THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH THỰC HIỆN CÁC CAM KẾT GIA NHẬP WTO - Pdf 69

THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH
THỰC HIỆN CÁC CAM KẾT GIA NHẬP WTO .
1.1.Tổng quan về thị trường bán lẻ:
Khái niệm về phân phối:
Hoạt động phân phối có thể xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau:
Đối với người sản xuất, phân phối là những cách thức tổ chức giúp họ đưa sản
phẩm tới người tiêu dùng cuối cùng.
Đối với người tiêu dùng, hoạt động phân phối chủ yếu được thể hiện tại các cửa
hàng bán lẻ, nó thể hiện quá trình vận động của hàng hoá bao gồm quá trình vận
chuyển, dự trữ biến đổi và đưa hàng hoá đến phục vụ nhằm thoả mãn nhu cầu của họ.
Đối với bản thân các nhà phân phối, hoạt động phân phối là một lĩnh vực kinh tế
riêng biệt có chức năng trung gian giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng.
Như vậy, phân phối có thể hiểu là toàn bộ những hoạt động cách thức để đưa hàng
hoá từ nhà sản xuất, chế tạo tới tay người tiêu dùng. Các hoạt động cách thức này có thể
là đóng gói, vận chuyển, dự trữ, bán lẻ.... Hoạt động phân phối có thể coi là cầu nối
giữa người sản xuất và người tiêu dùng dù có thể người sản xuất tự cung cấp hàng hoá
hay cung cấp hàng hoá qua trung gian tới người tiêu dùng. Thông qua hoạt động phân
phối hàng hoá có thể lưu thông trên phạm vi toàn xã hội để đáp ứng nhu cầu phong phú,
đa dạng của người tiêu dùng.
1.1.1 Định nghĩa về thị trường bán lẻ:
Bán lẻ là hoạt động bán các sản phẩm hoàn chỉnh và dịch vụ cho người tiêu thụ để
thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng cá nhân hay hộ gia đình. Nói cách khác, bán lẻ gồm tất cả
các hoạt động liên quan đến việc bán hàng hóa trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng
để họ sử dụng vào mục đích cá nhân, không kinh doanh.
Người bán lẻ là các cá nhân hay tổ chức làm công việc bán lẻ thông qua các hình
thức đa dạng như bán hàng trực tiếp, bán qua điện thoại, bán hàng qua internet…
Thị trường bán lẻ là thị trường ở đó diễn ra hoạt động bán lẻ. Những người bán lẻ
và người tiêu dùng là hai tác nhân chính của thị trường. Những người bán lẻ (cá nhân,
tổ chức) và người tiêu dùng tiến hành hoạt động mua bán hàng hóa trong một khuôn
khổ khung pháp lý nhất định.
1.1.2. Cấu trúc kênh phân phối của thị trường bán lẻ:

hàng hoá đến thẳng tay người tiêu dùng nên giá cả hợp lý hơn. Đồng thời, do không
phải qua khâu trung gian nên nhà sản xuất có thể thu được nhiều lợi nhuận hơn. Đặc
biệt, ưu điểm lớn nhất đó là nhà sản xuất có thể dễ dàng nắm bắt, nhận biết nhu cầu của
khách hàng.
Người
tiêu
dùng
Người
sản
xuất
Các loại hình
khác:CH đại lý,
CH của HTX
bán lẻ...
+Nhược điểm: Để thực hiện đưa hàng hoá theo con đường này và đảm bảo được
nguyên tắc lợi nhuận thì người tiêu dùng ở đây phải là người có nhu cầu tiêu thụ lớn và
ổn định. Trên thực tế, rất khó doanh nghiệp có thể tìm kiếm được những người tiêu
dùng đáp ứng được yêu cầu đó.
+ Ứng dụng: Con đường trực tiếp thường được áp dụng trong trường hợp bán
những hàng hoá có giá trị lớn, những hàng hoá có tính chất thương phẩm đặc biệt (hàng
tươi sống, hàng lâu bền)... Ví dụ: bán ô tô, cửa hàng bán và giới thiệu sản phẩm.
- Người sản xuất đưa hàng hoá của mình tới tay người tiêu dùng thông qua khâu
trung gian là những nhà bán lẻ hoặc là thông qua nhà bán buôn rồi đến người bán lẻ
cuối cùng là đến người tiêu dùng.
Trường hợp hàng hoá theo con đường ngắn chỉ có một người trung gian là người
bán lẻ:
+ Ưu điểm: Trong trường hợp này thì người sản xuất có thể tận dụng được vị trí
bán hàng, hệ thống phân phối của người bán lẻ. Qua đó, nhà sản xuất có thể tăng được
uy tín của hàng hoá. Ngoài ra, người sản xuất cũng dễ dàng điều chỉnh hoạt động bán
hàng của mình.

