pháp luật hiện hành về tổ chức và hoạt động của tôn giáo - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 2012-2015

ĐỀ TÀI
PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ TỔ CHỨC VÀ
HOẠT ĐỘNG CỦA TÔN GIÁO

Giảng viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

ThS. Nguyễn Lan Hương

Cao Thị Kiều
MSSV: S120035
LỚP LUẬT DT1263B1

CẦN THƠ -


NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………

PL: Pháp lệnh.
UBND: Ủy ban nhân dân.
UBTVQH: Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
QLNN: Quản lý nhà nước.
TT: Thông tư


MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................ …….1
2. Mục tiêu nghiên cứu............................................................................................ …….2
3. Phạm vi nghiên cứu............................................................................................. …….2
4. Phương pháp nghiên cứu. .................................................................................... …….2
5. Cấu trúc đề tài. .................................................................................................... …….2
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÔN GIÁO VÀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC VẤN ĐỀ TÔN GIÁO……………………………………………………..3
1.1. Khái quát về tôn giáo ....................................................................................... …….3
1.1.1. Khái niệm về tôn giáo............................................................................... …….3
1.1.2. Bản chất, nguồn gốc và tính chất của tôn giáo. ......................................... …….4
1.1.2.1. Bản chất của tôn giáo. .................................................................... …….4
1.1.2.2. Nguồn gốc của tôn giáo. ................................................................ …….6
1.1.2.3. Tính chất của tôn giáo. ................................................................... …….7
1.1.3. Ảnh hưởng của tôn giáo đến sự phát triển của xã hội ............................... ……...8
1.1.3.1. Những ảnh hưởng tích cực ............................................................ ……...9
1.1.3.2. Những ảng hưởng tiêu cực………………………………………………..9
1.2. Chính sách của Đảng và Nhà nước về tổ chức và hoạt động tôn giáo ............. ……...9
1.3. Khái quát quản lý nhà nước về tôn giáo.......................................................... …….12
1.3.1. Khái niệm về quản lý nhà nước .............................................................. …….12
1.3.2. Khái niệm quản lý nhà nước về tôn giáo ................................................. …….12

TRONG

LĨNH

VỰC

TỔ

CHỨC



HOẠT

ĐỘNG

TÔN

GIÁO…………………………………………………………………………………….37
3.1. Thực trạng trong hoạt động quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động tôn giáo.
............................................................................................................................. …….37
3.1.1. Sơ lược về tình hình tín ngưỡng tôn giáo ở nước ta hiện nay. ................. …….37
3.1.2. Những kết quả đạt được.......................................................................... …….39
3.1.3. Những mặt hạn chế................................................................................. ….....42
3.1.4. Nguyên nhân hạn chế ............................................................................. …….44
3.2. Những yêu cầu khách quan đối với hoạt động quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt
động tôn giáo. ....................................................................................................... …….45
3.3. Phương hướng và giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý nhà
nước về tổ chức và hoạt tôn giáo. .......................................................................... …….46
3.3.1. Phương hướng chủ yếu. .......................................................................... …….46

lành mạnh, giúp bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của con người mà pháp luật quy định.
Ngoài ra, quản lý nhà nước về tôn giáo giúpquan hệ giữa các tôn giáo, quan hệ giữa các
tín đồ mới đảm bảo được sự bình đẳng, các hành vi lợi dụng vào tôn giáo nhằm gây mất
an ninh trật tự, làm trái pháp luật, xâm phạm đến chủ quyền quốc gia đều bị nghiêm trị.
Chính vì lý do đó mà người viết chọn đề tài “Pháp luật hiện hành về tổ chức và hoạt
động tôn giáo” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình. Thông qua luận văn, người viết
mong muốn tìm hiểu về nội dung quản lý nhà nước về tôn giáo, đánh giá tổng hợp tìm ra
các giải pháp và một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về tôn giáo.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn tìm hiểu với mục đích nhằm làm sáng tỏa một số vấn đề về lý luận, pháp
lý, thực trạng hoạt động quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động tôn giáo ở nước ta
hiện nay, đồng thời tìm ra những hạn chế thiếu sót, bất cập trong hoạt động quản lý nhà

