ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
Trịnh Thế Phương
PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH BẢO HIỂM CỦA VIỆT NAM TRONG
TIẾN TRÌNH THỰC HIỆN CÁC CAM KẾT GIA NHẬP WTO
LUẬN VĂN THẠC SĨ: LUẬT HỌC
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS.GVC: Nguyễn Lan Nguyên
Hà Nội - 2008
1
MỤC LỤC NỘI DUNG TRANG
LỜI CAM ĐOAN
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
LỜI NÓI ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH BẢO HIỂM 6
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển ngành KDBH trên thế giới 6
1.1.1. Lịch sử hình thành 6
1.1.2. Sự phát triển của ngành KDBH thế giới 10
1.1.3. Sự hình thành và phát triển ngành KDBH tại Việt Nam 17
1.2. Khái niệm và những nguyên tắc cơ bản trong KDBH 19
1.2.1. Khái niệm 19
1.2.2. Một số thuật ngữ chuyên ngành bảo hiểm 21
1.2.3. Các nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm 22
1.2.4. Các loại hình bảo hiểm 26
1.2.5. Các hình thức kinh doanh bảo hiểm 27
1.3. Vai trò của bảo hiểm đối với sự phát triển kinh tế – xã hội 30
1.3.1. Nhanh chóng bù đắp thiệt hại, khắc phục tổn thất gây ra cho đối tượng
2.2.3. Tác động của cam kết gia nhập WTO vào ngành kinh doanh bảo hiểm
Việt Nam 59
2.2.4. Phát triển của ngành kinh doanh bảo hiểm Việt Nam sau 2 năm gia
nhập WTO 61
2.3. Những tồn tại, hạn chế của hệ thống pháp luật về tổ chức, hoạt động
kinh doanh bảo hiểm hiện nay 66
2.3.1. Cam kết gia nhập WTO ngành kinh doanh bảo hiểm phát sinh sự kiện
pháp lý mới chưa được pháp luật điều chỉnh 66
2.3.2. Một số quy định của pháp luật chưa có văn bản hướng dẫn triển khai
thực hiện 67
2.3.3. Điều kiện để DNBH nước ngoài đầu tư thành lập DNBH tại Việt Nam
thấp hơn so với tiêu chuẩn một số nước thành viên WTO 68
2.3.4. Quy định ràng buộc trách nhiệm của DNBH tham gia hoạt động đầu
tư chưa chặt chẽ 70
2.3.5. Bảo hiểm tương hỗ là một định chế phục vụ nhu cầu bảo hiểm của
người có thu nhập thấp chưa được chú trọng triển khai thực hiện một cách có
hiệu quả 70
2.3.6. Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong KDBH mức phạt còn nhẹ,
chưa đủ sức răn đe các hành vi vi phạm 71
2.3.7. Một số quy định, thuật ngữ pháp lý chưa được giải thích, hướng dẫn
cụ thể dẫn đến việc áp dụng không thống nhất giữa các DNBH 71
2.3.8. LKDBH còn chứa đựng những nội dung không còn hiệu lực thi hành
trên thực tế 72
Kết luận chương 2 73
Chương 3: TIẾP TỤC VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TỔ
CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM 74
3.1. Kinh nghiệm phát triển ngành bảo hiểm của EU và Trung Quốc 74
3.1.1. Kinh nghiệm phát triển ngành KDBH các nước thuộc khối liên minh
Châu Âu (EU) 74
3.1.2. Kinh nghiệm phát triển bảo hiểm ở Trung Quốc 80
Luật kinh doanh bảo hiểm
ASEAN
Association of Southeast
Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông
Nam Á
EU
The European Union
Liên minh Châu Âu
IAIS
International Association
of Insurance Supervisors
Hiệp hội các cơ quan quản lý
bảo hiểm quốc tế
WTO
Word Trade Organazation
Tổ chức thương mại thế giới
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
I. DANH MỤC CÁC BẢNG
Tên bảng,
biểu
Nội dung
Trang
Bảng 1.1
Doanh thu bảo hiểm của các nước thuộc EU năm 2007
Sự phát triển các công ty bảo hiểm Trung quốc 2001-2006
80 1
MỞ ĐẦU
1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
a. Về lý luận
Ngày 11.01.2007, Việt Nam chính thức được Tổ chức Thương mại thế
giới (Word Trade Organization - WTO) kết nạp làm thành viên thứ 150 của tổ
chức này. Đây là kết quả đánh dấu sự thành công của Việt Nam trong hội
nhập kinh tế quốc tế, sự cố gắng nỗ lực của Việt Nam trong quá trình đàm
phán với tổ chức WTO và với các nước thành viên; đồng thời cũng chứng tỏ
thành quả của chúng ta trong phát triển kinh tế, sự ổn định về chính trị, tăng
trưởng kinh tế sau hơn 20 năm đổi mới, chuyển từ nền kinh tế tập trung, bao
cấp sang nền kinh tế thị trường.
