Pháp luật về tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ đưa người lao động việt nam ra nước ngoài làm việc theo hợp đồng - Pdf 28


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

LÊ THỊ VÂN ANH PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA DOANH NGHIỆP CUNG CẤP DỊCH VỤ ĐƯA NGƯỜI
LAO ĐỘNG VIỆT NAM RA NƯỚC NGOÀI LÀM VIỆC
THEO HỢP ĐỒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2014

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT


tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán
tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN MỤC LỤC
Lời cam đoan
Mục lục
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP DỊCH VỤ ĐƯA NGƯỜI
LAO ĐỘNG VIỆT NAM RA NƯƠC NGOÀI LÀM VIỆC THEO HỢP
ĐỒNG 7
1.1. Khái quát chung về doanh nghiệp đưa người lao động Việt Nam đi làm
việc ở nước ngoài 7
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp đưa người lao động Việt Nam
đi làm việc ở nước ngoài 7
1.1.2. Sự cần thiết của doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động
Việt Nam đi nước ngoài làm việc theo hợp đồng 17
1.2. Pháp luật Việt Nam về hoạt động của doanh nghiệp đưa người lao động
Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 19
1.2.1. Quá trình phát triển của pháp luật Việt Nam về đưa người lao động Việt
Nam đi làm việc ở nước ngoài 19

LAO ĐỘNG VIỆT NAM VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH
NGHIỆP ĐƯA NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC
NGOÀI THEO HỢP ĐỒNG 81
3.1. Những yêu cầu cơ bản đối với việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về đưa
người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 81
3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật lao động Việt Nam về hoạt
động của doanh nghiệp dịch vụ đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở
nước ngoài theo hợp đồng 84

3.3. Các giải pháp về nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật của doanh nghiệp đưa
người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 92
KẾT LUẬN 101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BLLĐ Bộ luật lao động
DN Doanh nghiệp
LĐTBXH Lao động Thương Binh và Xã Hội
NLĐ Người lao động
XKLĐ Xuất khẩu lao động

1
LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước có nguồn lao động trẻ và dồi dào, hàng năm có
hàng triệu lao động cần việc làm. Quá trình đổi mới kinh tế và hội nhập kinh

nước ngoài được qui định trong mục 5a chương XI của BLLĐ và các văn
bản dưới luật khác. Nhưng nhìn chung các quy định này còn rất sơ sài, thiếu
cụ thể và còn nhiều điểm không phù hợp. Điều này đã gây nhiều bất cập
trong việc áp dụng pháp luật, gây thiệt hại cho NLĐ và tạo ra nhiều tranh
chấp phức tạp trong quá trình đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài. Trước tình
hình đó, tháng 11 năm 2006 tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XI đã thông
qua Luật NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (có hiệu
lực từ 01 tháng 7 năm 2007). Sau đó, hàng loạt các nghị định và thông tư
hướng dẫn đã được ban hành.
Cho đến nay, sau hơn năm năm thực hiện, Luật NLĐ Việt Nam đi làm
việc ở nước ngoài theo hợp đồng vẫn bộc lộ nhiều bất cập làm ảnh hưởng tới
lợi ích của NLĐ, gây khó khăn cho các DN đưa NLĐ đi làm việc ở nước
ngoài, cũng như chưa thực sự thúc đẩy sự hợp tác giữa chính phủ Việt Nam
với chính phủ các nước trong lĩnh vực này. Vai trò của các DN dịch vụ trong
quá trình đưa NLĐ Việt Nam đi nước ngoài làm việc theo hợp đồng là vô
cùng quan trọng bởi đây là lực lượng chủ yếu đưa NLĐ ra thị trường ngoài
nước làm việc. Do đó, việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về tổ chức và hoạt
động của DN đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đặt trong
mối quan hệ với việc nghiên cứu tổng quan hoạt động đưa NLĐ Việt Nam ra
nước ngoài làm việc, cũng như thực trạng ban hành và thực thi pháp luật
3
Việt Nam điều chỉnh hoạt động này là cần thiết. Đó chính là lý do để tác giả
lựa chọn đề tài “Pháp luật về tổ chức và hoạt động của DN cung cấp dịch
vụ đưa NLĐ Việt Nam ra nước ngoài làm việc theo hợp đồng” làm luận
văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay, đã có một số ít công trình nghiên cứu khoa học pháp lý
đề cập đến đề tài này như:
- Pháp luật về đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài - Một số vấn đề
lý luận và thực tiễn : Khoá luận tốt nghiệp / Hoàng Thị Quỳnh Trang; Người