1


nước về tổ chức cũng như hoạt động của tôn giáo, từ đó người viết đưa ra những phương
hướng giải quyết nhằm nâng cao hơn hiệu quản lý nhà nước về tôn giáo.
3. Phạm vi nghiên cứu
Trong nội dung nghiên cứu của đề tài người viết chủ yếu tìm hiểu qui định của
pháp luật về quản lý nhà nước đối với tổ chức và hoạt động tôn giáo ở nước ta hiện nay,
những kết quả đạt được. Bên cạnh kết quả đạt được thì người viết tìm ra nguyên nhân của
hạn chế trong quản lý nhà nước về tôn giáo và những bất cập, vướng mắc khi áp dụng
pháp luật trên thực tế. Từ đó tổng hợp nhận xét và đưa ra phương hướng giải quyết nhằm
nâng cao hoạt động quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động tôn giáo đối với tình hình
nước ta hiện nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để tìm hiểu nội dung đề tài người viết đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu
như sau: phương pháp tổng hợp, phương pháp nghiên cứu và phân tích luật viết, bên cạnh
đó còn sử dụng các phương pháp như: sưu tập thông tin, tài liệu, các văn bản quy phạm

khi đạo Tin Lành tách ra khỏi Công giáo thành lập đạo giáo riêng thì “religion” trở thành
thuật ngữ chỉ hai tôn giáo (Công giáo và Tin Lành) cùng thờ chung một chúa.
Khoản đầu thế kỷ XVIII thuật ngữ “Tông giáo” lần đầu tiên được xuất hiện ở Nhật
Bản, sau đó du nhập sang Trung Hoa và Việt Nam. Đến Việt Nam thuật ngữ “Tông giáo”
được gọi là “Tôn giáo” vì kỵ húy với vua Thiệu Trị1.
Trên thực tế đã xuất hiện rất nhiều quan niệm, định nghĩa về tôn giáo khác nhau,
và khái niệm tôn giáo đã được các nhà nghiên cứu về tôn giáo bàn cãi nhiều, và đưa ra rất
nhiều khái niệm khác nhau. Trong lịch sử đã có rất nhiều khái niệm về tôn giáo như:
“Tôn giáo là niềm tin vào cái siêu nhiên”.
Các nhà tâm lý học cho rằng: Tôn giáo là sự sáng tạo của mỗi cá nhân trong nỗi cô
đơn của mình, tôn giáo là sự cô đơn, nếu anh chưa từng có cô đơn thì chưa từng có tôn
giáo. Các nhà thần học thì cho rằng: Tôn giáo là mối liên hệ giữa thần thánh và con
người.
Còn C.Mác và Ph.Ăngghen có khái niệm về tôn giáo khác nhau, mỗi khái niệm
mang một khía cạnh. C.Mác khái niệm: “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp
bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, nó là tinh thần của trật tự không có tinh
thần”2. Ph.Ăgnghen khái niệm: Tôn giáo là sự phản ánh hoang đường vào đầu óc con
người của những lực lượng bên ngoài, cái mà thống trị họ trong đời sống hàng ngày.
Dù theo quan niệm nào đi nữa thì tôn giáo luôn đề cập đến vấn đề hai thế giới: đó
là thế giới vật thể hữu hình và vô hình, thế giới người sống và thế giới sau khi chết, thế
giới hiện hữu và thế giới phi hiện hữu, nói đến tôn giáo là nói đến sự bất lực của con
người trong thế giới trần ai có nhiều đau khổ nên con người đã dựa vào thần thánh dù có
1
Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh - Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn - Khoa Nhân Học,
Tôn giáo là gì, [truy cập ngày 28/8/2014].
2
C. Mác - Ăngghen, NXB Sự Thật, Hà Nội 1980, tập 1, tr 14. (Trích dẫn trong Giáo trình Tôn giáo học Đại cương –
NXB Đại Học Huế-2009.

3

đẹp ở thế giới bên kia, cũng giống y như sự bất lực của người dã man trong cuộc đấu
tranh chống thiên nhiên đẻ ra lòng tin vào thần thánh, ma quỷ và những phép màu”4.
Tôn giáo là sự phản ánh nguyện vọng thuyết tha của con người mong muốn thoát
khỏi nỗi khổ ải, phản ánh một cách hoang đường hư ảo hiện thực khách quan đưa lại cho
con người niềm hy vọng về mặt tinh thần để quên đi nỗi đau hiện tại.
3

Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh-Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn-Khoa Nhân Học,
Tôn giáo là gì?, [truy cập ngày 07/7/2014].
4

Lênin toàn tập, NXB Tiến Bộ, Matxcơva 1979, tập 12, tr 169-171. (Trích dẫn trong Giáo trình Tôn giáo học Đại
cương –Nxb Đại Học Huế-2009).