Gia nhập WTO mở ra cho Việt Nam một cơ hội lớn trong giao thương,
hợp tác phát triển kinh tế, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Các
quy định ưu đãi dành cho các thành viên đang phát triển như Việt Nam, cơ chế
giải quyết tranh chấp giữa các thành viên, hệ thống các nguyên tắc như nguyên
tắc ưu đãi tối huệ quốc, đãi ngộ quốc gia, công khai minh bạch… là những thuận
lợi cơ bản cho Việt Nam trong quá trình hội nhập. Bên cạnh đó, chúng ta cũng sẽ
gặp nhiều khó khăn thách thức trên hầu hết các ngành, lĩnh vực sản xuất kinh
doanh. Đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục nghiên cứu, đề ra các giải pháp hoàn thiện
hệ thống chính sách, pháp luật vừa phù hợp với quy định của WTO, vừa thúc
đẩy ngành sản xuất, dịch vụ trong nước phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh
với nước ngoài, thu hút các nhà đầu tư chính đáng vào hoạt động tại Việt Nam.
Hội nhập kinh tế trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm là một phần không
tách rời trong lĩnh vực dịch vụ tài chính nói riêng và nền kinh tế nói chung. Tuy
- Thị trường với sự có mặt của các công ty bảo hiểm có vốn đầu tư
nước ngoài là sức ép đối với các cơ quan quản lý nhà nước lĩnh vực này, bao
gồm yêu cầu phải đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng, khả năng giải quyết
3
tranh chấp, thị trường bị chia cắt là vấn đề khó khăn trong việc ngăn ngừa rủi
ro mang tính hệ thống.
b. Về thực tiễn
Hệ thống pháp luật về kinh doanh bảo hiểm Việt Nam được quy định
chủ yếu trong LKDBH và một số Luật khác như Bộ Luật dân sự, Luật hàng
hải, Luật hàng không dân dụng, Luật giao thông đường thuỷ nội địa và các
văn bản hướng dẫn thi hành thời gian qua đã góp phần ổn định và phát triển
thị trường bảo hiểm trong nước. Tốc độ tăng trưởng ngành dịch vụ bảo hiểm
đạt 23%/năm. Tính đến tháng 6/2008, toàn thị trường đã có 41 DN hoạt động
trong lĩnh vực bảo hiểm, gồm 23 DN bảo hiểm phi nhân thọ, 9 DN bảo hiểm
nhân thọ, 8 DN môi giới bảo hiểm và 1 DN tái bảo hiểm. Nhiều DNBH nước
ngoài được thành lập và hoạt động như AIG (Mỹ), Prevoir (Pháp), ACE life
(Mỹ), NewJork life (Mỹ), Daiichi (Nhật Bản). Phạm vi hoạt động của các DN
chủ yếu trên thị trường nội địa, doanh thu xuất khẩu các dịch vụ không cao,
đạt khoảng 0,5 triệu USD, chủ yếu là dịch vụ bảo hiểm hàng hoá xuất khẩu và
tái bảo hiểm [45].
