BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
ĐOÀN TRUNG KIÊN
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA
CHÍNH PHỦ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp Luật
Mã số: 60380101
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ HỒI
HÀ NỘI - NĂM 2016
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, cho phép tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu
tới các thầy, cô giáo của trường Đại học Luật Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô
trong Tổ bộ môn Lý luận nhà nước và pháp luật đã truyền đạt những kiến
thức quý báu cho tôi trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường. Đặc
biệt, tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Nguyễn Thị Hồi –
người đã tận tình hướng dẫn, động viên tôi trong suốt thời gian hoàn thành
luận văn Thạc sĩ của mình. Tôi xin bày tỏ sự biết ơn chân thành, kính chúc cô
sức khỏe và công tác tốt.
Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã luôn ủng
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TỔ
CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM
1.1.
Khái niệm pháp luật về tổ chức và hoạt động của Chính phủ ….….......4
1.2. Khái niệm và các tiêu chí để hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động
của Chính phủ ……………………………………………………………………... 11
1.2.1. Khái niệm hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Chính phủ.11
1.2.2. Các tiêu chí hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Chính
phủ …………………………………………………………...................................12
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt
động của Chính phủ Việt Nam hiện nay ……………………………………......16
Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT
ĐỘNG CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM
2.1. Ưu điểm của pháp luật về tổ chức và hoạt động của Chính phủ Việt Nam. 26
2.1.1. Pháp luật về tổ chức và hoạt động của Chính phủ phù hợp vơi các quan
điểm, đường lối chiến lược phát triển đất nước trong từng giai đoạn ……... 27
2.1.2. Pháp luật về tổ chức và hoạt động của Chính phủ quy định về nhiệm vụ,
quyền hạn của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, thành viên khác của Chính
phủ theo hướng ngày càng cụ thể, hợp lý, phù hợp hơn với vị trí của Chính
phủ trong tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước ………………….................30
2.1.3. Pháp luật về tổ chức và hoạt động của Chính phủ đã thể hiện sự phân
định rõ ràng hơn nhiệm vụ, quyền hạn giữa Chính phủ với Quốc hội, Ủy ban
thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước ……………….....................................36
2.1.4. Pháp luật về tổ chức và hoạt động Chính phủ hiện hành đã quy định rõ
hơn về cơ cấu, thành phần của Chính phủ, về chế độ làm việc và trách nhiệm
tập thể của Chính phủ, trách nhiệm cá nhân của các thành viên của Chính phủ
theo hướng nâng cao tính dân chủ, pháp quyền và trách nhiệm giải trình...... 38
2.1.5. Pháp luật về tổ chức và hoạt động Chính phủ đã thiết lập cơ chế kiểm
3.4. Hoàn thiện các quy định thể hiện tính toàn diện, kế thừa và gắn với tổ
chức thực hiện, đảm bảo pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh ………… ...74
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài.
Ở nước ta hiện nay, việc cải cách kinh tế được Đảng và Nhà nước quan
tâm và có định hướng phát triển phù hợp với điều kiện hội nhập kinh tế quốc
tế; công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa cũng được
đẩy mạnh và chiến lược cải cách tư pháp xây dựng và hoàn thiện hệ thống
pháp luật được chú trọng. Mục tiêu là tạo được một hệ thống pháp luật đồng
bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh
tế, xã hội của đất nước.
Trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật, pháp luật về tổ chức và
hoạt động của Chính phủ cũng từng bước được hoàn thiện. Sau khi Hiến pháp
năm 2013 được ban hành và triển khai thực hiện trong thực tế, hàng loạt đạo
luật được sửa đổi, bổ sung, thay thế để bảo đảm sự phù hợp với Hiến pháp
mới. Trong xu thế đó, Luật tổ chức Chính phủ năm 2015 đã được ban hành
nhằm tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ nhằm xây dựng
được một Chính phủ hành động, kiến tạo và phát triển. So với các giai đoạn
trước, pháp luật về tổ chức và hoạt động của Chính phủ hiện nay đã hoàn
thiện thêm một bước.
Tuy nhiên, Chính phủ nhiệm kỳ mới vừa được thành lập và đang trong
giai đoạn kiện toàn bộ máy, nhân sự việc xây dựng các văn bản quy phạm
pháp luật nhằm cụ thể hóa và hướng dẫn thi hành Luật tổ chức Chính phủ
năm 2015 còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, mức độ hoàn thiện của pháp
luật về tổ chức và hoạt động của Chính phủ chưa cao, chưa đáp ứng được yêu
cầu của thực tiễn.