4


Tôn giáo là hiện thực siêu hình của nhân loại, tuy nhiên tôn giáo còn chứa đựng giá
trị văn hóa phù hợp với đạo đức, đạo lý xã hội. Bản chất tôn giáo gắn với lợi ích
của con người nhất là phương diện tinh thần. Trong tác phẩm “Chống Đuyrinh”
Ph.Ăngghen đã có nhận xét làm cho chúng ta thấy rõ bản chất của tôn giáo: “Tất cả mọi
tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc của con người của những
lực lượng bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ, chỉ là sự phản ánh trong đó có
những lực lượng trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế”5.
1.1.2.2. Nguồn gốc của tôn giáo
Lênin đã gọi toàn bộ những nguyên nhân và điều kiện làm nảy sinh niềm tin tôn
giáo là những nguồn gốc của tôn giáo. Nguồn gốc đó bao gồm:
Nguồn gốc kinh tế - xã hội của tôn giáo: là toàn bộ những nguyên nhân kinh tế xã hội tất yếu nảy sinh và nuôi dưỡng niềm tin tôn giáo. Trong đó có một số nguyên nhân
và điều kiện gắn liền với mối quan hệ giữa con người với con người, một số khác gắn với
mối quan hệ giữa con người với tự nhiên.

trong đó có hai yếu tố giữ vai trò quyết định là tính tự phát của sự phát triển xã hội và ách
áp bức giai cấp cùng chế độ người bóc lột người. Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, chế độ
phong kiến và tư bản chủ nghĩa thì sự đối kháng giai cấp, sự áp bức giai cấp, chế độ
người bóc lột người là nhân tố quan trọng làm nảy sinh tôn giáo. Khi người nô lệ, người
nông nô, người vô sản họ bần cùng về mặt kinh tế, bị áp bức về mặt chính trị, bị tước
đoạt những phương tiện và khả năng phát triển tinh thần, họ không tìm ra lối thoát của sự
kìm kẹp, áp bức trong cuộc sống hiện thực, nhưng họ đã tìm ra lối thoát đó ở trên trời, ở
thế giới bên kia. Cũng trong các hình thái kinh tế - xã hội này thì những mối quan hệ xã
hội phát triển một cách tự phát, nhưng quy luật phát triển của xã hội biểu hiện như những
lực lượng mù quáng, trói buộc con người và ảnh hưởng đến quyết định số phận của họ.
Những lực lượng đó trong ý thức con người được thần thánh hóa và mang hình thức của
những lực lượng siêu nhiên. Đây là một trong những nguồn gốc xã hội chủ yếu của tôn
giáo. Như vậy sự yếu kém về trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, sự bần cùng về
kinh tế, áp bức bóc lột về chính trị, bất lực trước những bất công của xã hội là nguồn gốc
sâu xa của tôn giáo.
Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo: Ở những giai đoạn lịch sử nhất định, nhận thức
của con người về tự nhiên, xã hội và bản thân mình còn có giới hạn. Những hiện tượng tự
nhiên như mưa, bão, hạn hán, lũ lụt, núi lửa, động đất,… đã tác đông trực tiếp đến đời
sống con người, dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng. Và sự bất lực sợ hãi trước những
hiện tượng tự nhiên đó, khiến con người cầu khấn, thờ cúng các hiện tượng tự nhiên để
mong được che chở. Chính vì sự hạn chế của nhận thức mà con người đã mượn thần
thánh để lý giải cho các hiện tượng tự nhiên và để bù đắp cho sự nhận thức hạn chế của
mình. Mặt khác, trong tự nhiên và xã hội có nhiều điều khoa học chưa khám phá và giải
thích được nên con người lại tìm đến tôn giáo. Sự nhận thức của con người khi xa rời
hiện thực, thiếu khách quan dễ rơi vào ảo tưởng, thần thành hóa đối tượng. Mác viết:
Chính sự dốt nát của con người mà sinh ra tôn giáo, và chính tôn giáo lại kìm hãm con
người trong sự dốt nát ấy.
Nguồn gốc tâm lí của tôn giáo: Do sự sợ hãi, lo âu của con người trước sức mạnh
của tự nhiên và xã hội. Các nhà duy vật thường đưa ra luận điểm “sự sợ hãi sinh ra thần
linh”. Lênin đã tán thành ý kiến đó và Người đã phân tích thêm là sự sợ hãi trước thế lực