Như vậy, pháp luật Việt Nam đã cho phép thành lập các doanh nghiệp
100% vốn nước ngoài hoạt động từ trước khi chúng ta thực hiện cam kết gia
nhập WTO. Nhưng theo cam kết gia nhập WTO, phương thức kinh doanh bảo
hiểm không chỉ đơn thuần là thành lập các DNBH tại thị trường nội địa mà còn
có những phương thức kinh doanh khác như hoạt động của các chi nhánh, cung
cấp dịch vụ bảo hiểm qua biên giới mà không có sự hiện diện của các DN tại
Việt Nam. Những phương thức mới đó hiện nay chưa phát triển mạnh và chúng
ta cũng chưa có cơ chế để điều chỉnh, giám sát. Bên cạnh đó, tác động của hội
nhập làm cho các DN đẩy nhanh cạnh tranh nhằm chiếm lĩnh thị trường. Chất
lượng đang bị xếp thứ hai sau số lượng. Đằng sau sự cạnh tranh là sự vi phạm
5
Chƣơng 1. Những vấn đề chung về tổ chức và hoạt động kinh doanh
bảo hiểm.
Chƣơng 2. Nội dung chủ yếu của pháp luật về tổ chức và hoạt động
kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam.
Chƣơng 3. Tiếp tục việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về tổ chức và
hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
2. Mục đích của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài này nhằm tìm hiểu, cung cấp cho người đọc
những kiến thức pháp luật về tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm của
Việt Nam hiện hành và định hướng hoàn thiện do tác động của cơ chế hội
nhập cũng như đáp ứng sự phát triển của kinh tế-xã hội Việt Nam hiện nay.
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ đặt ra là:
- Nghiên cứu các quy định của WTO liên quan đến ngành KDBH.
- Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về tổ chức và hoạt động
kinh doanh bảo hiểm.
- Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển ngành bảo hiểm trên thế
giới, tình hình phát triển của ngành kinh doanh bảo hiểm Việt Nam hiện nay,
thực trạng pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này. Từ đó đề ra các giải pháp hoàn
thiện trong thời gian tới. Đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thị trường này cũng
như các cam kết gia nhập WTO.
3. Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của các loại hình
kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam; không bao gồm các tổ chức bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tiền gửi và các loại bảo hiểm do Nhà nước thực
hiện không nhằm mục đích kinh doanh.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn thị trường bảo hiểm các khu vực trên
thế giới, kinh nghiệm pháp luật của các nước EU và Trung Quốc, so sánh đối
6
người mang bản chất của hoạt động bảo hiểm, các nhà nghiên cứu chia hình
thái bảo hiểm trong lịch sử phát triển thành 3 giai đoạn cơ bản đó là: Dự trữ
thuần túy, cho vay nặng lãi và thỏa thuận ràng buộc trách nhiệm các bên.
8
1.1.1.1. Dự trữ thuần túy:
Xuất hiện từ thời Cổ đại, khi người nông dân nhận thấy rằng đôi khi xảy
ra mất mùa hoặc quân xâm lược ngăn cản người dân thu hoạch mùa màng.
Mặc dù mỗi hộ dân có thể tự dự phòng cho gia đình họ, nhưng họ sớm nhận
ra rằng việc dự trữ chung hoặc theo cộng đồng có hiệu quả hơn. Mỗi người có
khả năng sẽ đóng vào một khoản nhỏ những năm được mùa, khi giá lương
thực xuống thấp. Và khi xảy ra các rủi ro làm giá lương thực lên cao, kho dự
trữ sẽ thực hiện việc cấp lương thực cho các hộ dân, góp phần ổn định được
đời sống trong cộng đồng dân cư. Hoặc điển hình như vào những năm 2.500
trước công nguyên (TCN), ở Ai Cập những người thợ đẽo đá đã biết thiết lập
quỹ để giúp đỡ những người trong hội bị tai nạn.
