NHỮNG KHÓ KHĂN THUẬN LỢI CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT
NAM TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CẮT GIẢM THUẾ
QUAN HỘI NHẬP AFTA
1.1. CÁC NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CEPT/AFTA
Trong tất các chương trình hợp tác kinh tế - thương mại của khối ASEAN thì Hiệp
định về thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (Common Effective Preferetial Tariff -
CEPT) đóng vai trò quan trọng nhất, nhằm biến ASEAN thành Khu vực mậu dịch
tự do (ASEAN Free Trade Area - AFTA), nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa
ASEAN trên thị trường quốc tế và tạo ra sức cuốn hút đối với đầu tư nước ngoài.
Chính vì vậy, tại Hội nghị thượng đỉnh lần thứ tư tại Xingapo, ngày 28/1/1992,
nguyên thủ các nước ASEAN đã thông nhất thông qua CEPT và chương trình này
bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/1/1993, ban đầu dự định thực hiện trong 15 năm,
nhưng trước tình hình thưong mại quốc tế có nhiều thay đổi, Hội nghị Bộ trưởng
ASEAN tại Chiêng Mai (Thái Lan) diễn ra vào tháng 9/1993 đã quyết định rút
ngắn thời gian thực hiện CEPT xuống còn 10 năm tức là đến năm 2003 và sau Hội
nghị Thượng đỉnh lầu sáu tịa Hà Nội, mốc thời gian này được ấn định là 1/1/2002
cho ASEAN - 6. Các nội dung chủ yếu của CEPT về cơ bản bao gồm các nội dung
sau:
1.1.1. Nội dung về loại bỏ hàng rào thuế quan:
Hiệp định CEPT thực chất là chương trình cắt giảm thuế quan chung xuống mức
0% - 5% trong buôn bán trao đổi hàng hóa giữa các nước thành viên ASEAN với
nhau. Đây là công cụ chỉ đạo thực hiện AFTA với nội dung và lộ trình cắt giảm
thuế và loại bỏ hàng rào phi thuế quan của từng danh mục như sau:
a) Danh mục cắt giảm ngay (IL): Các sản phẩm theo danh mục này được các nước
thành viên nhất trí chia thành 2 lộ trình cắt giảm:
+ Lộ trình cắt giảm thuế nhanh: bao gồm các danh mục hàng hóa đang chịu
thuế suất dưới mức 20% sẽ được cắt giảm xuống 0% - 5% kể từ ngày 1/1/1998,
bao gồm 15 nhóm mặt hàng chiếm khoảng 40% thương mại trong khối. Các sản
phẩm có thuế suất trên 20% được giảm xuống dưới 5% kể từ 1/1/2000.
+ Lộ trình cắt giảm bình thường: Các nhóm hàng còn lại có mức thuế bằng hoặc
dưới 20% sẽ cắt giảm xuống còn 0% - 5% cho đến ngày 1/1/2002 đối với
d) Danh mục nhạy cảm và danh mục nhạy cảm cao (SL): Danh mục Nhạy cảm (SL)
bao gồm những mặt hàng nông sản chưa chế biến mà việc cắt giảm thuế quan
có thể gây tác động lớn đến sản xuất, đời sống trong nước.
Các mặt hàng trong SL được dành một khung thời gian dài hơn trong việc cắt giảm
thuế quan, đến năm 2010 mới phải đưa thuế suất các mặt hàng này xuống 0 - 5%
Bên cạnh đó, các mặt hàng này cũng có những quy định riêng về thuế suất khi bắt
đầu cắt giảm thuế quan, các biện pháp tự vệ.
Tương tự như vậy, các mặt hàng trong Danh mục Nhạy cảm cao được dành một
khung thời gian dài hơn nữa. Các nước ASEAN cũn đang đàm phán về những chi
tiết của hai danh mục này.
Xuất phát từ thực tế về vai trò của hàng nông sản chưa chế biến đối với phần lớn
các nước ASEAN, có số lượng các nhóm mặt hàng lớn, thuế quan nhập khẩu cao
được các nước áp dụng đối với những mặt hàng này, tại Hội nghị AEM -
26/9/1994, các Bộ trưởng kinh tế đã quyết định đưa nông sản chưa chế biến vào
phạm vi của hiệp định CEPT theo ba loại danh mục khác nhau là: danh mục giảm
thuế, danh mục loại trù tạm thời và danh mục các sản phẩm nông sản chưa chế
biến nhạy cảm để thực hiện AFTA.