Người
sản
xuất
Người
tiêu
dùng
Người
sản xuất
Người
bán lẻ
Người
tiêu
dùng
Người
sản xuất
Người
bán
buôn
Người
tiêu
dùng
Người
bán lẻ
Trên thực tế, người sản xuất không chỉ áp dụng duy nhất một con đường để đưa
hàng hoá của mình tới tay người tiêu dùng. Họ có thể bán hàng trực tiếp tới tay người
tiêu dùng thông qua các cửa hàng bán và giới thiệu sản phẩm, bán buôn cho những
người bán lẻ để phân phối được nhiều sản phẩm, đồng thời họ có thể bán hàng thông
qua môi giới khi đưa hàng hoá của mình sang thị trường nước ngoài. Kết hợp nhiều con
đường phân phối khác nhau giúp người sản xuất vừa am hiểu nhu cầu của thị trường để
điều chỉnh sản xuất vừa tiêu thụ sản phẩm được tốt hơn. Khi lựa chọn các con đường

lẻ này, các tổ chức hay cá nhân bán lẻ có một địa điểm kinh doanh cố định. Tại đây,
người ta tổ chức trưng bày hàng hoá và người tiêu dùng tới đây để mua và thanh toán
trực tiếp. Các địa điểm bán hàng này tuỳ theo quy mô, tính chất của từng loại cửa hàng
mà người ta phân loại ra các loại cửa hàng khác nhau. Hiện nay có các loại cửa hàng
bán lẻ như sau:
Chợ: Chợ là một loại hình bán lẻ truyền thống lâu đời và phổ biến khắp nơi trên thế
giới. Chợ có thể hiểu là một nơi quy tụ nhiều người bán lẻ và người tiêu dùng để tiêu
thụ các loại hàng hoá khác nhau. Hoạt động buôn bán của chợ có thể diễn ra hàng ngày
hoặc định kỳ theo một khoảng thời gian nhất định.
Siêu thị: Siêu thị là một loại hình bán lẻ hiện đại, mới xuất hiện tại Việt Nam. Siêu
thị được hiểu là một cửa hàng bán lẻ kinh doanh theo phương thức tự phục vụ, được
trang bị cơ sở vật chất tương đối hiện đại, bày bán nhiều mặt hàng đáp ứng nhu cầu
phong phú của người dân. Giá cả tại siêu thị thường cố định theo sự ấn định của người
kinh doanh không linh hoạt như giá cả tại chợ là kết quả thương lượng giữa người bán
và người mua. Siêu thị thường phải đáp ứng được một số quy định nhất định về cơ sở
vật chất: quy mô, địa điểm, kho... Quy định này tuỳ thuộc vào cơ quan quản lý của siêu
thị này.
Cửa hàng bán lẻ độc lập: Loại hình bán lẻ này tồn tại rất phổ biến. Các cửa hàng
này thường thuộc sở hữu của cá nhân hay hộ gia đình. Nó tồn tại dưới hình thức các
cửa hàng, cửa tiệm nhỏ tại các mặt phố, khu dân cư. Các loại hàng hoá tại các cửa hàng
này thường là các hàng tiêu dùng, dân dụng phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng hàng ngày.
Cửa hàng bán lẻ dạng hợp tác xã: Hợp tác xã bán lẻ được hình thành bởi một nhóm
người bán lẻ liên kết với nhau để cùng buôn bán, phân phối hàng hoá. Sự liên kết này
dựa trên sự tự nguyện, đồng thời các thành viên có quyền tự do gia nhập tách khỏi hợp
tác xã và tự cung ứng hàng hoá từ các nguồn ngoài hợp tác xã.
Cửa hàng bách hoá: Đây là loại hình cửa hàng lớn cả về quy mô và số lượng hàng
hoá. Các cửa hàng bách hoá thường được xây dựng tại các khu dân cư tập trung đông
đúc. Hàng hoá tại đây phong phú về chủng loại và mẫu mã nên thường được bày bán
chuyên biệt tại các khu vực riêng của cửa hàng
Cửa hàng đại lý: Các cửa hàng này được người sản xuất hoặc người phân phối

