1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
VŨ VĂN HÙNG CHÍNH SÁCH TIÊU THỤ NÔNG SẢN VIỆT NAM
TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CÁC CAM KẾT
VỚI TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ Hà Nội - 20132
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
HIỆN CÁC CAM KẾT VỚI TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI – CƠ SỞ LÝ
LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 15
1.1.
Một số vấn đề lý luận về chính sách tiêu thụ nông sản trong quá trình thực hiện
các cam kết với WTO
15
1.1.1. Nông sản và chuỗi giá trị nông sản toàn cầu
15
1.1.2. Chính sách tiêu thụ nông sản trong quá trình thực hiện các cam kết với WTO
27
1.2
Chính sách tiêu thụ nông sản trong quá trình thực hiện các cam kết với WTO của
một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
58
1.2.1.
Chính sách tiêu thụ nông sản của một số nước trong quá trình thực hiện các cam
kết với WTO
58
1.2.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
69
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
78
Chương 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TIÊU THỤ NÔNG SẢN VIỆT NAM
TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CÁC CAM KẾT VỚI TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI
THẾ GIỚI 79
2.1.
Cam kết của Việt Nam về thị trường nông sản và những cơ hội, thách thức đối với
tiêu thụ nông sản trong quá trình thực hiện các cam kết với WTO
79
2.1.1. Quy định của WTO và cam kết của Việt Nam về thị trường nông sản
122
2.4.
Đánh giá chính sách tiêu thụ nông sản Việt Nam trong quá trình thực hiện các cam
kết với Tổ chức thương mại thế giới
129
2.4.1. Đánh giá thông qua các tiêu chí của chính sách tiêu thụ nông sản
129
2.4.2.
Đánh giá năng lực tham gia của nông sản Việt Nam vào chuỗi giá trị nông sản
toàn cầu
138
2.4.3.
Đánh giá chung về thành tựu và hạn chế của chính sách tiêu thụ nông sản trong
quá trình thực hiện các cam kết với WTO
145
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
147
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH
TIÊU THỤ NÔNG SẢN VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CÁC CAM
KẾT VỚI TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI 148
3.1. Bối cảnh mới ảnh hưởng đến chính sách tiêu thụ nông sản Việt Nam
148
3.1.1. Triển vọng kinh tế thế giới và trong nước giai đoạn 2012 – 2020
148
3.1.2. Những xu hướng mới của thị trường nông sản
150
3.1.3. Xu hướng vận động của chuỗi giá trị nông sản toàn cầu
154
3.2.
Quan điểm hoàn thiện chính sách tiêu thụ nông sản Việt Nam trong quá trình thực
3.3.2.
Nhóm giải pháp hoàn thiện các chính sách bộ phận của chính sách tiêu thụ nông
sản trong quá trình thực hiện các cam kết với WTO
172
3.3.3.
Nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách tiêu thụ
nông sản
188
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
200
KẾT LUẬN 201
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN
ÁN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
5
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
- Nông nghiệp Việt Nam có lợi thế cạnh tranh do điều kiện tự nhiên thuận lợi và chi
phí nhân công thấp nhưng những lợi thế này ngày càng giảm trong điều kiện cạnh tranh
thương mại toàn cầu hiện nay. Sau 6 năm gia nhập WTO, nông sản Việt Nam đã có vị trí
cao trên thị trường nông sản thế giới, những cam kết được thực hiện nghiêm túc, đúng với
quy định của WTO. Bên cạnh đó còn tồn tại nhiều hạn chế về mặt chính sách khiến cho việc
đẩy mạnh tiêu thụ về lượng nhưng chưa đi kèm với những lợi ích thiết thực mang về cho đất
nước, cho nông dân vẫn đang hiện hữu.
- Dù xuất khẩu nhiều nông sản trên thị trường thế giới nhưng các chủ thể kinh tế Việt
Nam chỉ tham gia vào các công đoạn mang lại ít giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị nông sản
toàn cầu. Vì vậy, cần phải có những chính sách hợp lý nhằm thúc đẩy tiêu thụ nông sản đi
kèm với gia tăng về giá trị mang lại cho nông dân, cho các chủ thể kinh tế Việt Nam.
nước về vấn đề này cũng được các nghiên cứu chỉ rõ.
Thứ ba, vấn đề liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản (đặc biệt là mối liên hệ giữa Nhà
nông, Nhà nước, Nhà doanh nghiệp và Nhà khoa học) đã được đề cập và phân tích, trong đó
đặc biệt là mối quan hệ giữa nông dân và doanh nghiệp đã được các bài viết, các đề tài phản
ánh rõ nét về thực trạng mối quan hệ này. Nhiều giải pháp về phía nhà nước, về phía các
chủ thể trong chuỗi liên kết trên cũng được các tác giả đưa ra.
Thứ tư, cần phải phát triển công nghiệp chế biến theo hướng công nghệ hiện đại để gia
tăng giá trị cho nông sản trong chuỗi giá trị toàn cầu, khắc phục tình trạng nông sản Việt
Nam chỉ tham gia vào khâu mang lại ít giá trị nhất đó là sản xuất, trong khi khâu chế biến,
thương mại có giá trị gia tăng cao lại “nhường” cho quốc gia khác.