Cơ chế trao đổi nhượng bộ của Hiệp định CEPT:
Những nhượng bộ khi thực hiện CEPT của các quốc gia được trao đổi trên nguyên
tắc có đi có lại. Muốn được hưởng nhượng bộ về thuế quan khi xuất khẩu hàng hóa
trong khối, một sản phẩm cần có các điều kiện sau:
a) Sản phẩm đó phải nằm trong danh mục cắt giảm thuế của cẩ nước xuất khẩu và
nước nhập khẩu và phải có mức thuế quan (nhập khẩu) bằng hoặc thấp hơn
20%;
b) Sản phẩm đó phải có chương trình giảm thuế được Hội đồng AFTA thông qua;
A + B X 100% = T% Giá FOB
c) Sản phẩm đó phải là một sản phẩm của khối ASEAN, tức là phải thỏa mãn yêu
cầu hàm lượng xuất xứ từ các nước thành viên ASEAN (hàm lượng nội địa) ít
nhất là 40%.
Công thức 40% hàm lượng ASEAN như sau:
Lào và Myanmar bắt đầu tham gia thực hiện AFTA từ năm 1998 và sẽ hoàn thành
vào năm 2008, Campuchia bắt đầu từ năm 2000 và kết thúc vào năm 2010. Tuy
tham gia thực hiện AFTA muộn song các nước thành viên mới đều nghiêm túc
thực hiện nghĩa vụ và triển khai cam kết cắt giảm thuế quan để thực hiện AFTA, cụ
thể là hàng năm công bố văn bản pháp lý thực hiện AFTA đồng thời xây dựng lộ
trình tổng thể sơ bộ thể hiện nghĩa vụ cắt giảm chính tại các mốc thời gian cơ bản
cho cả giai đoạn 10 năm.
1.2.2. Tiến trình thực hiện AFTA của Việt Nam cho đến nay
Ngày 28 tháng 7 năm 1995, Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ 7 của
Hiệp hội các nước Đông Nam á (ASEAN ). Sự kiện trọng đại này đánh dấu một
thành cóng to lớn của chính sách đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam, đánh
dấu một bước phát triển mới trong quá trình hội nhập của Việt Nam vào cộng đồng
quốc tế và liên minh kinh tế quốc tế.
Với 10 thành viên và với số dân 500 triệu người, thu nhập bình quân đầu người
hàng năm là 1.680 USD, ASEAN là cửa ngõ của Đông Nam á nơi hội tụ của các
giao lưu kinh tế quốc tế và đang trở thành một khu vực phát triển năng động của
Châu á cũng như trên toàn thế giới.
Sự hội nhập vào nền kinh tế các nước trong khu vực đưa lại những lợi ích kinh tế
to lớn cho cả các nhà sản xuất và người tiêu dùng trong các nước thành viên. Việc
tham gia của Việt Nam vào Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) là một tất
yếu, không những vì Việt Nam là thành viên của ASEAN mà còn do các tác động
tích cực của nó đối với sự phát triển kinh tế của đất nước ta. Việc hội nhập vào
AFTA sẽ tạo điều kiện hình thành những mối quan hệ kinh tế rộng mở hơn giữa
nền kinh tế của Việt Nam với khuôn khổ kinh tế chung của khu vực và thế giới.
Đây chính là cơ hội mới để nền kinh tế Việt Nam bắt kịp với những xu hướng vận
động chung của khu vực và thế giới, tìm ra tiếng nói chung với cộng đồng quốc tế
mà trước hết là với các nước trong khối mậu dịch tự do AFTA, mở ra một thế vững
vàng hơn trong quan hệ của Việt Nam với các liên minh kinh tế khác, đặc biệt là
với Liên minh Châu âu (EU), với Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), cũng
như với Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và với Diễn đàn kinh tế Châu á -
doanh nghiệp.
Mặt khác, những mặt hàng quan trọng, được bảo hộ cao, chiếm gần 50% kim
ngạch thương mại của Việt Nam (như rượu bia, xăng dầu, ô tô xe máy, phân bón,
hoá chất...) đang thuộc Danh mục Loại trừ hoàn toàn (GE) và Danh mục Loại trừ
tạm thời (TEL), không phải thực hiện các nghĩa vụ cắt giảm thuế quan cũng như
loại bỏ hàng rào phi quan thuế. Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam so với
các nước ASEAN có điểm tương đồng khá rõ nét, cụ thể là nếu Việt Nam có lợi
thế xuất khẩu các mặt hàng nông sản, nguyên liệu thô và một số sản phẩm công
nghiệp nhẹ thì các nước ASEAN cũng có lợi thế này và chính là đối thủ cạnh tranh
thị trường xuất khẩu với Việt Nam.
Thực tế thời gian qua cho thấy ASEAN chưa phải là thị trường xuất khẩu tiềm
năng đối với các mặt hàng truyền thống của Việt Nam, mà hội nhập ASEAN chỉ là
một bước tập dượt chuẩn bị cho Việt Nam bước vào một thi trường rộng lớn.