giáo còn có tính nhân văn sâu sắc, giáo dục con người biết hướng thiện, cho nên đến nay
tôn giáo vẫn được nhiều người thuộc các tầng lớp xã hội tin theo, hiện nay số lượng tín
đồ tôn giáo chiếm tỷ lệ khá cao trong dân số không riêng ở Việt Nam mà cả thế giới.
Tính chính trị của tôn giáo: Tuy tôn giáo mang tích chất duy tâm và có phần phản
khoa học vì tôn giáo phản ánh hư ảo thế giới thực tại bằng các lực lượng siêu nhiên, giải
thích các hiện tượng tự nhiên xã hội một cách duy tâm và thần bí, nhưng nó có giá trị tích
cực, thực sự đem lại cho con người niềm tin vào cuộc sống. Đến khi xã hội phân chia giai
cấp thì giai cấp thống trị đã lợi dụng tôn giáo vào mục đích chính trị nhiều hơn để củng
cố quyền lực và duy trì địa vị thống trị của họ, biến tôn giáo thành công cụ áp bức đối với
quần chúng – giai cấp bị trị. Giai cấp bóc lột đã kết hợp chặc chẽ giữa thần quyền và thế
quyền để duy trì sự thống trị của giai cấp mình, nhất là trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản,
giai cấp tư sản đã lợi dụng tôn giáo vào mục đích chính trị một cách mạnh mẽ hơn.
Những cuộc thập tự chinh thời Trung cổ ở châu Âu hay những xung đột tôn giáo ở bán đảo
Balkan (Ban-căng), Ân Độ, Pakixtan,... đều không ngoài những mục đích đó. Hiện nay tôn
giáo đang phát triển đa dạng và phức tạp không chỉ ở quốc gia mà cả quốc tế. Vì vậy, cần

7


nhận thức rõ: đa số quần chúng đến với tôn giáo nhằm thõa mãn nhu cầu tinh thần; song
trên thực tế đã và đang bị các thế lực chính trị – xã hội lợi dụng để thực hiện mục đích
ngoài tôn giáo của họ.
Trong công cuộc đổi mới và hội nhập hiện nay chúng ta cần tìm ra các biện pháp
tốt nhất và thích hợp nhất để giải quyết vấn đề tôn giáo.
1.1.3. Ảnh hưởng của tôn giáo đến sự phát triển của xã hội
1.1.3.1. Những ảnh hưởng tích cực
Tôn giáo là một thực thể xã hội xuất hiện rất sớm trong lịch sử loài người, có
nguồn gốc hình thành và phát triển và có ảnh hưởng rất lớn đối với đời sống, văn hóa,
chính trị, xã hội của quốc gia.
Có thể nói tôn giáo tác động mạnh mẽ đến đời sống tâm linh của bộ phận quần