Thứ năm, vấn đề xúc tiến thương mại nhằm xây dựng và quảng bá thương hiệu nông
sản Việt Nam thời gian qua cũng đã được chú trọng từ cấp vĩ mô đến cấp vi mô; từ trung
ương đến địa phương. Các doanh nghiệp Việt Nam đã nhận ra và bước đầu có những biện
pháp cụ thể để chiếm lĩnh thị trường trong nước khi mà các cam kết với WTO đang dần hết
biên độ cho phép theo lộ trình mở cửa (cả trong lĩnh vực nông sản).
Tuy nhiên, trong các công trình nghiên cứu về chính sách tiêu thụ nông sản, một số
vấn đề vẫn còn bỏ ngỏ cần được tiếp tục nghiên cứu trong bối cảnh, điều kiện mới, đó là:
Một là, chính sách tiêu thụ nông sản phải góp phần gia tăng giá trị nông sản và thu
nhập của người nông dân trong chuỗi giá trị toàn cầu khi thực hiện các cam kết với WTO;
từ đó nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, gia tăng vị thế của nông dân.
Hai là, phân tích chính sách tiêu thụ nông sản dưới góc độ kinh tế chính trị, phân tích
mối quan hệ lợi ích giữa các chủ thể tham gia vào quá trình tái sản xuất nông sản, từ sản
xuất đến phân phối, lưu thông. Chính sách đó phải coi lợi ích của nông dân là trung tâm
nhưng phải hài hòa với lợi ích của các chủ thể khác như nhà doanh nghiệp, nhà khoa học,
nhà nước.
Ba là, vấn đề bảo quản, chế biến nông sản cần được tập trung phát triển nhưng phải
đặc biệt lưu ý đến đặc thù của từng loại sản phẩm. Chính sách bảo quản giúp cho nông dân
và doanh nghiệp tránh được tổn thất lớn trong quá trình sản xuất và chế biến cũng như có
tác động tích cực đến chất lượng và giá thành. Phát triển công nghiệp chế biến giúp cho
phần giá trị gia tăng mà các chủ thể kinh tế Việt Nam nhận được sẽ tăng lên; mặt khác, nó
chính sách tiêu thụ nông sản trong quá trình thực hiện các cam kết với WTO.
- Phân tích thực trạng tiêu thụ nông sản và chính sách tiêu thụ nông sản sau 6 năm gia
nhập WTO; đánh giá chính sách tiêu thụ nông sản Việt Nam thời gian qua, chỉ ra thành tựu
và hạn chế, nguyên nhân của hạn chế.
- Đưa ra một số quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách tiêu thụ nông sản
Việt Nam trong quá trình thực hiện các cam kết với WTO.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Chính sách tiêu thụ nông sản Việt Nam là đối tượng nghiên cứu của luận án. Chính
sách được nghiên cứu dưới góc độ là sản phẩm chủ quan của nhà nước, phản ánh năng lực
nhận thức và vận dụng các quy luật kinh tế khách quan của Nhà nước; đồng thời chính sách
còn được nghiên cứu dưới góc độ là công cụ quản lý kinh tế vĩ mô, thể hiện quan điểm, mục
tiêu và giải pháp của nhà nước trong lĩnh vực tiêu thụ nông sản.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn nội dung nghiên cứu:
Luận án tập trung nghiên cứu các chính sách vĩ mô của Nhà nước tác động trực tiếp
đến hoạt động tiêu thụ nông sản: Chính sách giá cả, sản lượng nông sản; chính sách bảo
quản, chế biến nông sản; chính sách xúc tiến thương mại nông sản; chính sách liên kết sản
xuất và tiêu thụ nông sản.
Nông sản chỉ bao gồm các sản phẩm nông nghiệp theo danh mục cam kết với WTO
(không bao gồm thủy sản). Đề tài tập trung nghiên cứu 5 nông sản thế mạnh của Việt Nam:
Gạo, cà phê, cao su, tiêu và điều.
- Thời gian: Chính sách tiêu thụ nông sản của Việt Nam từ 2002 đến nay và tầm nhìn
đến 2020.