Trong hình thái này, giữa các chủ thể tham gia không nhằm mục đích
lợi nhuận mà nhằm hỗ trợ giữa các thành viên trong cộng đồng. Một phần do
việc tạo lập các quỹ là hoàn toàn tự nguyện giữa các thành viên. Ngoài ra, do
quy mô hoạt động của quỹ nhỏ, chủ yếu là những người có quan hệ gắn bó
mật thiết về mặt huyết thống, trong phạm vi nhỏ hẹp nên yếu tố lợi nhuận
chưa được đề ra [39,tr.37]
1.1.1.2. Bảo hiểm dưới hình thức cho vay nặng lãi:
Song song với việc phát triển của hoạt động ngân hàng để phục vụ mục
đích tiêu dùng và sản xuất kinh doanh, mở rộng thương mại và buôn bán giữa
các quốc gia, các vùng, các Châu lục. Ở Babylon (khoảng l.700 năm TCN) và
AThen (khoảng 500 năm TCN), các hoạt động buôn bán, vận chuyển hàng
hoá trên biển, qua sa mạc, giữa các thương nhân đã hình thành nên một điều
kiện vay vốn đặc thù, và có thể coi đó là một hình thái của bảo hiểm. Theo đó,
khi hàng hóa bị mất trong quá trình vận chuyển thì người đi vay sẽ không
phải trả khoản tiền đã vay. Chình bởi đặc điểm: khi gặp rủi ro người vay
Nhưng nó vẫn bộc lộ nhiều hạn chế như: kêu gọi cho đủ người tham gia góp
cổ phần sẽ mất nhiều thời gian, phải dàn xếp thỏa thuận chia sẻ trách nhiệm
và quyền lợi
* Hình thức thông qua tổ chức bảo hiểm chuyên nghiệp.
Hình thức này có sự tham gia của bên trung gian, ngoài các thành viên có
nhu cầu trực tiếp, còn có các Công ty, thương nhân làm dịch vụ (Người bảo hiểm).
Theo hình thức này, các nhà buôn, chủ tàu chấp nhận trả một khoản
tiền nhất định, nếu hàng hóa, tàu thuyền không đến được nơi giao hàng do
một số nguyên nhân nhất định thì bên người bảo hiểm sẽ trả một khoản tiền
nhằm bù đắp cho những thiệt hại đã xảy ra. Bút tích bản hợp đồng bảo hiểm cổ
nhất còn lưu lại được phát hành tại thành phố cảng Gênes - Italia, vào năm 1347.
Năm 1424, cũng tại cảng Gênes, công ty bảo hiểm đầu tiên của ngành vận tải
đường biển và đường bộ được thành lập. Sau bảo hiểm hàng hải, tiếp đến là sự ra
đời của các loại bảo hiểm khác:
- Bảo hiểm hỏa hoạn: Vụ cháy lớn ở London - Anh vào năm 1666 đã thiêu
hủy trên 13.000 tòa nhà, trong đó có 87 nhà thời là thảm họa lớn nhất từ trước cho
đến thời điểm đó. Nhu cầu về cơ chế bảo hiểm cho tài sản trước rủi ro cháy dẫn
tới sự ra đời của các công ty bản hiểm trong lĩnh vực hỏa hoạn. Năm 1684, Công
ty bảo hiểm hỏa hoạn đầu tiên đã ra đời ở nước Anh, lấy tên là Friendly Society
Fire Office, hoạt động trên nguyên tắc hỗ trợ, với hệ thống phí cố định, người
được bảo hiểm phải chịu một phần thiệt hại xảy ra. Tiếp sau đó, nhiều công ty bảo
hiểm cháy khác tiếp tục ra đời ở Anh như Amicable (1696), Sun (1710, Union
(1714). Tại Pris, Pháp, văn phòng đại diện bảo hiểm mang tên “La Royal
Incendie” được thành lập năm 1786 [47,tr.39].
11
- Bảo hiểm nhân thọ: Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ cổ xưa nhất được
lưu giữ đến ngày nay được ký năm 1583 tại London. Công ty bảo hiểm nhân
thọ đầu tiên là Equitable được thành lập ở Anh vào năm 1762. Sản phẩm bảo
hiểm đầu tiên công ty này cung cấp là hợp đồng bảo hiểm trọn đời.