với yêu cầu của thực tiễn hiện tại để làm rõ những bất cập của pháp luật Việt
Nam trong việc đưa NLĐ Việt Nam ra nước ngoài làm việc theo hợp đồng của
DN dịch vụ, qua đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực
này. Tác giả cho rằng luận văn “Pháp luật về tổ chức và hoạt động của DN
cung cấp dịch vụ đưa NLĐ Việt Nam ra nước ngoài làm việc theo hợp đồng”
sẽ là một công trình nghiên cứu tương đối hệ thống về tổ chức, hoạt động của
DN đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng kể từ khi Luật
về vấn đề này có hiệu lực (01/7/2007) cho đến nay. Trên cơ sở đó đánh giá
những tác động, ảnh hưởng của pháp luật Việt Nam với thực tiễn điều chỉnh
quan hệ đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng nhằm đề
xuất những giải pháp, kiến nghị khả thi hướng tới việc hoàn thiện pháp luật Việt
Nam về đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng của DN
dịch vụ, phù hợp với xu thế vận động của thị trường lao động quốc tế.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn hướng tới mục đích nghiên cứu tổng quan hoạt động đưa NLĐ
Việt Nam ra nước ngoài làm việc theo hợp đồng của DN dịch vụ, qua đó phân
5
tích thực trạng ban hành và thực thi pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động
này để tìm ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật trong thời gian tới, nêu lên
sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả pháp luật về đưa NLĐ Việt Nam ra nước
ngoài làm việc, từ đó, luận văn đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp
luật, tăng cường sự hỗ trợ của nhà nước đối với hoạt động này. Mục đích lớn
nhất của luận văn là nhằm đóng góp những giải pháp hữu hiệu nhất để giải
quyết những bất cập trong hoạt động XKLĐ theo hợp đồng của DN dịch vụ.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn chủ yếu tập trung vào việc nghiên cứu trong phạm vi các qui
định của pháp luật Việt Nam về DN dịch vụ đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc
ở nước ngoài theo hợp đồng dưới góc độ của pháp luật lao động. Do đó, tác
giả sẽ đi sâu nghiên cứu một số vấn đề lý luận chủ yếu về DN đưa NLĐ Việt
Nam ra nước ngoài làm việc được quy định tại Luật NLĐ Việt Nam đi làm

tiễn. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số kiến nghị mang tính tổng quan và
cập nhật từ những yêu cầu thực tiễn, nhằm góp một phần hoàn thiện hơn nữa
cơ chế pháp lý về vấn đề này.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần lời nói đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham
khảo, danh mục từ viết tắt, luận văn được chia làm ba chương với nội dung
cụ thể như sau:
Chương 1: Tổng quan về DN dịch vụ đưa NLĐ Việt Nam ra nước
ngoài làm việc theo hợp đồng
Chương 2: Thực trạng pháp luật về tổ chức và hoạt động của DN dịch
vụ đưa NLĐ Việt Nam ra nước ngoài làm việc theo hợp đồng
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật lao động Việt
Nam về tổ chức và hoạt động của DN đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước
ngoài theo hợp đồng
7
CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP DỊCH VỤ ĐƯA NGƯỜI LAO
ĐỘNG VIỆT NAM RA NƯƠC NGOÀI LÀM VIỆC THEO HỢP ĐỒNG

1.1. Khái quát chung về doanh nghiệp đưa người lao động Việt Nam đi
làm việc ở nước ngoài
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp đưa người lao động Việt
Nam đi làm việc ở nước ngoài
a. Khái niệm
Trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay, việc NLĐ di chuyển từ quốc
gia này sang quốc gia khác để tìm kiếm việc làm đã trở thành một hiện tượng
phổ biến. Hiện tượng này được gọi là lao động di cư quốc tế. Theo Khoản 1-
Điều 2- Công ước về bảo vệ quyền của tất cả những NLĐ di trú và gia đình
họ năm 1990 của Liên hợp quốc thì “Lao động di trú là thuật ngữ dùng để
chỉ một người đã, đang và sẽ làm một công việc có hưởng lương tại một