8
- Không gian: Thị trường tiêu thụ nông sản nội địa và xuất khẩu.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp trừu tượng hóa khoa học được sử dụng để tạm gạt bỏ những nhân tố
thứ yếu, không ảnh hưởng quyết định đến vấn đề nghiên cứu.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng để đánh giá một cách khách quan về
chức thương mại thế giới – Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế
Chương 2: Thực trạng chính sách tiêu thụ nông sản Việt Nam trong quá trình thực hiện
các cam kết với Tổ chức thương mại thế giới
Chương 3: Quan điểm và giải pháp cơ bản hoàn thiện chính sách tiêu thụ nông sản
Việt Nam trong quá trình thực hiện các cam kết với Tổ chức thương mại thế giới 9
CHƯƠNG 1
CHÍNH SÁCH TIÊU THỤ NÔNG SẢN TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CÁC
CAM KẾT VỚI TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI – CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
1.1. Một số vấn đề lý luận về chính sách tiêu thụ nông sản trong quá trình thực
hiện các cam kết với Tổ chức thương mại thế giới
1.1.1. Nông sản và chuỗi giá trị nông sản toàn cầu
- Đặc điểm của nông sản
Một là, sản xuất nông sản mang tính thời vụ và tính khu vực rõ rệt;
Hai là, hầu hết nông sản là những sản phẩm phục vụ nhu cầu thiết yếu, ảnh hưởng trực
tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng;
Ba là, quá trình sản xuất, chế biến, vận chuyển và tiêu thụ đối với nông sản cũng có
những điểm khác biệt so với các hàng hóa khác do tính tươi sống, đảm bảo mùi vị, chế biến
đa dạng, yêu cầu về dinh dưỡng, cảm quan,…
- Chuỗi giá trị nông sản toàn cầu
Quá trình sản xuất và tiêu thụ nông sản trải qua nhiều công đoạn, mỗi công đoạn góp
phần tạo ra giá trị tăng thêm cho nông sản đó. Sự phân công lao động xã hội càng phức tạp,
phạm vi phân công lao động xã hội càng lớn, quá trình tạo ra nông sản càng chi tiết và càng
trải rộng ra không gian nhiều quốc gia (toàn cầu), sự gia tăng thêm giá trị vào nông sản càng
vì thế mà nhiều công đoạn hơn. Một quá trình sản xuất và tiêu thụ nông sản như vậy, xét
dưới góc độ kinh tế (tăng thêm giá trị), được các nhà kinh tế gọi là “chuỗi giá trị nông sản
toàn cầu”. Như vậy, chuỗi giá trị nông sản toàn cầu là một thuật ngữ để chỉ một dây chuyền
Chính sách xúc tiến thương mại nông sản. Để đạt được mục tiêu của chính sách xúc
tiến thương mại nông sản, Nhà nước can thiệp tới các tổ chức tham gia thị trường nông sản
nhằm hoàn thiện các tổ chức này. Đây là hình thức can thiệp phổ biến được nhiều quốc gia
sử dụng, nhất là các nước đang phát triển.
Chính sách liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, nông
dân sản xuất quy mô nhỏ khó tồn tại trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh và nhiều biến
động. Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, xu hướng tầng lớp nông dân có quy mô sản xuất
nhỏ, manh mún bị lấn át bởi những tổ chức sản xuất có quy mô lớn vì họ tổ chức sản xuất
hợp lý, liên kết được các nhân tố trong chuỗi giá trị từ sản xuất tới tiêu thụ, tăng giá trị gia
tăng, phân phối bình đẳng lợi nhuận thu được và nhất là giảm thiểu những rủi ro do biến
động giá cả.
- Các tiêu chí đánh giá chính sách tiêu thụ nông sản
Tính phù hợp: Chính sách có phù hợp với điều kiện nguồn lực hiện có hay không?
Chính sách hướng đến những đối tượng nào? Chính sách có phù hợp các cam kết với các tổ
chức tham gia hay không? Có mâu thuẫn giữa việc cam kết với tổ chức này và với tổ chức
khác hay không?
Tính hiệu lực: Chính sách có hiệu lực trong thực tế hay không? Chẳng hạn, chính sách
tăng cường thu mua lúa dự trữ của NN có thực sự đem lại lợi ích cho nông dân hay chỉ tăng
lợi nhuận cho các tổng công ty lương thực? Chính sách chỉ có hiệu lực trong thực tế mới
đem lại hiệu quả.
Tính hiệu quả: Chính sách khi thực hiện mất bao nhiêu chi phí và mang lại bao nhiêu
lợi ích? Tỷ lệ lợi ích/chi phí là bao nhiêu?
Tính công bằng: Những lợi ích và chi phí có được phân phối công bằng cho các chủ
thể, các nhóm? Nông dân được hưởng bao nhiêu trong sự gia tăng về lợi ích?
Tính đồng bộ, hệ thống: Chính sách tiêu thụ nông sản có mâu thuẫn với các chính sách
khác đối với nông nghiệp nói riêng và cả nền kinh tế nói chung? Mối liên hệ của chính sách
tiêu thụ nông sản với các chính sách khác đến mức nào và cần phải làm như thế nào để có
thể phát huy tác dụng tốt nhất nhằm đạt được mục tiêu đề ra?
1.2. Chính sách tiêu thụ nông sản trong quá trình thực hiện các cam kết với WTO
của một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
khẩu, khuyến khích các doanh nghiệp xuất khẩu những mặt hàng có chất lượng cao, có nhãn
hiệu của quốc gia và bảo vệ những nhãn hiệu đó.
1.2.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
- Kinh nghiệm xác định công cụ chính sách tiêu thụ nông sản
Kinh nghiệm về chính sách giá cả, sản lượng nông sản. Chính phủ cần có biện pháp ổn
định giá cả thị trường, cân đối cung cầu đảm bảo ổn định thu nhập cho người sản xuất và
chi phí thu mua nguyên liệu cho các doanh nghiệp chế biến nông sản. Cả Trung Quốc và
Thái Lan đều rất chú trọng công tác này thông qua việc xây dựng hệ thống kho bãi lưu trữ
lương thực, thu mua nông sản khi dư cung và xuất bán khi dư cầu trên thị trường.