Mục đích nghiên cứu của luận văn là thông qua việc xem xét và đánh
giá thực trạng pháp luật về tổ chức và hoạt động của Chính phủ ở nước ta thời
gian qua để tìm ra các giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật về tổ chức và
hoạt động của Chính phủ Việt Nam trong thời gian tới.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm
vụ nghiên cứu sau:
3
- Phân tích làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm của pháp luật về tổ chức và
hoạt động của Chính phủ Việt Nam hiện nay; làm sáng tỏ khái niệm và các
tiêu chí để hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Chính phủ nước
ta; xác định những yếu tố ảnh hướng đến việc hoàn thiện Hiến pháp, luật về tổ
chức và hoạt động của Chính phủ ở nước ta.
- Đánh giá thực trạng pháp luật về tổ chức và hoạt động của Chính phủ
nước ta thời gian qua, chỉ ra các ưu điểm và hạn chế của pháp luật trong lĩnh
vực này và xác định các nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó.
- Đề xuất các giải pháp có tính khả thi để tiếp tục hoàn thiện pháp luật
về tổ chức và hoạt động của Chính phủ ở nước ta trong thời gian tới.
5. Những điểm mới của giá trị Luận Văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn đưa ra một cái nhìn khái quát, toàn
diện, có hệ thống đối với thực trạng pháp luật về tổ chức và hoạt động của
Chính phủ Việt Nam hiện nay. Luận văn đề xuất được một số giải pháp nhằm
tiếp tục hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Chính phủ nước ta
trong thời gian tới. Nhờ vậy, Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo để
phục vụ cho việc giảng dạy, nghiên cứu luật học và hoàn thiện pháp luật về tổ
chức, hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Chính phủ Việt nam
thời gian tới.
công bằng. Theo họ, pháp luật là công lý, bao gồm những quy định do Nhà
nước ban hành, đại diện cho công bằng xã hội, thể hiện sự đồng thuận của các
thành viên trong xã hội, nhằm thực hiện công lý, bảo vệ lợi ích cho tất cả các
thành viên trong xã hội…
Quan điểm chủ nghĩa Mác – Lê nin cho rằng, pháp luật là hiện tượng
có tính lịch sử, là sản phẩm của sự phát triển xã hội. Pháp luật không phải là ý
chí của thượng đế hay của một lực lượng siêu nhiên nào ngoài trái đất gán
ghép vào xã hội, mà nảy sinh trong đời sống xã hội, là kết quả của sự biến đổi
xã hội từ xã hội mông muội, thấp kém sang xã hội văn minh, phức tạp, từ xã
hội không có giai cấp sang xã hội có giai cấp. Theo quan điểm Mác – Lênin
thì trong xã hội nguyên thủy chưa có pháp luật, việc quản lý, điều chỉnh các
5
quan hệ xã hội khi đó được dựa vào tập quán, đạo đức, tín điều tôn giáo… là
những công cụ điều chỉnh thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích chung của các thành
viên trong xã hội nên được mọi người thừa nhận và tự giác tuân theo.
Cần chú ý là khi nhà nước ra đời thì các hình thức tổ chức của con
người trước đó như thị tộc, bộ lạc … không còn tồn tại, nhưng khi pháp luật
ra đời, các công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội khác như đạo đức, tập quán, tín
điều tôn giáo … vẫn song song cùng tồn tại với nó, các công cụ đó cùng phối
hợp với pháp luật để quản lý, duy trì trật tự xã hội.
Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng pháp luật được hình
thành chủ yếu bằng hai con đường cơ bản sau: thứ nhất, nhà nước tuyên bố
(thừa nhận) một số các quy tắc xử sự đã có sẵn trong xã hội như tập quán, đạo
đức, tín điều tôn giáo… thành pháp luật và dùng quyền lực nhà nước bảo đảm
cho chúng được tôn trọng, được thực hiện. Nhà nước cũng có thể thừa nhận
cho các bản án, quyết định (cách giải quyết) những vụ việc cụ thể của các cơ
quan nhà nước trước đó thành những khuôn mẫu để giải quyết những trường
những bộ phận đó chỉ chiếm số lượng không lớn lắm trong pháp luật.