Sau đó, trong một số văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động đưa lao
động Việt Nam ra làm việc ở nước ngoài đã sử dụng thuật ngữ thay thế là
“XKLĐ”. Thông thường, thuật ngữ “xuất khẩu” dùng để chỉ hoạt động kinh
tế của chủ thể kinh doanh nhằm đưa hàng hoá, tư bản ra nước ngoài hoặc của
chủ thể nào đó nhằm phổ biến tư tưởng ra nước ngoài. Việc sử dụng thuật
ngữ kép “XKLĐ” do làm nảy sinh quan điểm coi sức lao động là hàng hoá có
thể xuất khẩu được và nhiều trường hợp bị hiểu nhầm là NLĐ cũng có thể
trở thành hàng hoá xuất khẩu được. Điều này trái với bản chất của quá trình
đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài bởi những chủ thể đưa NLĐ ra nước
ngoài được hưởng lợi (lệ phí) từ hoạt động dịch vụ đưa NLĐ đi làm việc ở
nước ngoài chứ không phải là hưởng tiền bán NLĐ hoặc bán sức lao động.
9
Ngoài ra, theo quan điểm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thể hiện trong
Hiến chương của Tổ chức này thì lao động không phải là loại hàng hoá thông
thường mà các chủ thể có thể đem ra trao đổi, mua bán trên thị trường như
những hàng hoá khác. Về mặt bản chất, sức lao động được xem như một loại
hàng hoá đặc biệt, nó là tài sản vô hình, tồn tại bên trong NLĐ như là những
tài sản đặc định gắn với nhân thân của từng người. Sức lao động của ai sẽ do
người đó tự định đoạt và họ là chủ sở hữu hoàn toàn tự do trước các chủ thể
khác có nhu cầu trong xã hội. Ngay cả nhà nước cũng chỉ có thể ra mệnh
lệnh buộc công dân của mình phải thực hiện nghĩa vụ lao động chứ không
thể trưng thu hoặc quốc hữu hoá sức lao động của công dân được. Từ sự
phân tích trên, các nhà khoa học pháp lý đã đưa ra đề xuất là không nên sử
dụng cụm từ “XKLĐ” mà thay vào đó nên sử dụng cụm từ “đưa NLĐ Việt
Nam đi làm việc ở nước ngoài”. Điều này vừa đảm bảo được tính khoa học
của thuật ngữ tiếng Việt, vừa phù hợp với bản chất và vai trò của hoạt động
đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.
Thuật ngữ “đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài” được sử dụng chính
thức lần đầu tiên trong nghị định số 270/HĐBT ngày 09/11/1991, ban hành
quy chế về đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Đây

xuất cảnh khỏi Việt Nam, nhập cảnh vào nước tiếp nhận lao động. Kết quả
của hoạt động này là các quan hệ lao động được hình thành giữa NLĐ Việt
Nam và DN, cá nhân nước ngoài là người sử dụng lao động theo hợp đồng
lao động được ký trực tiếp giữa các bên. Tuy nhiên, do hoạt động dịch vụ
cung ứng lao động giữa nhà trung gian cung ứng lao động Việt Nam và đối
tác nước ngoài có nhu cầu tuyển dụng lao động chịu sự điều chỉnh chủ yếu
của các điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia đó nên tạm thời chưa được đề
cập trong phạm vi của đề tài này.
11
b. Đặc điểm của doanh nghiệp đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở
nước ngoài
Theo Điều 6 Luật NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp
đồng thì các hình thức mà NLĐ Việt Nam có thể đi làm việc ở nước ngoài
theo hợp đồng là:
1. Hợp đồng đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài với DN hoạt động dịch
vụ đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài, tổ chức sự nghiệp được phép hoạt
động đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài;
2. Hợp đồng đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài với DN trúng thầu, nhận
thầu hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài có đưa NLĐ đi làm việc ở
nước ngoài;
3. Hợp đồng đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập
nâng cao tay nghề với DN đưa NLĐ đi làm việc dưới hình thức thực tập
nâng cao tay nghề;
4. Hợp đồng cá nhân.
Theo đó, ngoài các DN được phép hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở
nước ngoài thì còn có các DN trúng thầu, nhận thầu hoặc đưa NLĐ đi làm
việc ở nước ngoài dưới hình thức thực tập nâng cao tay nghề hoặc theo hợp
đồng cá nhân. Hình thức đưa NLĐ Việt Nam đi nước ngoài làm việc theo
hợp đồng với DN hoạt động dịch vụ này là trường hợp các tổ chức kinh tế
Việt Nam được phép tuyển dụng lao động Việt Nam để đưa đi làm việc ở