Kinh nghiệm trong chính sách phát triển công nghiệp chế biến nông sản. Gắn chặt sự
phát triển của nông nghiệp với công nghiệp chế biến ngay từ khi đưa ra các chủ trương,
chính sách và giải pháp; Áp dụng công nghệ chế biến nhiều trình độ, tranh thủ hiện đại hóa
công nghệ ở những khâu mũi nhọn; Thực hiện các chính sách hỗ trợ cho công nghiệp chế
biến phát triển.
12
Kinh nghiệm về chính sách liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản. Doanh nghiệp chế
biến, tiêu thụ đóng vai trò hạt nhân quyết định sự thành công của hình thức sản xuất theo
hợp đồng; Nhà nước đóng vai trò hỗ trợ và thúc đẩy trong nền sản xuất nông nghiệp phân
tán, lạc hậu; Sự thành công của các mô hình sản xuất theo hợp đồng tùy thuộc vào những
điều kiện vật chất nhất định và đặc điểm của chủng loại hàng hóa.
- Kinh nghiệm tổ chức thực hiện chính sách tiêu thụ nông sản
Trong quá trình tổ chức thực hiện các chính sách sản xuất và tiêu thụ nông sản, phải có
bước đi phù hợp, đánh giá đúng mức độ tác động của WTO đối với các lĩnh vực, tránh tâm
lý hoang mang cho nông dân.
Cần phải có sự kết hợp hài hòa và hợp lý trong quá trình thực hiện bảo hộ và tự do hóa
thương mại. Hài hòa trong việc xác định các nguồn vốn tín dụng cho phát triển nông sản ở
các thời kỳ khác nhau.
Chú trọng vai trò của các hiệp hội.
Trong quá trình thực hiện các chính sách thúc đẩy tiêu thụ nông sản ra thị trường nước
ngoài cần phải phát huy lợi thế trong việc sản xuất một số nông sản phù hợp với đặc điểm
chất lượng và an toàn; Thiết lập hệ thống GAP quốc gia; Quy định cơ cấu tổ chức và hướng
dẫn cho việc phát triển cao hơn kế hoạch chương trình GAP quốc gia; Tách bạch rõ vai trò
và trách nhiệm của mỗi cơ quan chính phủ và các bộ phận tư nhân; Khuyến khích việc đối
thoại giữa tất cả các thành viên liên quan; Xây dựng hệ thống kiểm tra, giám sát và lên kế
hoạch tiến hành; Cung cấp dịch vụ tư vấn và huấn luyện về GAP cho cả những người sản
xuất cá thể, tập thể và các doanh nghiệp trong nước Nhờ đó, từng bước rau hoa quả của
Thái Lan đã thâm nhập được vào ngày càng nhiều nước trên thế giới.
Kinh nghiệm trong phát triển hệ thống khuyến nông của Thái Lan. Cục khuyến nông
Thái Lan được chia làm hai cấp: Quản lý Nhà nước cấp Trung ương, có nhiệm vụ hướng
dẫn, chỉ đạo, điều phối và hỗ trợ cho các đơn vị địa phương thực hiện các chương trình, dự
án khuyến nông. Cấp quản lý hành chính cấp địa phương có nhiệm vụ xúc tiến, phát triển
nông dân, tổ chức nông dân trên địa bàn tỉnh quản lý, điều phối các hoạt động chuyển giao
tiến bộ kỹ thuật về nông nghiệp.
Một số chương trình lớn có hiệu quả cao của Thái Lan như: Chương trình hoãn nợ cho
nông dân vay tiền của Ngân hàng nông nghiệp; Chương trình "Mỗi làng một triệu baht",
"Mỗi làng một sản phẩm".
- Kinh nghiệm không thành công cần tránh đối với Việt Nam
Thái Lan duy trì thực hiện một chính sách mua hết gạo cho nông dân với một mức giá
đảm bảo có lời. Chính sách này được gọi là chương trình thế chấp gạo và được phổ biến
rộng. Nhưng chương trình này khá tốn kém cho ngân sách, nhất là khi chính phủ đưa ra mức
giá sai. Sai lầm xảy ra vào năm 2008 khi giá gạo trên thị trường thế giới cao ngất ngưởng.
Khi giá gạo bắt đầu giảm, Thái Lan vẫn nhấn mạnh rằng, giá gạo mua của nông dân phải
được duy trì ở mức cao. Kết quả là Chính phủ Thái Lan nắm giữ một lượng gạo dự trữ rất
lớn đã được mua vào trong thời điểm giá cao. Là nhà cung cấp nhiều gạo nhất ra thị trường
thế giới, Thái Lan không thể bán hết lượng gạo này mà không làm giá gạo giảm thêm.