- Các loại bảo hiểm khác: Cuối thế kỷ 19, cùng với sự phát triển của
ngƣời)
Phí
BH/GDP
(%)
Phí
BH/dân
số (Euro)
Tổng phí
BH (Triệu
Euro)
Tỷ lệ phí
BHNT/tổng
phí BH (%)
Bun ga ri
7,769
7.7
2.55
74.7
577
13
CH Séc
16,626
10.2
3.98
406.1
4,139
38
Estonia
12,461
1.3
8,027
42
Ru ma ni
7,633
21.7
1.53
59.1
1,284
21
S lô va ki a
12,920
5.4
3.66
267.5
1,445
37
S lô ven ni a
18,819
2.0
5.65
831.4
1,636
30
Bình quân
102.6
3.26
200.6
20,801
38
đồng bảo hiểm phi nhân thọ là 63%. Mỗi khách hàng thay đổi bình quân 3
năm cho một hợp đồng bảo hiểm ôtô và 5 năm cho hợp đồng bảo hiểm nhà,
tài sản. Nguyên nhân chủ yếu do sự cạnh tranh phí bảo hiểm, khách hàng
muốn lựa chọn công ty có độ an toàn cao hơn, lựa chọn loại sản phẩm bảo
hiểm mới phù hợp hơn [64].
- Theo nghiên cứu của các chuyên gia bảo hiểm thời gian qua, khách
hàng của ngành bảo hiểm được chia thành 4 nhóm gồm: Khách hàng truyền
thống, khách hàng cơ hội, khách hàng trung lập và khách hàng trung bình.
Tâm lý khách hàng đang có sự ưu tiên nhiều cho Internet và có nhiều khả
năng kênh phân phối truyền thống sẽ sớm bị thay thế bởi các kênh phân phối
trực tuyến.
- Dân số các nước Châu Âu đang ngày càng già đi, số dân ở độ tuổi 65
và trung bình dân số trong độ tuổi từ 15-65 hiện nay có tỷ lệ từ 25-30% và
ước tính đến năm 2050 sẽ ở con số 50%, điển hình như nước Italia, Thổ Nhĩ
Kì con số này là xấp xỉ 70% [64]. Do đó, trong tương lai ngành bảo hiểm sẽ
14
đẩy mạnh hướng kinh doanh phù hợp với độ tuổi của dân số trong tương lai
như đẩy mạnh các hoạt động đầu tư vào dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, giải trí…
- Các Công ty bảo hiểm ở thị trường bão hoà đang tập trung mở rộng
thị trường thông qua việc đầu tư góp vốn liên doanh hoặc thành lập các Công
ty bảo hiểm ở thị trường tiềm năng (đặc biệt là khu vực Châu Á) hoặc thực
hiện các vụ mua bán, sáp nhập doanh nghiệp nhằm tạo lập các doanh nghiệp
lớn, có uy tín để thu hút khách hàng ở thị trường bão hoà chuyển các hợp
đồng bảo hiểm sang các công ty lớn. Những vụ mua bán lớn đã được chuẩn bị
và thực hiện phổ biến từ năm 2006, ví dụ như vụ Công ty bảo hiểm
Assicurazioni Generali SpA mua Công ty bảo hiểm Toro Assicurazioni SpA
tại Italia với trị giá 3.850 triệu Euro và mới đây (9/2008) là việc Tập đoàn bảo
hiểm AXA của Pháp, là Công ty bảo hiểm lớn thứ ba thế giới (sau AIG của
Mỹ và ING của Anh) đã công bố mua lại đối tác Winter thur, một công ty bảo
hiểm lớn thứ hai của Thuỵ sỹ và có thị trường ở 17 quốc gia khác [68]. Mục
môi trường pháp lý có nhiều hạn chế hơn so với Châu Âu, ngành bảo hiểm
khu vực Châu Á - Thái Bình Dương có lịch sử phát triển chậm hơn khu Châu
Âu. Tuy nhiên, với tốc độ tự do hoá, mở cửa thị trường trong khu vực ngày
càng tăng, thị trường bảo hiểm thời gian qua phát triển khá mạnh mẽ và có tác
động sâu sắc đến thị trường truyền thống của các nước. Sự phát triển thị
trường bảo hiểm khu vực này có thể đánh giá ở một số điểm sau:
- Tốc độ phát triển ngành bảo hiểm những năm gần đây đạt khá cao, bình
quân hàng năm từ 10-15% với thị trường phát triển mạnh mẽ nhất là Nhật
16
Bản, Hàn Quốc, Hồngkông, Đài Loan, Singapore, Trung Quốc. Riêng tổng
phí bảo hiểm của Nhật bản năm 2007 đạt 424,83 tỷ USD, chiếm 10,46% tổng
phí bảo hiểm thế giới, đứng thứ 3 sau Mỹ và Anh. Tuy nhiên, sự chênh lệch
giữa các nước phát triển trong khu vực so với các nước đang phát triển như
Việt Nam, Philippin, Inđônêxia đang còn một khoảng cách khá xa (Chi tiết
xem bảng 1.2) [77].