Trong phạm vi luận văn này có thể hiểu: Pháp luật là hệ thống các quy
định, trong đó phổ biến và chủ yếu là các quy tắc xử sự chung, do nhà nước
ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của nhà nước và là công cụ
điều chỉnh các quan hệ xã hội vì lợi ích, mục đích của giai cấp thống trị, vì sự
tồn tại và phát triển của cả xã hội.
Trên cơ sở quan niệm trên về pháp luật, có thể hiểu:
Pháp luật về tổ chức và hoạt động của Chính phủ là hệ thống các quy
tắc xử sự chung có liên quan tới tổ chức và hoạt động của Chính phủ, do Nhà
nước ban hành và bảo đảm thực hiện.
Từ khái niệm trên, có thể thấy, ở nước ta hiện nay, tất cả các văn bản
quy phạm pháp luật quy định về tổ chức và hoạt động của Chính phủ tập hợp
lại thì được gọi chung là pháp luật về tổ chức và hoạt động của Chính phủ;
các văn bản này phải quy định về việc tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn của Chính phủ, Thủ tướng, các thành viên của Chính phủ. Tuy nhiên,
khác với pháp luật trong các lĩnh vực khác như kinh tế, hình sự …, pháp luật
về tổ chức và hoạt động của Chính phủ có các đặc điểm sau:
7
- Pháp luật về tổ chức và hoạt động của Chính phủ bao gồm tổng thể
các quy phạm pháp luật quy định về các vấn đề sau:
+ Trình tự thành lập và cơ cấu tổ chức của Chính phủ
Trong pháp luật về tổ chức và hoạt động của Chính phủ nước ta, nội
dung đầu tiên và không thể thiếu là trình tự thành lập Chính phủ. Theo quy
định của pháp luật, Chính phủ là một thiết chế quyền lực do Quốc hội thành
lập thông qua hình thức bầu và phê chuẩn các thành viên của Chính phủ,
nhiệm kỳ của Chính phủ theo nhiệm kỳ của Quốc hội, thành viên của Chính
phủ hoạt động dưới sự giám sát của Quốc hội. Điều này thường được quy
Pháp luật quy định về các phiên họp thường kỳ và bất thường của
Chính phủ, về điều kiện tiến hành, thành phần tham dự phiên họp. Ngoài ra
pháp luật còn quy định về các hình thức hoạt động của Thủ tướng, Bộ trưởng,
Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, …
+ Về mối quan hệ giữa Chính phủ và các cơ quan nhà nước khác cũng
quan trọng trong nội bộ Chính phủ
Trước hết là quan hệ giữa Chính phủ và Quốc hội, Ủy ban thường vụ
Quốc hội. Pháp luật nước ta luôn quy định Chính phủ là do Quốc hội bầu ra
và có thể bị Quốc hội bãi, miễn, vì vậy Chính phủ luôn phải chịu trách nhiệm
và báo cáo công tác trước Quốc hội, chịu sự giám sát của Quốc hội. Quốc hội
còn giao cho Ủy ban thường vụ Quốc hội phụ trách việc giám sát hoạt động
của Chính phủ. Ủy ban thường vụ Quốc hội có quyền bãi bỏ các văn bản của
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nếu trái với văn bản của Ủy ban thường vụ
Quốc hội, đình chỉ và đề nghị Quốc hội bãi bỏ đối với các văn bản của Chính
phủ, Thủ tướng Chính phủ trái với văn bản của Quốc hội. Chính phủ có quyền
trình dự án luật, pháp lệnh trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Chính phủ tổ chức thực hiện các văn bản của Quốc hội, Ủy ban thường vụ
Quốc hội sau khi các văn bản đó được ban hành và có hiệu lực.