Trung Quốc nhập khẩu tăng lên sau gia nhập WTO. Giai đoạn 2004 – 2005 sau gia
nhập WTO, thuế nhập khẩu nông sản giảm, các mặt hàng như lương thực, bông, dầu nhập
khẩu tăng lên. Trung Quốc đã chuyển từ nước xuất siêu sanh nước nhập siêu nông sản. Dân
số đông, quy mô sản xuất nhỏ, năng suất lao động thấp, trình độ kỹ thuật yếu cùng với hạn
chế về môi trường sản xuất, thuốc trừ sâu, điều kiện phòng dịch kém,… nông nghiệp Trung
- Cơ hội
Những lợi thế của nông sản Việt Nam trên thị trường nông sản toàn cầu
Lợi thế về điều kiện tự nhiên, đất đai, khí hậu, khoa học công nghệ, giá nhân công
rẻ;Cơ hội tiếp cận, mở rộng thị trường do được đối xử bình đẳng trên thị trường quốc tế;Tạo
điều kiện cho Việt Nam đổi mới, minh bạch chính sách liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp
và kinh doanh nông sản. Là thành viên WTO sẽ như một chứng chỉ giúp cho Việt Nam tạo
dựng được lòng tin của các nhà đầu tư nước ngoài. Trên cơ sở đó, các nhà đầu tư sẽ yên tâm
hơn khi đầu tư vào Việt Nam, đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp. Năng lực cạnh tranh của
nông sản Việt Nam được nâng cao. Khi gia nhập WTO, các doanh nghiệp, nông dân phải
đối mặt với môi trường cạnh tranh khốc liệt hơn.
- Thách thức
Những hạn chế của nông nghiệp Việt Nam trong quá trình thực hiện các cam kết với
WTO; Trình độ sản xuất nông sản còn thấp, công nghệ hiện đại chưa được áp dụng nhiều và
chủ yếu sản xuất hàng hóa nhỏ; Hàm lượng chất xám trong nông sản thấp; Công nghiệp chế
biến ở nước ta còn chậm phát triển so với nhu cầu phát triển của ngành nông nghiệp; Những
áp lực về kinh tế, xã hội của việc gia nhập WTO đến nông nghiệp Việt Nam; Cạnh tranh
trong nông nghiệp ngày càng gay gắt hơn; Sự phụ thuộc của nền kinh tế ngày càng tăng lên;
Phân phối lợi ích không đều giữa các tầng lớp dân cư; Môi trường, an ninh, văn hóa truyền
thống và lối sống có nhiều biến đổi tiêu cực.
2.2. Thực trạng tiêu thụ một số nông sản chủ yếu của Việt Nam trước và sau gia
nhập Tổ chức thương mại thế giới
2.2.1. Tổng quan tiêu thụ một số nông sản chủ yếu của Việt Nam trước và sau gia
nhập Tổ chức thương mại thế giới
15
2.2.1.1. Tình hình tiêu thụ một số nông sản chủ yếu tại thị trường nội địa
* Giai đoạn 2002 – 2006
Đây là giai đoạn Việt Nam gấp rút chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc gia
nhập WTO, các vòng đàm phán song phương, đa phương được tổ chức nhằm thỏa thuận để
đi tới đạt được những điều kiện cũng như lộ trình cam kết. Nông nghiệp nói chung và sản
xuất, tiêu thụ một số nông sản nói riêng ít nhiều có chịu ảnh hưởng. Tuy nhiên, tình hình
3,4
4,2
5,5
6,2
6,0
Nguồn: Tác giả tập hợp số liệu từ [94;tr54,56,58,59,60]
* Giai đoạn 2007 - 2012
Sau 6 năm Việt Nam gia nhập WTO, những cam kết của Việt Nam về thị trường nông
sản cùng với tác động từ thị trường bên ngoài nhanh hơn, mạnh hơn đã ít nhiều tác động đến
tiêu thụ nông sản trong nước. Điều này đồng nghĩa với sự cạnh tranh của nông sản Việt
Nam với hàng loạt các nông sản đến từ nước ngoài tăng lên, nông dân và doanh nghiệp của
Việt Nam phải đối diện với cuộc cạnh tranh mới trong quá trình Việt Nam thực hiện các
cam kết với WTO ngay tại thị trường nội địa.
Bảng 2.2: Tổng sản lượng và lượng tiêu thụ nội địa một số mặt hàng nông sản của
Việt Nam sau gia nhập WTO (2007 - 2012)
Đơn vị: Nghìn tấn
Mặt
hàng
Tổng sản
lượng và tiêu
thụ nội địa
2007 2008 2009 2010 2011 2012
Gạo
Tổng sản lượng 35.868,5 38.630,5
38.100,6 40.005,4
42.324,4
312,5 313,4 291,9 310,5 318 230,3
Tiêu thụ nội địa 6,3 6,2 5,8 6,2 6,4 7,3
Nguồn: Tác giả tập hợp số liệu từ [94], [95], [96], [97] và [98]
Bảng 2.2 cho thấy: Các mặt hàng nông sản đều có mức tăng trưởng ổn định, về cơ bản
năm sau tăng so với năm trước. Quá trình CNH, HĐH và tình hình thị trường biến động
khiến cho tại một số thời điểm diện tích canh tác bị giảm sút nhưng do năng suất có xu
hướng tăng nên tính chung toàn giai đoạn sản lượng luôn tăng, góp phần ổn định tiêu thụ
trong nước.
2.2.1.2. Tình hình tiêu thụ một số nông sản chủ yếu tại thị trường nước ngoài
* Giai đoạn 2002 – 2006
Giai đoạn này do sản lượng và tiêu thụ trong nước nhìn chung ổn định nên tình hình
xuất khẩu một số nông sản của Việt Nam vẫn tăng trưởng đều qua các năm.