Các DN là lực lượng chính thực hiện đưa khoảng 80% NLĐ đi làm việc ở
nước ngoài theo kế hoạch hằng năm. Để hoạt động trong lĩnh vực này, các
DN dịch vụ mang những đặc điểm riêng so với các DN kinh doanh trong các
13
lĩnh vực khác , đó là những đặc thù của hoạt động kinh tế dưới dạng dịch vụ
cung ứng lao động cho nước ngoài, mà đối tượng của nó là con người.
Thứ nhất, DN dịch vụ XKLĐ được tổ chức, thành lập theo quy định
chặt chẽ của ngành nghề kinh doanh có điều kiện.
Theo Điều 2 nghị định số 126/2007/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành một số điều của Luật NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài
theo hợp đồng thì “DN được xem xét cấp Giấy phép hoạt động dịch vụ đưa
NLĐ đi làm việc ở nước ngoài (sau đây gọi tắt là Giấy phép) là DN được
thành lập và hoạt động theo Luật DN có 100% vốn điều lệ của các tổ chức,
cá nhân Việt Nam”
Như vậy, các DN hoạt động dịch vụ đưa NLĐ Việt Nam đi nước ngoài
làm việc theo hợp đồng mặc dù được thành lập và chịu sự điều chỉnh của Luật
DN, song do đặc thù của ngành nghề kinh doanh là trong lĩnh vực lao động mà
cụ thể là việc làm nên các loại hình DN này cũng mang những đặc điểm riêng
về thủ tục thành lập so với các DN kinh doanh trong các lĩnh vực khác.
Trước tiên, DN hoạt động dịch vụ đưa NLĐ Việt Nam đi nước ngoài
làm việc theo hợp đồng phải có vốn pháp định là 5 tỷ đồng và có tiền ký quỹ
tại ngân hàng 1 tỷ đồng. Vốn pháp định được xác định như là một ”ngưỡng”
tài chính tối thiểu mà nhà nước yêu cầu nhà đầu tư phải đáp ứng và chứng
minh bằng các phương thức khác nhau rồi mới được phép hoạt động kinh
doanh. Đối với lĩnh vực đưa người lao động ra nước ngoài làm việc, ngoài
các chi phí để xúc tiến tìm hiểu thị trường, chi phí giao thông, DN dịch vụ
còn phải tổ chức đào tạo, giáo dục định hướng, bồi dưỡng kiến thức cho
NLĐ, có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi của NLĐ khi họ làm việc ở nước
ngoài…Những hoạt động này đòi hỏi vốn lớn và cần bảo hiểm rủi ro, vì vậy
việc quy định mức vốn tối thiểu và tiền ký quỹ là điều cần thiết.