Các giáo lý tôn giáo đều chứa đựng một số giá trị đạo đức nhân bản rất hữu ích
cho việc xây dựng nền đạo đức mới và nhân cách con người Việt Nam hiện nay. Giá trị
lớn nhất của đạo đức tôn giáo là góp phần duy trì đạo đức xã hội, hoàn thiện nhân cách cá
nhân, hướng con người đến Chân – Thiện – Mỹ. Tuy nhiên, đạo đức tôn giáo cũng còn
nhiều yếu tố tiêu cực. Cuộc sống hạnh phúc tốt đẹp trong tôn giáo chỉ là hư ảo, chứ tôn
giáo không đề cao cuộc sống trần thế, xem trần thế là nơi tạm bợ, vô thường. Trong giáo
lý của tôn giáo cho rằng sự bất hạnh, đau khổ của con người là do định mệnh, do số phận,
do kiếp trước kém tu, nó khuyên con người nhẫn nhục trước tình cảnh nô lệ, biết sợ hãi
trước sức mạnh siêu nhiên, tôn giáo sẽ làm cho con người lãng quên hiện thực, đặt tất cả
tinh thần, tâm tưởng vào thần thánh, tôn giáo dẫn dắt các tín đồ theo một triết lý sống
không hành động, không đấu tranh trong thực tại, lấy tu tâm dưỡng tính làm điều cốt yếu
để mau chóng được giải thoát ở bên ngoài thực tại, thế giới bên kia nơi Thiên đường của
Chúa hay Niết bàn của Phật. Tôn giáo làm cho nhân dân đắm chìm vào đam mê, làm con
người trở nên nhu nhược, tê liệt ý chí đấu tranh giai cấp, làm hạn chế tính tích cực, chủ
động và sáng tạo của con người, chỉ bằng lòng với số phận không vượt khó vươn lên,
không tích cực đấu tranh chống lại những cái xấu, cái ác, an ủi và ru ngủ con người trong
niềm tin rằng kẻ gây tội ác sẽ phải chịu “quả báo” hoặc bị trừng trị ở kiếp sau. Chính tâm
lý đó đã ngăn cản con người đi đến hạnh phúc thực sự của mình nơi trần thế, mà đạo đức
tôn giáo hướng con người tới khát vọng hạnh phúc, nhưng đó chỉ là thứ hạnh phúc hư ảo,
hão huyền. Và trong xã hội hiện nay không ít người dân tin vào sự bói toán mà ảnh
hưởng tới hạnh phúc gia đình gây tan vỡ hôn nhân, dâng lễ cúng bái để đuổi trừ tà ma để
chữa bệnh, làm ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng, gọi hồn…tạo cơ hội cho những ai
lừa đảo lợi dụng tín ngưỡng để trục lợi. Điều đó dẫn đến hậu quả xấu, ảnh hưởng đến đời
sống xã hội làm mất đi nhân phẩm và đạo đức con người.
Tôn giáo là một vấn đề nhạy cảm, là một phần đời sống tinh thần của con người
chính vì thế rất dễ bị kẻ xấu lợi dụng phục vụ cho nhu cầu chính trị, chống phá nhà nước,
chống phá công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong lịch sử và hiện tại đã có không ít
cuộc chiến tranh và xung đột tôn giáo. Và ở nước ta nhiều thế lực thù địch đã và đang có
âm mưu chống phá cách mạng, như vụ bạo động năm 2001 ở Tây Nguyên.
1.2. Chính sách của Đảng và Nhà nước về tổ chức và hoạt động tôn giáo

không chỉ tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo mà còn đánh giá cao vai trò của các
tôn giáo đối với dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Những quan điểm của Đảng ta từ ngày thành lập đến nay chứng minh rằng Đảng
coi quyền tự do tín ngưỡng là một nhu cầu quan trọng của con người, là một trong những
quyền công dân, quyền chính đáng của con người. Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn
luôn tôn trọng đức tin của đồng bào theo tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau, tôn trọng quyền
được theo bất cứ tôn giáo nào, mong muốn cho người dân theo tôn giáo. Thực tế, những
chủ trương, chính sách tín ngưỡng, tôn giáo không phải chỉ được khẳng định ở Hiến
pháp, pháp lệnh hay trong các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng mà được thể hiện sống động
trong cuộc sống hàng ngày. Trong báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XI về vấn đề tôn giáo được nêu cụ thể: “Tiếp tục hoàn thiện, chính sách pháp luật về
tín ngưỡng tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng, phát huy những giá trị văn hóa,
đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo, động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt
đời đẹp đạo, tham gia góp phần tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
6

Hoàng Công Khôi, Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo từ thực tiễn của thành phố Hà
Nội, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 5 (217) năm 2006, tr 6-8.
7
Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia – Sự thật,
H.2011, tr51.

10


Quan tâm và tạo mọi điều kiện cho các tổ chức tôn giáo, sinh hoạt theo hiên chương điều
lệ của các tổ chức tôn giáo, tôn giáo đã được Nhà nước công nhận đúng quy định của
pháp luật. Đồng thời chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi
dụng tín ngưỡng tôn giáo để mê hoặc, chia rẻ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc”8.
Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết dân tộc, không phân biệt đối

8
Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia – Sự thật,
H.2011, tr81.