Bảng 2.3: Lượng và kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng nông sản của Việt
Nam trước gia nhập WTO (2002 - 2006)
Đơn vị: - Lượng: Nghìn tấn;
- Kim ngạch: Triệu USD
Mặt
hàng
Lượng, kim
ngạch
2002 2003 2004 2005 2006
Gạo
Lượng 3.157,6 3.813,2 4.086,7 5.247,9 4.643,4
Kim ngạch 709,8 720,5 950,3 1.406,6 1.275,8
Cà phê
Lượng 669,7 749,2 974,7 889,5 980,8
Kim ngạch 290,6 504,8 641,0 732,8 1.217,1
Cao su
Lượng 413,9 433,1 513,2 586,4 707,7
Kim ngạch 242,6 377,8 596,8 803,4 1.286,3
hàng
Lượng,
kim ngạch
2007 2008 2009 2010 2011 2012
Gạo
Lượng 4.532 4.424 5.958 6.878 7.187 8.100
Kim ngạch
1.472 2.758 2.664 3.229 3.703 3.700
Cà phê
Lượng
1.200
1.132
1.181
1.113
1.220
1.760
Kim ngạch
1.881
2.116
1.731
1.666
2.691
3.740
Cao su
Lượng 719 544 731 773 846 1.020
Kim ngạch 1.296.5 1.675 1.227 2.321 3.283 2.850
Tiêu
Lượng 86 90,3 108 116 125 118
giai đoạn 2002 – 2006 đến 40-42 triệu tấn/năm; cà phê tăng từ 70-90 nghìn tấn/năm (2002 -
2006) đến 100 – 120 nghìn tấn/năm (2007 - 2012); Cao su tăng từ 300 – 500 nghìn tấn/năm
(2002 - 2006) đến 600 – 800 nghìn tấn/năm (2007 - 2012);…
2.2.2.2. Tình hình xuất khẩu
Sau khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO, xuất khẩu nông sản đạt
được những thành tựu quan trọng và luôn góp phần vào duy trì mức xuất siêu của các mặt
hàng nông lâm, thủy sản. Trước gia nhập, thị trường xuất khẩu chủ yếu vẫn tập trung vào
các thị trường truyền thống, nhưng sau gia nhập WTO, thị trường xuất khẩu đã được mở
rộng và khai thác thêm những thị trường lớn, yêu cầu chất lượng nông sản tốt hơn như Mỹ,
EU và Nhật Bản. Từ khâu sản xuất đến chế biến, tiêu thụ,… đều được đổi mới theo hướng
sản xuất nhằm phục vụ thị trường WTO với những tiêu chuẩn chất lượng toàn cầu.
2.3. Thực trạng chính sách tiêu thụ nông sản Việt Nam trong quá trình thực hiện
các cam kết với WTO
2.3.1. Chính sách giá cả, sản lượng nông sản
- Đối với gạo, cơ chế điều hành xuất khẩu gạo đã được Chính phủ chỉ đạo trong Nghị
quyết số 11/NQ-CP, ngày 24/2/2011, về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm
phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội, trong đó nhấn mạnh: “chỉ đạo điều
hành xuất khẩu gạo bảo đảm hiệu quả, ổn định giá lương thực trong nước và đảm bảo an
ninh lương thực quốc gia”.
Chính sách tạm trữ lúa gạo, chủ trương thu mua tạm trữ gạo được thực hiện mỗi năm 2
lần, vào các vụ đông xuân và hè thu, chính sách này có tác động tích cực là giúp giá lúa gạo
trên thị trường trong nước không bị sụt giảm khi nguồn cung tăng, đảm bảo cho người nông
dân có mức lãi nhất định. Chính phủ đã quyết định giao Hiệp hội Lương thực Việt Nam thu
mua tạm trữ từ 500 ngàn đến 1 triệu tấn quy gạo. Việc thu mua này chủ yếu qua hệ thống
thương lái, nông dân hầu như không được bán trực tiếp cho doanh nghiệp nên lợi nhuận
không về tay nông dân. Như vậy, có thể thấy chính sách tạm trữ đã không đạt được mục
đích cao nhất là hỗ trợ tận tay người nông dân mà đôi khi làm lợi cho các thương lái và
doanh nghiệp thu mua.
- Đối với cao su, theo quy hoạch chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông lâm thủy sản cả
nước đến năm 2010, diện tích cao su sẽ được quy hoạch ở mức từ 500 – 700 nghìn ha chủ
2.3.3. Chính sách xúc tiến thương mại nông sản
Xúc tiến thương mại nông sản chính là cầu nối doanh nghiệp với người tiêu dùng, giữa
nông dân với thị trường, doanh nghiệp với doanh nghiệp, doanh nghiệp với Nhà nước,… và
góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của ngành nông nghiệp VN trong điều kiện mở cửa
hội nhập với thị trường thế giới, khi VN đã và đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế
giới. Những chương trình xúc tiến thương mại của ngành đã tác động tích cực vào việc
quảng bá sản phẩm nông lâm thủy sản, ổn định và phát triển thị trường nội địa; đẩy mạnh
xuất khẩu và đang dần trở thành đối tác tin cậy của nông dân và các doanh nghiệp kinh
doanh nông sản. Đặc biệt, với các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khi tham gia các chương
trình hội chợ triển lãm đã góp phần khuyên khích các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh
nông sản tích cực mang nông sản VN đến rộng rãi người tiêu dùng trong và ngoài nước.