phải đảm bảo được lợi ích của cả 3 bên: Nhà nước - NLĐ - DN đưa đi.
Trong hoạt động này, lợi ích kinh tế của Nhà nước là khoản ngoại tệ
mà NLĐ ở nước ngoài gửi về, là khoản thu từ thuế thu nhập cá nhân. Lợi ích
của tổ chức, DN hoạt động trong lĩnh vực này là các khoản thu từ các loại
phí dịch vụ. Còn lợi ích của NLĐ là có công ăn việc làm, thu nhập chắc chắn
sẽ cao hơn nhiều so với ở trong nước. Xuất phát từ lợi ích, các DN rất dễ vi
phạm quy định của Nhà nước trong việc thu các loại phí dịch vụ, đóng thêm
các khoản tiền ngoài quy định của pháp luật. Ngược lại, vì chạy theo lợi ích,
mong muốn nhanh chóng thu hồi những khoản chi phí đã bỏ ra để được đi
làm việc ở nước ngoài, nhiều NLĐ đã vi phạm hợp đồng (như bỏ trốn ra
ngoài làm việc bất hợp pháp, vi phạm pháp luật nước sở tại…). Do đó, các
chế độ, chính sách pháp luật về đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài khi ban
hành phải được xem xét trên mọi khía cạnh, phải được tính toán sao cho đảm
bảo sự hài hoà lợi ích của các bên, đặc biệt quan tâm tới lợi ích của NLĐ.
Thứ tư, hoạt động của các DN làm dịch vụ đưa NLĐ ra nước ngoài
làm việc chịu sự tác động mạnh mẽ của các biến động của thị trường sử dụng
lao động.
Khi nền kinh tế thế giới biến động nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến số
lượng lao động mà nền kinh tế đó cần. Nếu nền kinh tế tăng trưởng thì nhu
cầu về lao động sẽ tăng lên do các ngành, các DN tăng cường sản xuất mở
rộng thị trường, ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái thì các DN buộc phải cắt
giảm lao động do thị trường bị thu hẹp, người dân tiết kiệm chi tiêu. Do tác
động của quá trình toàn cầu hóa mà nền kinh tế thế giới ngày càng phát triển
kéo theo nhu cầu về lao động của các quốc gia ngày càng tăng mạnh. Theo
Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), thị trường lao động thế giới hiện nay đã tăng gấp
4 lần so với năm 1980 và dự báo sẽ tăng gấp đôi vào 2050. Trong điều kiện
16
mà mỗi quốc gia đều dựa vào lợi thế của mình cũng như thị trường lao động
thế giới để đưa NLĐ đi nước ngoài làm việc thì tính liên kết và phụ thuộc
giữa các nước ngày càng tăng lên. Chính vì điều này mà mỗi sự biến động

Việt Nam đi nước ngoài làm việc theo hợp đồng
Việt Nam là một quốc gia đông dân trên 90 triệu người. Cùng với sự gia
tăng dân số sẽ bổ sung nguồn lao động lớn hàng năm, khi đó mâu thuẫn giữa
lao động và việc làm sẽ ngày càng trở nên gay gắt. Nếu không giải quyết một
cách hài hòa và có những bước đi thích hợp giữa mục tiêu kinh tế và xã hội
sẽ dẫn tới mất ổn định nghiêm trọng về mặt xã hội. Do đó, hoạt động đưa
NLĐ đi làm việc ở nước ngoài đã trở thành một lĩnh vực cứu cánh cho bài
toán giải quyết việc làm không những đối với Việt Nam mà còn đối với hầu
hết các nước XKLĐ trong khu vực và trên thế giới. Cùng với hướng giải
quyết việc làm trong nước là chính, đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài là
một định hướng chiến lược tích cực quan trọng, lâu dài, cần phải được phát
triển lên một tầm cao mới.
Việc thực hiện chính sách đưa NLĐ ra nước ngoài làm việc sẽ tạo cơ
hội để sử dụng số lao động thất nghiệp vào việc sản xuất ra hàng hóa, dịch
vụ tại nước khác, mang lại thu nhập cho NLĐ; đồng thời góp phần làm tăng
thu nhập quốc gia. Theo thống kê của Ngân hàng thế giới, năm 2006, người
Việt Nam ở nước ngoài gửi tiền về nước bằng con đường chính thức là 4,8 tỉ
USD, tương đương với 7,9% GDP năm 2006 [12]. Đối với đa số DN đưa
NLĐ đi làm việc ở nước ngoài, đây là một hoạt động kinh doanh thuần túy,
do đó, mục tiêu của họ là hướng tới các khoản lợi nhuận thu được thông qua
hoạt động này. Đối với nhà nước, việc cho phép đưa NLĐ ra nước ngoài làm
việc tạo điều kiện để chúng ta tận dụng nguồn nhân lực làm tăng thu nhập
18
quốc gia. Bên cạnh đó, việc đưa NLĐ ra nước ngoài làm việc còn góp phần
thúc đẩy chi tiêu của Chính phủ cho việc nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực. NLĐ ra nước ngoài làm việc muốn được DN nước sở tại tiếp nhận thì họ
phải có kỹ năng nghề nghiệp và trình độ ngoại ngữ nhất định theo yêu cầu
của chủ sử dụng lao động. Do vậy, Chính phủ phải đầu tư về cơ sở vật chất,
đội ngũ giảng viên và các điều kiện khác để đảm bảo cho việc đào tạo NLĐ.
Điều này sẽ làm tăng chi tiêu của Chính phủ. Khi chi tiêu cho đầu tư của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status