11


thủ Hiến pháp và pháp luật, không được lợi dụng tôn giáo tuyên truyền tà đạo, hoạt động
mê tín dị đoan, không được ép buộc người dân theo đạo. Nghiêm cấm các tổ chức truyền
đạo, người truyền đạo và các cách thức truyền đạo trái phép, vi phạm các quy định của
Hiến pháp và pháp luật.
1.3. Khái quát quản lý nhà nước về tôn giáo
1.3.1. Khái niệm về quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước là quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng quyền
lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Quản lý nhà nước được thực hiện bởi
toàn bộ hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm thực hiện chức năng đối
nội, đối ngoại của nhà nước.
Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội mang tính nhà nước nhằm tổ chức và
điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người. Cũng có thể hiểu
quản lý nhà nước là thực hiện bằng các cơ quan nhà nước các cấp đối với quá trình kinh
tế, chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục, tôn giáo,….nhằm huy động sức mạnh của xã hội
để đạt được những mục tiêu của chủ thể quản lý.
Đặc điểm khác nhau cơ bản giữa quản lý nhà nước với các hình thức quản lý khác:
quản lý nhà nước mang tính quyền lực nhà nước gắn liền với cưỡng chế nhà nước khi cần
thiết; quản lý nhà nước được thực hiện bằng bộ máy quản lý chuyên nghiệp; quản lý nhà
nước phải dựa chủ yếu trên cơ sở pháp luật; quản lý nhà nước thể hiện cả tính giai cấp và
tính xã hội; có đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước chuyên trách có chế độ đãi ngộ riêng.
1.3.2. Khái niệm quản lý nhà nước về tôn giáo
Quản lý nhà nước về tôn giáo là các hoạt động mang tính quyền lực nhà nước do
cơ quan hành chính nhà nước hoặc các tổ chức, cá nhân được nhà nước giao quyền quản

- Đảm bảo và tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Tất cả
công dân có quyền và nghĩa vụ như nhau trước pháp luật.
- Cá nhân và tổ chức các hoạt động tôn giáo phải tuân thủ theo Hiến pháp và pháp
luật, phù hợp với lợi ích và nguyện vọng chính đáng của tín đồ được đảm bảo, có nghĩa
vụ bảo vệ Tổ quốc và giữ gìn độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia.
- Đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo trong khối đại đoàn kết
toàn dân. Những giá trị văn hóa tốt đẹp của tôn giáo được tôn trọng và phát huy. Hoạt
động mê tín dị đoan bị phê phán và loại bỏ. Những hành vi lợi dụng tôn giáo gây mất trật
tự xã hội, chống phá cách mạng, ngăn cản tín đồ thực hiện nghĩa vụ côn dân đều bị xử lý
theo pháp luật.
- Các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể tổ
chức xã hội và các tổ chức tôn giáo có trách nhiệm làm tốt công tác vận động quần chúng
và thực hiện đúng đắn chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước.
1.3.5. Mục tiêu, ý nghĩa của hoạt động quản lý nhà nước về tôn giáo
1.3.5.1. Mục tiêu
Quản lý nhà nước là một hoạt động có mục đích, mục tiêu, những mục đích, mục
tiêu cơ bản được định ra trước và kết quả của việc đạt được mục đích, mục tiêu đó là
phản ánh hiệu quả của việc quản lý. Để đạt hiệu quả của việc quản lý thì phải tiến hành
trên cơ sở những nguyên tắc nhất định.
Mục tiêu của hoạt động quản lý nhà nước về tôn giáo là góp phần tích cực vào
việc xây dựng những giá trị văn hóa và chuẩn mực xã hội tốt đẹp, nhất là giá trị đạo đức
“tốt đời đẹp đạo”. Tạo nên mối quan hệ lành mạnh giữa con người với con người nhất là
đồng bào tôn giáo. Bảo đảm được nhu cầu tín ngưỡng của quần chúng, nhưng không
ngừng khắc phục đi đến bày trừ các tệ nạn xã hội như mê tín dị đoan, ngăn ngừa lạm
dụng tín ngưỡng tôn giáo, nhằm đảm bảo ổn định về mặt xã hội và góp phần ổn định về

13


mặt chính trị, đi đến xây dựng đất nước phát triển kịp với thời đại nhưng không mất bản