2.3.4. Chính sách liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản
Tỷ lệ nông sản hàng hóa tiêu thụ qua liên kết sản xuất – chế biến tiêu thụ nông sản
giữa nông dân với các thành phần kinh tế khác còn thấp, chưa phát triển sâu rộng ở các địa
phương, ngành hàng và sản phẩm. Nhiều mô hình liên kết còn thiếu tính bền vững, tình
trạng phá vỡ hợp đồng khá phổ biến. Một số nông dân cố tình bán ra bên ngoài để lẫn tránh
việc thanh toán các khoản đầu tư ứng trước. Nhiều doanh nghiệp chưa tôn trọng lợi ích
nông dân, không quan tâm vùng nguyên liệu, lợi dụng thế độc quyền ép giá, ép cấp, Nói
chung, QĐ 80 chưa tạo được mối quan hệ giữa doanh nghiệp và nông dân trên cơ sở lợi ích.
Nguyên nhân của tình trạng trên xuất phát từ tình trạng sản xuất nhỏ lẻ; trình độ kỹ năng
nghề nghiệp của nông dân thấp; năng lực hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp còn thấp.
20
2.4. Đánh giá chính sách tiêu thụ nông sản Việt Nam trong quá trình thực hiện
các cam kết với WTO
2.4.1. Đánh giá thông qua các tiêu chí của chính sách tiêu thụ nông sản
2.4.1.1. Tính phù hợp của chính sách tiêu thụ nông sản
Trong quá trình thực hiện các cam kết với WTO, cùng với biến động của thị trường
nông sản thế giới và trong nước, chính sách đưa ra chưa thực sự phù hợp và bám sát với
những thay đổi của kinh tế, xã hội. Chẳng hạn, điều hành kinh doanh lúa gạo chưa thật sự
2.4.1.5. Tính đồng bộ, hệ thống của chính sách tiêu thụ nông sản
Nhìn chung, các chính sách bộ phận mà Nhà nước đưa ra thời gian qua khá đồng bộ và
bước đầu tạo nên những thành công cho nông nghiệp nói chung và nông sản nói riêng. Tuy
nhiên, cần phải tiếp tục hoàn thiện trong điều kiện và bối cảnh mới.
21
Chính sách của Nhà nước chưa thực sự đảm bảo sự đồng bộ giữa sản xuất và tiêu thụ,
đặc biệt trong bối cảnh hội nhập WTO, chính sách tiêu thụ nông sản ra thị trường thế giới
càng phải quan tâm vấn đề thị trường tiêu thụ, gắn chặt sản xuất và tiêu thụ nông sản. Sản
xuất phải gắn chặt với thị trường. Chính sách tiêu thụ nông sản còn nhiều bất hợp lý khi kết
hợp với các chính sách khác trong thực tế. Hỗ trợ lãi suất và cho vay vốn đối với các chủ thể
được nhà nước quan tâm nhưng nông dân lại là chủ thể chịu thiệt thòi nhất trong cuộc cạnh
tranh nhằm vay vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh.
Tóm lại, chính sách tiêu thụ nông sản cần phải được điều chỉnh cho phù hợp với điều
kiện mới, trước hết các chính sách bộ phận phải phù hợp với nhau, tiếp đến nó phải phù hợp
với các chính sách khác cả chính sách kinh tế lẫn chính sách xã hội.
2.4.2. Đánh giá năng lực tham gia của nông sản Việt Nam vào chuỗi giá trị nông
sản toàn cầu
Thứ nhất, nhìn chung các mặt hàng nông sản chủ yếu của Việt Nam đều có khả năng
tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Thứ hai, nông sản Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu ở khâu trồng trọt và
chăn nuôi là chủ yếu nên giá trị gia tăng mang lại rất thấp.
Thứ ba, một số loại nông sản Việt Nam và một số chuỗi giá trị riêng biệt của doanh
nghiệp đã tham gia được vào các khâu có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Thứ tư, một số yếu tố thuộc về thể chế, môi trường kinh doanh đã bước đầu góp phần
tạo lập năng lực tham gia của nông sản Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu.
2.4.3. Đánh giá chung về thành tựu và hạn chế của chính sách tiêu thụ nông sản
trong quá trình thực hiện các cam kết với WTO
2.4.3.1. Thành tựu
Một là, các quy định pháp luật và chính sách có liên quan đến sản xuất và tiêu thụ
nông sản chuyển biến theo hướng minh bạch hơn, ít phân biệt hơn giữa các thành phần kinh
nhưng lại không có được vai trò chi phối chuỗi, chi phối thị trường. Khả năng cạnh tranh
của sản phẩm yếu, xuất khẩu của nước ta thời gian qua chủ yếu dịch chuyển theo chiều rộng
mà chưa đi vào chiều sâu.