Về mối quan hệ giữa Chính phủ và Chủ tịch nước. Theo quy định của
pháp luật, Chủ tịch nước tham gia vào việc thành lập Chính phủ như đề nghị
Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Thủ tướng Chính phủ; căn cứ nghị
quyết của Quốc hội để ra các quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm,
cách chức, chấp thuận việc từ chức đối với Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các
9
thành viên khác của Chính phủ. Chủ tịch nước tham dự các phiên họp của
Chính phủ khi xét thấy cần thiết, có quyền phát biểu ý kiến nhưng không có
quyền biểu quyết hoặc Chính phủ mời Chủ tịch nước đến tham dự các phiên
Chính phủ, Thủ tướng các chủ trương, chính sách, cơ chế, văn bản pháp luật
cần thiết thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; chủ động
làm việc với Thủ tướng, Phó Thủ tướng về công việc của Chính phủ và công
việc khác liên quan; chịu trách nhiệm toàn bộ nội dung và tiến độ trình các đề
án, dự án, văn bản pháp luật được giao; thực hiện các công việc cụ thể theo
ngành, lĩnh vực được phân công hoặc ủy quyền của Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ. Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thi hành pháp luật, việc thực
hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình và quyết định của Chính
phủ, Thủ tướng về ngành, lĩnh vực được phân công; thực hiện các nhiệm vụ
khác do Thủ tướng Chính phủ ủy quyền. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan
ngang bộ hướng dẫn và kiểm tra, phối hợp, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ thực hiện các nhiệm vụ công tác thuộc ngành, lĩnh vực được phân
công; Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ có quyền kiến nghị với Bộ
trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ khác đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ
những quy định do các cơ quan đó ban hành trái với Hiến pháp, luật và văn
bản của cơ quan nhà nước cấp trên hoặc của bộ, cơ quan ngang bộ về ngành,
lĩnh vực do bộ, cơ quan ngang bộ chịu trách nhiệm quản lý; nếu kiến nghị
không được chấp thuận thì trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.
- Pháp luật về tổ chức và hoạt động của Chính phủ được thể hiện trong
các văn bản quy phạm pháp luật mà chủ yếu là Hiến pháp, luật và các văn
bản dưới luật
Nếu như hình thức của pháp luật dân sự có thể gồm cả tập quán pháp,
tiền lệ pháp và văn vản quy phạm pháp luật thì pháp luật về tổ chức và hoạt
động của Chính phủ chỉ được thể hiện bằng các văn bản quy phạm pháp luật
mà trước hết là Hiến pháp, sau đó là luật và các văn bản dưới luật.
Trong các Hiến pháp đã có của nước ta, Hiến pháp nào cũng có chương
về Chính phủ, các quy định về tổ chức và hoạt động của Chính phủ chủ yếu
thể hiện trong chương này. Tiếp đó là Luật tổ chức Chính phủ được ban hành
nhằm cụ thể hóa để thực hiện chế định Chính phủ trong Hiến pháp. Ngoài ra,
1
Viện ngôn ngữ học (2002), Từ điển tiếng Việt , Nxb. Đà nẵng , Trung tâm từ điển học, tr 450.
12
Hoàn thiện pháp luật là hoạt động luôn gắn với hoạt động xây dựng
pháp luật. Nếu như xây dựng pháp luật là hoạt động tạo ra các văn bản quy
phạm pháp luật thì hoàn thiện pháp luật là hoạt động sửa đổi, bổ sung, thay
thế các quy phạm pháp luật và văn bản quy phạm pháp luật, làm cho hệ thống
pháp luật ngày càng đáp ứng tốt hơn, ở mức độ cao hơn các tiêu chí đánh giá
mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật. Vì thế, hoạt động hoàn thiện pháp
luật về tổ chức và hoạt động của Chính phủ chỉ do các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền mà chủ yếu là Quốc hội, Chính phủ tiến hành. Quá trình hoàn
thiện pháp luật trong lĩnh vực này phải được tiến hành theo trình tự, thủ tục
do pháp luật quy định. Trình tự, thủ tục đó củ yếu được quy định trong Hiến
pháp, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các luật về tổ chức bộ
máy nhà nước.
Trên cơ sở phân tích trên, có thể hiểu: Hoàn thiện pháp luật về tổ chức
và hoạt động của Chính phủ là quá trình xây dựng, sửa đổi, bổ sung, thay thế
các quy phạm pháp luật về tổ chức và hoạt động của Chính phủ, do các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật
quy định nhằm làm cho pháp luật về tổ chức và hoạt động của Chính phủ
ngày càng đầy đủ, thống nhất và đồng bộ hơn, phù hợp hơn với thực tế cuộc
sống, minh bạch hơn, thể hiện kỹ thuật xây dựng pháp luật cao và ngày càng
đáp ứng tốt hơn yêu cầu đối với Chính phủ trong nhà nước pháp quyền.
