụng hoặc phản tác dụng đối với tiến trình CPH.
Thứ ba: CPH động chạm đến nhiều vấn đề pháp lý quan trong như vấn đề
sở hữu Nhà nước, Công ty cổ phần, phát hành chứng khoán, việc làm, bảo hiểm.
Các vấn đề nêu trên đều được điều chỉnh bằng các văn bản luật, chính vì vậy,
20
nhiều quy định của pháp luật về CPH, mặc dù có tầm quan trọng rất lớn song
vẫn dễ bị vô hiệu hoá bởi các Nghị định và các văn bản dưới luật khác.
Thứ tư: Do chúng ta coi CPH như một chương trình quốc gia nên việc thể
chế hoá nó cũng cần ở tầm một văn bản luật. Các quốc gia khi thực hiện tư nhân
hoá như một chính sách, chương trình quốc gia đều ban hành Luật CPH. Kinh
nghiệm này cũng cần được tham khảo đối với việc thực hiện chương trình quốc
gia về CPH ở nước ta.
Như vậy, việc ban hành các quy định của pháp luật về CPHDNNN là một
việc làm hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
2.2.2. Tổng quan pháp luật về CPH DNNN
2.2.2.1. Khái quát sự phát triển của các quy định pháp luật về CPH
DNNN
CPH DNNN trong suốt thời gian đã đựoc tiến hành trên một nền tảng
pháp lý chưa thực sự vững chắc. Điều này được thể hiện qua thực trạng pháp
luật về CPH dưới đây:
Văn bản pháp luật đầu tiên về CPH DNNN là Quyết định số 143/HĐBT
ngày 10/05/1990. Quyết định này đã đưa ra một số điều kiện để chọn các DNNN
làm thí điểm CPH. Hơn nữa, các tiêu chí cho việc chọn DNNN thí điểm CPH
hoàn toàn dựa vào mong muốn chủ quan của doanh nghiệp, ý chí của chủ sở hữu
không được thể hiện rõ. Theo Quyết định, chỉ những DNNN kinh doanh có lãi
và có khả năng mua cổ phần mới điựơc tiến hành CPH. Tiếp theo Quyết định
178/2004/NĐ- CP ngày 16/11/2004. Nghị định này được ban hành trên cơ sở kế
thừa các quy định phù hợp với thực tế cuộc sống của các văn bản pháp luật
trước đây, cũng như thực tiễn CPH sinh động. Nội dung của pháp luật hiện hành
về CPH có những điểm quan trọng sau:
* Đối tượng áp dụng:
Về cơ bản, không có những hạn chế đối với diện DNNN CPH. Hạn chế
CPH chỉ áp dụng đối với những doanh nghiệp Nhà nước cần nắm giữ 100% vốn
theo những danh mục mà Chính phủ công bố, DNNN được CPH không phụ
thuộc vào thực trạng hoạt động, điều kiện hạn chế đối với việc CPH bộ phận của
DNNN là bộ phận đó có đủ điều kiện hạch toán độc lập và việc CPH không ảnh
22
hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hoặc bộ phận còn
lại của DNNN.
* Hình thức CPH:
Thứ nhất: Giữ nguyên vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành
cổ phiếu thu hút thêm vốn, áp dụng đối với những doanh nghiệp cổ phần có nhu
cầu tăng thêm vốn điều lệ. Mức vốn huy động thêm tuỳ thuộc vào quy mô và
nhu cầu vốn của công ty cổ phần. Cơ cấu vốn điều lệ của công ty cổ phần đựoc
phản ánh trong phương án CPH.
Thứ hai: Bán một phần vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết
hợp vừa bán bớt một phần vốn Nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để thu
hút vốn.
Thứ ba: Bán toàn bộ vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp
vừa bán toàn bộ vốn Nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để thu hút vốn.
* Chủ thể được mua cổ phần:
Đối tượng và điều kiện mua cổ phần được mở rộng. Pháp luật quy định
nhà đầu tư trong nước được quyền mua cổ phần của các doanh nghiệp CPH với
số lượng không hạn chế, còn nhà đầu tư nước ngoài được mua cổ phần của các
doanh nghiệp CPH theo quy định của pháp luật Việt Nam.
* Xử lý tài chính khi CPH:
kinh tế quốc tế, tham gia nhiều hơn vào các khu vực mậu dịch tự do hoặc các
hiệp định thương mại song phương, đa phương sẽ là một thách thức lớn đối với
nền kinh tế nước ta. Đòi hỏi đặt ra là phải tiến hành cải cách DNNN, giúp những
doanh nghiệp này tự chủ hơn, năng động hơn trên thị trường. Và CPH là một
trong những giải pháp hiệu quả đáp ứng đựoc yêu cầu đó. CPH làm cho hiệu quả
sản xuất kinh doanh của các DNNN CPH được nâng cao. CPH không làm thay
đổi một cách cơ bản kết cấu sở hữu của nền kinh tế. Chính sự đa dạng về hình
thức tồn tại của DNNN sẽ làm sinh động thành phần kinh tế công, làm nó thích
ứng hơn với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Sức mạnh của
DNNN được tăng lên, từ đó giúp hình thành nên những tập đoàn kinh tế lớn, đầy
đủ sức cạnh tranh trên thị trường.
24
Đi liền với tăng cường hiệu quả của DNNN, CPH thu hẹp những doanh
nghiệp làm ăn thua lỗ trên các địa bàn và trong các lĩnh vực ngành nghề. Nhờ đó
mà khu vực kinh tế tư nhân có cơ hội đầu tư hình thành các doanh nghiệp tư
nhân hoặc các công ty cổ phần năng động, dễ thích ứng với sự thay đổi của công
nghệ và thị trường. Lúc này, các chủ thể kinh doanh được tự chịu trách nhiệm
trước quyết định của mình, khi họ được tự do lựa chọn hàng hoá dịch vụ từ
những nhà cung cấp khác nhau, cũng như việc phải tiêu thụ được sản phẩm của
họ trên thị trường ngày càng khó tính, lúc đó buộc nhà đầu tư phải vươn lên để
kinh doanh có hiệu quả. Qua đó giúp tăng cường sức mạnh của kinh tế tư nhận.
Giống như quy luật cạnh tranh sinh tồn trong tự nhiên, quy luật cạnh tranh trong
nền kinh tế thị trường luôn khẳng định chiến thắng luôn thuộc về những chủ thể
kinh doanh có khả năng thích nghi với thị trường mạnh hơn, có trình độ quản lý
và tri thức về khoa học và công nghệ cao, có tố chất sáng tạo. Chỉ khi có sức
cạnh tranh mạnh mẽ, doanh nghiệp mới có cơ hội tồn tại và phát triển. Ngược
lại, những chủ thể kinh doanh yếu kém không đủ năng lực, không thích nghi
đựợc với các điều kiện của thị trường sẽ bị loại ra khỏi đời sống kinh doanh.
2.3.2. CPH DNNN - tiền đề cho hạot động cạnh tranh diẽn ra trên thị
trường