và hoạt động tôn giáo thì Nhà nước ta đã đề ra một số nguyên tắc cơ bản.
2.1.1. Nguyên tắc đảm bảo cho mọi công dân được bình đẳng trước pháp luật
Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được thể hiện rõ trong
chương 2 của Hiến pháp 2013. Nhưng quy định mọi công dân được bình đẳng trước pháp
luật được quy định cụ thể tại Khoản 1, Điều 16, Hiến pháp năm 2013: “Mọi người đều
bình đẳng trước pháp luật”.
Bảo đảm cho mỗi công dân được bình đẳng trước pháp luật nghĩa là mỗi công
dân trong hoạt động thực hiện pháp luật có quyền đòi hỏi được đối xử giống như nhau,
bất cứ công dân nào không phân biệt người đó là ai, già hay trẻ, nam hay nữ, là giàu hay
nghèo, có chức vụ hay không có chức vụ trong bộ máy nhà nước, theo hay không theo tín
ngưỡng, tôn giáo,…đều có quyền và nghĩa vụ như nhau trước pháp luật.
Và trong mối quan hệ dân sự một khi các bên đã tham gia thì đều có quyền và
nghĩa vụ như nhau trước pháp luật, nếu như bên nào vi phạm thì bị xử lý nghiêm minh
mà không bị phân biệt đối xử. Chẳng hạn như trong một hợp đồng mua bán hàng hóa một
bên là người theo Phật giáo, một bên là người không theo tôn giáo nào; khi có vi phạm
hợp đồng (không giao hàng đúng hẹn như đã thỏa thuận gây tổn thất cho bên còn lại) thì
phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật, chứ không được phép cho mình là
là người của Phật nên được phép vi phạm và không cần bồi thường và ngược lại. Đây là
nguyên tắc bình đẳng được quy định tại Điều 5, Bộ Luật dân sự năm 2005: “Trong quan
hệ dân sự, các bên đều bình đẳng, không được lấy lý do khác biệt về dân tộc, giới tính,
thành phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp
để đối xử không bình đẳng với nhau”.
Không chỉ thế tại Khoản 1, Điều 8 Pháp lệnh của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội
số 21/2004/PL-UBTVQH11 ngày 18/6/2004 về tín ngưỡng, tôn giáo (gọi tắt là Pháp lệnh
tín ngưỡng, tôn giáo) cũng quy định: “1. Không được phân biệt đối xử vì lý do tín
ngưỡng, tôn giáo; vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân”.
Luật pháp Việt Nam không công nhận bất kỳ một sự đặc quyền, đặc lợi của bất
kỳ đối tượng tầng lớp nào trong xã hội. Bất kỳ công dân nào vi phạm pháp luật đều bị xử
lý theo pháp luật, trước pháp mọi công dân có tư cách giống như nhau.


“Điều 1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo
một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.
Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được
xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Người có tín ngưỡng, tôn giáo; người không có tín ngưỡng, tôn giáo hoặc người
có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau phải tôn trọng lẫn nhau.
Thông qua quy định mới này trong dự thảo không những thể hiện được quyền tín
nưỡng của mọi người mà còn nhằm bảo đảm quyền hoạt động tín ngưỡng của mọi người,

16


phù hợp quy định tại Hiến pháp 2013, đáp ứng yêu cầu quản lý Nhà nước về hoạt động
tín ngưỡng.
Tại Điều 2 của Nghị định số 92/2012/NĐ-CP ngày 08/11/2012 quy định chi tiết về
biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo quy định về quyền tự do tín ngưỡng,
tôn giáo của công dân như sau: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tôn
trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo
nào của công dân, không ai được xâm phạm quyền tự do ấy. Nghiêm cấm việc ép buộc
công dân theo đạo, bỏ đạo hoặc lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại
hoà bình, độc lập, thống nhất đất nước; kích động bạo lực hoặc tuyên truyền chiến tranh,
tuyên truyền trái với pháp luật, chính sách của Nhà nước; chia rẽ nhân dân, chia rẽ các
dân tộc, chia rẽ tôn giáo; gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến tính mạng, sức khoẻ,
nhân phẩm, danh dự, tài sản của người khác, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ
công dân; hoạt động mê tín dị đoan và thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác. Mọi
tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo đều bị xử lý theo
quy định của pháp luật”.
Tuy văn từ câu chữ khác nhau nhưng nội dung và ý nghĩa của các quy định trên là
giống nhau, tất cả đều quy định và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi công dân,
mọi công dân đều được hưởng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo mà không phải chịu sự