1.2.2. Các tiêu chí hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của
Chính phủ
Hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Chính phủ là một
thể hơn để phân định thẩm quyền cũng như cách áp dụng, hiểu đúng được các
quy định của pháp luật và đó sẽ là một trong những tiêu chí quan trọng của
việc hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Chính phủ. Đối với
việc tổ chức của Chính phủ thì cần có đẩy đủ các quy phạm pháp luật quy
định về trình tự thành lập, cơ cấu tổ chức của Chính phủ, các bộ và các cơ
quan khác thuộc Chính phủ. Đối với hoạt động của Chính phủ thì cần có đủ
các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, phương thức hoạt động của
14
Chính phủ và các bộ phận cấu thành nó nhằm giúp Chính phủ có đủ quyền
năng để thực hiện thẩm quyền của mình.
Thứ ba, pháp luật về tổ chức và hoạt động của Chính phủ phải đảm
bảo tính thống nhất, đồng bộ. Theo đó các văn bản quy phạm pháp luật được
ban hành hay sửa đổi, bổ sung phải đảm bảo được sự thống nhất với các văn
bản khác trong hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về tổ chức và hoạt
động của Chính phủ nói riêng, không còn mâu thuẫn, chồng chéo với các văn
bản pháp luật, nhất là các văn bản đang có hiệu lực pháp luật, đồng thời bảo
đảm được sự thống nhất giữa các quy phạm pháp luật trong cùng một văn bản
pháp luật về tổ chức và hoạt động của Chính phủ.
Phải đảm bảo sự logic giữa các phần, chương, mục, điều, khoản, cách
trình bầy, cách đánh số thứ tự phải đồng bộ, đúng vì vậy cần phải có sự sắp
xếp một cách hợp lý đó là đặc điểm chung của bất kỳ một loại văn bản pháp
luật đều cần phải có. Nếu pháp luật về tổ chức và hoạt động của Chính phủ
thiếu đồng bộ, thống nhất thì sẽ gặp nhiều khó khăn vướng mắc trong công
tác phân định thẩm quyền, quyền hạn về tổ chức và hoạt động của các cơ
quan trực thuộc Chính phủ. Ngoài ra, pháp luật về tổ chức và hoạt động của
Chính phủ còn phải thống nhất và đồng bộ với pháp luật trong các lĩnh vực
khác.
các nguyên tắc chung của pháp luật quốc tế, nhất là các điều khoản bắt buộc
trong công ước, điều ước quốc tế và thỏa thuận quốc tế đã được ký, phê chuẩn
hoặc tham gia.
Thứ sáu, pháp luật về tổ chức và hoạt động của Chính phủ phải được
xây dựng trên cơ sở trình độ kỹ thuật pháp lý cao. Theo đó, hệ thống các quy
phạm pháp luật về tổ chức và hoạt động của Chính phủ phải được cấu trúc
một cách chặt chẽ, logic, khoa học; các khái niệm, định nghĩa, thuật ngữ được
sử dụng phải đảm bảo chuẩn xác, đơn nghĩa, trong sáng về ngôn ngữ, bảo
đảm dễ hiểu và phù hợp với khả năng nhận thức, ý thức pháp luật của xã hội.
Trong từng văn bản quy phạm pháp luật thì các bộ phận và các quy định phải
có cấu trúc thích hợp và giữa chúng có mối liên hệ chặt chẽ thống nhất nội tại
với nhau.
16
Thứ bảy, pháp luật về tổ chức và hoạt động của Chính phủ phải có khả
năng kiểm soát được việc tổ chức và hoạt động của các các Bộ, cơ quan
ngang Bộ, Bộ trưởng, Thứ trưởng, … các tổ chức trực thuộc Chính phủ, ngoài
ra phải dự liệu điều chỉnh được những quan hệ pháp luật về tổ chức và hoạt
động của các cơ quan đó có thể xảy ra, hay nói cách khác, pháp luật phải có
tính tiên phong, phải lường trước được việc tổ chức hoạt động của các cơ
quan trực thuộc Chính phủ có thể xảy ra trên thực tế để chủ động tiến hành
phân định được danh giới quyền hạn tổ chức hoạt động của các cơ quan đó
trên thực tế để chủ động quy định phân định tổ chức và hoạt động của từng cơ
quan trực thuộc liên quan đến tổ chức và hoạt động và có đủ cơ sở pháp lý để
tổ chức và hoạt động trên thực tế.