Bảng 1.2. Một số chỉ tiêu ngành bảo hiểm Châu Á 2004-2007 (USD)
T
T
Quốc gia
2004
2005
2006
2007
USD/
người
Tổng
phí
(triệu
USD)
424832
2
Hàn Quốc
1419,3
68623
1706,1
82933
2071,3
101179
2384
116990
3
Trung Quốc
40,2
52171
46,3
60131
53,5
70805
69,6
92487
4
Đài Loan
1909
43236
2145,5
49005
2250,2
51562
2628
8824
8
Thái Lan
92
5747
99
6376
110
7128
129,7
8285
9
Inđônêxia
15,5
3381
19,4
4271
21,5
4849
30
6938
10
Philippin
15,6
1292
17,2
1443
20,7
1751
23,9
.
- Quá trình tự do hoá cạnh tranh ngày càng được các nước nới rộng, tạo
điều kiện cho sự liên doanh, liên kết giữa các Công ty bảo hiểm trên thế giới
và sự thâm nhập thị trường của các doanh nghiệp bảo hiểm lớn. Quá trình tự
do hoá đó được thực hiện thông qua các cam kết khu vực và đặc biệt là cam
kết gia nhập WTO.
- Mô hình quản lý các doanh nghiệp bảo hiểm ngày càng chuyên
nghịêp hơn thông qua sự chuyển đổi cơ chế quản lý vốn dựa trên khả năng
thanh toán sang cơ chế quản lý dựa trên phân tích rủi ro (risk-based capital
regulatory regime). Theo đó, các doanh nghiệp bảo hiểm phải đạt yêu cầu tối
thiểu về vốn sao cho phù hợp với loại hình kinh doanh hoạt động và cơ cấu
rủi ro của doanh nghiệp. Các nước như Nhật Bản, Singapore, Đài Loan đã áp
dụng cơ chế này và ở Việt Nam, năm 2007, Bộ Tài chính cũng đã ban hành 2
Xem tạp chí Insurancedigest 2007 trên website: www.pwc.com
18
thông tư 156 quy định về chế độ tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm theo
hướng áp dụng cơ chế này
3
.
- Bên cạnh những thuận lợi, bảo hiểm khu vực Châu Á - Thái Bình
Dương cũng có những hạn chế nhất định. Sự cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp bảo hiểm diễn ra gay gắt, kể cả hình thức cạnh tranh hợp pháp và bất
hợp pháp. Sự cạnh tranh đó bên cạnh những mặt tích cực, đem lại lợi ích cho
người tham gia bảo hiểm thì cũng chứa đựng những rủi ro cho chính các
doanh nghiệp bảo hiểm. Vì để cạnh tranh, nhiều doanh nghiệp sẵn sàng hạ
mức phí bảo hiểm xuống rất thấp, vượt quá ngưỡng an toàn, và điều này sẽ
gây tổn thất cho doanh nghiệp nếu rủi ro được bảo hiểm xảy ra vượt một cách