Thứ sáu, mạng lưới của các cơ quan đại diện thương mại của Việt Nam ở nước ngoài
hoạt động còn kém hiệu quả, chưa thực sự hỗ trợ tốt cho các cơ quan quản lý nhà nước và
doanh nghiệp, nông dân trong hoạt động xuất khẩu. Các chương trình xúc tiến thương mại
còn nhỏ lẻ, rời rạc, hiệu quả chưa cao.
Thứ bảy, việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào ngành nông nghiệp chưa cao, đặc biệt
là công nghiệp chế biến.
Thứ tám, cạnh tranh gay gắt diễn ra ở cả ba cấp độ: sản phẩm – sản phẩm, doanh
nghiệp – doanh nghiệp, chính phủ - chính phủ cả trên thị trường trong nước và thị trường
quốc tế.
Thứ chín, chính sách của Nhà nước trong điều kiện khủng hoảng tài chính toàn cầu và
những hậu quả để lại của nó không được nhanh nhạy và chủ động khiến cho ngành nông
nghiệp bị ảnh hưởng lớn hơn: Giá cả nông sản lên xuống thất thường, nhu cầu tiêu dùng
giảm mạnh, thị trường trong nước và xuất khẩu bị thu hẹp, thiếu các đơn hàng mới. Giá một
số yếu tố đầu vào tăng làm cho chi phí sản xuất tăng lên,…
23
CHƯƠNG 3
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TIÊU THỤ
NÔNG SẢN VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CÁC CAM KẾT
VỚI TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI
3.1. Bối cảnh mới ảnh hưởng đến chính sách tiêu thụ nông sản Việt Nam
3.1.1. Triển vọng kinh tế thế giới và trong nước giai đoạn 2012 – 2020
- Kinh tế thế giới
Theo OECD, khối lượng GDP toàn cầu sẽ từ 32 nghìn tỷ USD tăng lên 42 nghìn tỷ
USD vào năm 2015 và 53 nghìn tỷ USD (theo giá năm 2000) vào năm 2020. Theo Hội đồng
tình báo quốc gia Mỹ (NIC) quy mô kinh tế thế giới sẽ tăng 80% so với năm 2000, thu nhập
bình quân đầu người của cả thế giới sẽ tăng hơn 50% (năm 2004, GDP bình quân đầu người
toàn thế giới, theo giá thực tế 6393 USD; theo sức mua tương đương 8760 USD, riêng
24
3.2.1. Chính sách tiêu thụ nông sản phải vừa tuân thủ các cam kết với WTO, vừa
bảo vệ được lợi ích của đất nước
Hoàn thiện công tác quy hoạch và xác lập chiến lược phát triển nông sản xuất khẩu.
Tham gia WTO, sản xuất và tiêu thụ nông sản phải chịu sự chi phối của những quy định
toàn cầu và thị trường toàn cầu.
Phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và thương mại.
Tăng cường xúc tiến thương mại và dự báo thị trường. Nhà nước cần tăng cường công
tác đàm phán, xúc tiến thương mại, ký kết các hiệp định thương mại song phương và đa
phương để mở đường cho nông sản Việt Nam thâm nhập thị trường nông sản thế giới, nhất
là thị trường có sức mua lớn.
Hoàn thiện hệ thống quy định VSATTP và nâng cao chất lượng sản phẩm.
Nhà nước thực hiện các chính sách hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh cho nông sản.
Nhà nước cần có các chính sách khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư vào ngành
giống để phát triển sản xuất giống theo hướng CNH, HĐH.
3.2.2. Xây dựng chính sách tiêu thụ nông sản phải tôn trọng các quy luật của kinh
tế thị trường, xuất phát từ nhu cầu của thị trường
Quan điểm này đòi hỏi phải làm tốt công tác nghiên cứu nhu cầu thị trường và thị hiếu
khách hàng, từ đó xác định thị trường trọng điểm, dung lượng trao đổi và tính ổn định với
những mặt hàng có khả năng cạnh tranh cao, đem lại hiệu quả kinh tế lớn. Quyết định lựa
chọn và định hướng quy hoạch sản xuất một cách đồng bộ từ khâu sản xuất, chế biến đến
tiêu thụ phải căn cứ vào nhu cầu thị trường, tránh quy hoạch một cách chủ quan, duy ý chí
dựa vào những cái sẵn có, những thứ ta có thể làm được, bởi trong kinh tế thị trường phải là
sản xuất những cái mà thị trường cần.
3.2.3. Đảm bảo hài hòa quan hệ lợi ích giữa các chủ thể kinh tế trong hoạt động
tiêu thụ nông sản
Hoạt động tiêu thụ nông sản phải mang lại lợi ích hài hòa cho các chủ thể, bởi lẽ ở đây
các chủ thể hoạt động trên cơ sở lợi ích kinh tế và tuân theo các quy luật của thị trường.
Như vậy, các khâu từ sản xuất nguyên liệu, chế biến, tiêu thụ sản phẩm phải gắn kết chặt
chẽ với nhau. Để hạn chế những rủi ro và đảm bảo sự bền vững trong liên kết, rất cần có các