Thứ tám, pháp luật về tổ chức và hoạt động của Chính phủ phải phù
hợp với các quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước. Việc xây dựng hệ
thống các quy định, các văn bản pháp lý như Hiến pháp, Luật tổ chức Chính
ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và
toàn vẹn lãnh thổ quốc gia”. Phát triển bền vững tùy thuộc vào nhiều nhân tố,
song nhân tố cơ bản có ý nghĩa quyết định, chi phối các nhân tố khác, đó là
con người, gắn với chế độ chính trị - xã hội và việc tổ chức, phát huy nhân tố
con người trong sản xuất và trong đời sống xã hội. Vì vậy, trong điều kiện
nước ta hiện nay, để phát triển bền vững phải chăm lo phát huy tối đa nhân tố
con người, lấy con người làm trung tâm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực,
thiết thực chăm lo lợi ích và bảo đảm đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân,
nhằm tạo ra động lực và sức mạnh tổng hợp. Đây cũng là mục tiêu cao nhất
của sự phát triển bền vững ở nước ta. Yêu cầu phát triển bền vững đòi hỏi
pháp luật về tổ chức và hoạt động của Chính phủ phải được hoàn thiện theo
hướng bảo đảm cho tổ chức và hoạt động của Chính phủ đáp ứng được yêu
cầu quản lý đất nước, bảo đảm cho kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững,
phát triển xã hội và bảo vệ môi trường.
* Yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền
2
Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành định hướng
chiến lực phát triển bền vững ở Việt Nam (chương trình nghị sự 21 của Việt Nam).
18
Hiện nay, Việt Nam đang xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của dân, do dân, vì dân và đây là mô hình tổ chức quyền lực nhà nước
khá đặc thù so với các nước trên thế giới. Trong đó, quyền lực nhà nước là
thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc
thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; tất cả quyền lực tập trung vào
nhân dân. Với việc tổ chức quyền lực này đã tạo ra sự bảo đảm quyền lực nhà
trọng nhất của Đảng là đề ra đường lối, chính sách định hướng cho sự phát
triển của đất nước trong từng giai đoạn. Muốn cho đường lối chính sách đó
trở thành hiện thực trong thực tế thì Nhà nước phải thể chế hóa đường lối,
chính sách đó thành pháp luật và tổ chức thực hiện. Vì thế, hoàn thiện pháp
luật về tổ chức và hoạt động của Chính phủ luôn chịu ảnh hưởng của đường
lối, chính sách của Đảng. Các Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc đều có nội
dung, định hướng cho tổ chức và hoạt động của Chính phủ trong mối giai
đoạn phát triển cụ thể của đất nước. Vì thế, pháp luật về tổ chức và hoạt động
của Chính phủ phải được hoàn thiện theo đúng định hướng đó.
* Ý thức pháp luật của các chủ thể có thẩm quyền xây dựng và tổ
chức thực hiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Chính phủ
Ý thức pháp luật là tổng thể những học thuyết, tư tưởng, quan điểm,
quan niệm thịnh hành trong xã hội, thể hiện mối quan hệ của con người đối
với pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua và pháp luật cần phải có, thể hiện sự
đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi xử sự của con
người, cũng như tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước và các tổ
chức xã hội.
Sự thể hiện tập trung của ý thức pháp luật là hệ tư tưởng pháp luật, có ý
nghĩa là hệ thống các quan điểm pháp luật dựa trên những lập trường khoa
học và xã hội nhất định. Ý thức pháp luật có 3 nội dung là: a) sự hiểu biết về
pháp luật; b) thái độ đối với pháp luật; c) khả năng thực hiện và áp dụng pháp
luật. Thông qua ý thức pháp luật của mình, các chủ thể có thẩm quyền áp đặt
hay tác động đến quá trình hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của
Chính phủ, hay nói cách khác cho ra đời những quy định về tổ chức và hoạt
động của Chính phủ thể hiện những tư tưởng, quan điểm của họ. Nếu các chủ
thể đó đại diện cho giai cấp tiến bộ thì sẽ có những quy định về tổ chức và
20
Đại học Luật Hà Nội, tr 427.