1.2.3. Lịch trình cắt giảm thuế quan tổng thể giai đoạn 2001-2006 để thực hiện
AFTA của Việt Nam
Sau thời kỳ khủng hoảng tài chính tiền tệ, đặc biệt là từ năm 2000, vấn đề thúc đẩy
nhanh tự do hóa thương mại trong khu vực là một trong những chủ đề đã được thảo
luận tại nhiều cuộc họp ở cấp nguyên thủ quốc gia ASEAN. Các nước thành viên
đều cam kết sẽ đẩy nhanh hơn tiến trình cắt giảm thuế qua và bỏ dần các biện pháp
phi thuế. Tại Hội nghị Hội đồng AFTA lần thứ 13 tổ chức vào tháng 9/1999 tại
Singapore, thực hiện nghĩa vụ của một nước thành viên, Việt Nam cam kết sẽ công
bố Lịch trình cắt giảm thuế quan tổng thể đến năm 2006 để thựchiện AFTA của
mình. Để thực hiện cam kết này, Lịch trình cắt giảm thuế qua tổng thể thực hiện
AFTA giai đoạn 2001 - 2006 của Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê
chuẩn về mặt nguyên tắc tại công văn số 5408/VPCP - TCQT ngày 11/12/2000 của
Văn phòng Chính phủ. Đồng thời căn cứ vào lộ trình này Thủ tướng Chính phủ
đang xem xét để phê chuẩn Nghị định ban hành Danh mục cắt giảm thuế quan thực
hiện AFTA năm 2001.
Theo Lịch trình này từ năm 2001 đến 2006, Việt Nam sẽ thực hiện giảm thuế quan
cho 6210 dòng thuế nhập khẩu trong tổng số 6400 dòng thuế hiện hành, cụ thể như
nước ASEAN xin được khái quát như sau:
Mở rộng các sắc thuế đánh vào hàng nhập khẩu
Thuế nhập khẩu hiện hành đã được tách riêng thành thuế nhập khẩu và các loại
thuế gián thu. Vấn đề này liên quan trước tiên đến thuế tiêu thụ . đặc biệt. Trước
kia Việt Nam chỉ áp dụng đối với các hàng hóa nhập khẩu một loại thuế duy nhất
là thuế nhập khẩu với mức thuế suất tương đối cao so với các nước khác nhất là đối
với các hàng tiêu dùng, đồ cao cấp. Về thực chất trong thuế nhập khẩu này đã bao
hàm cả thuế tiêu thụ đặc biệt. Do đó khi Việt Nam tiến hành cắt giảm thuế nhập
khẩu thì điều cần thiết phải xem xét và thực hiện là tách loại thuế này ra. Với cải
cải cách thuế này, hàng nhập khẩu hiện nay thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt
phải nộp thuế tiêu thụ đặc biệt khi nhập khẩu.
Thuế tiêu thụ đặc biệt thường đánh vào những mặt hàng không khuyến khích tiêu
dùng, bảo vệ môi trường và bảo đảm tính “công bằng”. Tuy là những mặt hàng
không khuyến khích tiêu dùng nhưng nhu cầu tiêu đùng lại ít thay đổi. Khi hệ số
thay đổi đối với hàng hóa này thấp thì việc tằng mức thuế suất sẽ thúc đẩy không
nhiều tới sự giảm tiêu dùng các sản phẩm chịu thuế. Do đó, các lý thuyết kinh tế
thường cho rằng đánh thuế vào các mặt hàng có sự biến đổi về cầu và cung không
lớn thì chỉ gây ra những tổn thất rất nhỏ đối với nền kinh tế. Lý thuyết nay cho thấy
việc đưa thuế tiêu thụ đặc biệt đánh vào hàng nhập khẩu là hợp lý và có thể là một
nguồn tăng thu ngân sách từ thuế tiêu thụ đặc biệt và bảo hộ đích đáng hàng sản
xuất trong nước.
Sửa đổi thuế Tiêu thụ đặc biệt
Áp đụng thuế suất thuế TTĐB đối với ô tô nội địa ngang bằng ôtô nhập khẩu,
phù hợp với yêu cầu của chế độ đãi ngộ quốc gia đối với hàng hoá nhập khẩu
được ký kết giữa các nước tham gia AFTA. Tuy nhiên vẫn có sự phân biệt thuế
suất đánh vào thuốc lá nhập khẩu và thuốc lá được sản xuất từ nguồn nguyên
liệu trong nước.
Sửa đổi thứ hai của luật thuế TTĐB chủ yếu để hạn chế tiêu dùng các loại hàng
hoá, dịch vụ cao cấp ở Việt Nam. Đó là việc mở rộng phạm vi các .mặt hàng và
dịch vụ chịu thuế TTĐB. Ngoài thuế tiêu thụ đặc biệt đánh vào hàng thuộc diện
508 mặt hàng (11% tổng số mặt hàng chịu thuế). Từ mức 11% đến 20% còn hai
mức cơ bản là 15% ( 67 mặt hàng chiếm 1% tổng số các mặt hàng chịu thuê) và
20% (545 mặt hàng chiếm 9% tổng số các mặt hàng chịu thuế). Có 2.8 mặt hàng