được đẩy mạnh… Có thể nói, đời sống tôn giáo ở Việt Nam chưa bao giờ sôi động như
hiện nay.
2.1.3. Nguyên tắc thống nhất sinh hoạt tôn giáo và giữ gìn bản sắc văn hóa
Những hoạt động tôn giáo mang ích nước lợi dân cùng với những giá trị văn hóa
đạo đức tốt đẹp “sống tốt đời đẹp đạo” phù hợp với nguyện vọng và lợi ích chính đáng
của đồng bào tôn giáo được Nhà nước ta tôn trọng và phát huy. Giữ vững và phát huy
khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết đồng bào tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, Đảng ta chính thức khẳng định
trong báo cáo chính trị: “phát huy những giá trị tố đẹp về văn hóa và đạo đức của tôn
giáo”9. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X cũng tiếp tục nêu quan điểm đấy, và đến
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng ta không chỉ nêu “phát huy những giá trị văn
hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo” mà còn “tôn trọng” những giá trị ấy.
Nguyên tắc này được cụ thể hóa tại Điều 5 và Điều 14 của Pháp lệnh của Ủy Ban
Thường Vụ Quốc Hội số 21/2004/PL-UBTVQH11 ngày 18/6/2004 về tín ngưỡng, tôn
giáo: “Điều 5: Tôn trọng giá trị văn hóa, đạo đức tôn giáo; giữ gìn và phát huy những giá
trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tưởng niệm và tôn vinh những người có
công với nước, với cộng đồng nhằm góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc,
đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân”.
“Điều 14: Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo phải được đảm bảo an toàn, tiết kiệm,
phù hợp với truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc, giữ gìn, bảo vệ môi trường”.
2.1.4. Nguyên tắc bảo đảm thống nhất, hài hòa giữa lợi ích cá nhân, cộng đồng,
quốc gia và xã hội
Mục tiêu hoạt động của Nhà nước là mang lại hạnh phúc cho tất cả mọi người, sự
phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của mọi người. Vì vậy
các quy định về quyền và nghĩa vụ công dân luôn chú ý đến lợi ích của cá nhân, cộng
đồng, quốc gia và xã hội phải được đảm bảo. Nhằm phát huy được sức mạnh của toàn bộ
cộng đồng dân tộc đảm bảo cho đại đoàn kết toàn dân, động lực chủ yếu của phát triển
được phát huy cao độ trong toàn cộng đồng dân tộc sống trên đất nước. Bảo đảm lợi ích
của các dân tộc, giải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữa các dân tộc, phát huy sức mạnh
9

quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên. Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm
túc. Công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ, phải đặt lợi ích của cách mạng, phải kiên
quyết quét sách chủ nghĩa cá nhân , nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập
thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật.
Trong nhân dân quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân luôn luôn là một chế định
cơ bản của luật Hiến pháp Việt Nam, và được quy định rất cụ thể trong một số văn bản
quy phạm pháp luật khác. Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân, nên việc
đảm bảo thống nhất giữa lợi ích cá nhân, cộng đồng với lợi ích quốc gia và xã hội được
Nhà nước quy định trong Hiến pháp và bảo đảm thực hiện bằng mọi biện pháp, kể cả
biện pháp cưỡng chế. Lợi ích tối cao của dân tộc là độc lập, thống nhất, chủ quyền quốc
gia và toàn vẹn lãnh thổ là dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh. Đó
là một mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam. Lợi ích của cá nhân với
cộng đồng và quốc gia luôn được đảm bảo, và đây còn là nguyên tắc bất biến được thể

19


hiện trong tư tưởng Hồ Chí Minh quan nguyên tắc đại đoàn kết dân tộc Đại đoàn kết dân
tộc là một truyền thống quý báu và lâu đời của dân tộc ta. Nhờ luôn luôn coi trọng, củng
cố và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc,
kết hợp với sức mạnh của thời đại, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta giành nhiều thắng lợi
vẻ vang trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà, trong xây
dựng và phát triển cũng như trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước ngày nay.
2.1.5. Nguyên tắc hoạt động tôn giáo trong khuôn khổ của pháp luật
Tại Điều 5 Pháp lệnh của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội số 21/2004/PLUBTVQH11 ngày 18/6/2004 về tín ngưỡng, tôn giáo quy định tại: “Nhà nước đảm bảo
quyền hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo theo quy định của pháp luật”. Các hoạt
động tôn giáo vì lợi ích chính đáng và hợp pháp của tín đồ được đảm bảo, những hoạt
dộng tôn giáo vì lợi ích của Tổ quốc và nhân dân được khuyến khích. Nhưng các hoạt
động tôn giáo phải tuân theo pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tuy các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo được Nhà nước đảm bảo nhưng phải tuân theo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status