phổ biến hơn. Do sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, công nghệ viễn thông đặc biệt
là mạng internet thì hiện nay hoạt động thương mại điện tử (giới thiệu, bán hàng và
thanh toán qua mạng) đang rất phát triển. Đồng thời, thu nhập của người tiêu dùng tăng
lên dẫn tới nhu cầu di lại, nghỉ ngơi, ăn uống ... tăng lên kéo theo các loại hình dịch vụ
tăng lên không ngừng.
1.1.4. Vai trò của hoạt động bán lẻ:
Khi hoạt động bán lẻ phát triển tốt, lành mạnh thì nhờ đó sản xuất tăng, phục vụ
được nhu cầu của người tiêu dùng và góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Hoạt động bán lẻ có vai trò điều tiết hàng hoá. Nó điều tiết hàng hoá từ nơi sản xuất
tới người tiêu dùng. Nó điều tiết hàng hoá ở tất cả các vùng miền từ thành phố, nông
thôn, vùng sâu vùng xa bất kể nơi đâu có nhu cầu. Hoạt động bán lẻ phát triển nó đảm
bảo cung cấp hàng hoá công bằng cho mọi người dân trên khắp các vùng trên cả nước.
Do vậy, hoạt động bán lẻ cũng có vai trò góp phần vào việc giảm khoảng cách giàu
nghèo giữa các khu vực.
Cơ cấu thương mại có những biến đổi sâu sắc khi mà hoạt động bán lẻ phát triển.
Khi đó thị trường ngày càng lành mạnh, cạnh tranh hiệu quả hơn.
Sự phát triển của hoạt động bán lẻ cũng tăng cường khả năng tự điều tiết ít chịu ảnh
hưởng của Nhà nước của thị trường hơn. Khi hoạt động bán lẻ phát triển tức là hàng
hoá phong phú và với nhiều nhà phân phối cộng với các quy định cạnh tranh lành mạnh
thì chắc chắn người tiêu dùng sẽ nhận được những hàng hoá tốt nhất với giá cả hợp lý
nhất.
Trong nền sản xuất hàng hoá kinh tế thị trường có xuất hiện mâu thuẫn cơ bản giữa
một nền sản xuất hàng hoá lớn và nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng. Sở dĩ có mâu
thuẫn đó là do vô số người tiêu dùng khác nhau lại có những nhu cầu, sở thích khác
nhau. Khi xã hội càng phát triển thì sự đa dạng của những nhu cầu này ngày càng tăng.
Trong khi đó các doanh nghiệp phải tăng quy mô sản xuất để tối đa hoá lợi nhuận. Và
hoạt động bán lẻ có vai trò giải quyết được mâu thuẫn cơ bản đó.
1.1.5. Chức năng của hoạt động bán lẻ:
Hoạt động bán lẻ có rất nhiều chức năng. Nhưng các chức năng chính của bán lẻ là
mua, bán, vận chuyển, lưu kho, phân loại, tài chính, chịu rủi ro và thông tin thị trường.

xuất và tiêu dùng.
- Chức năng chia sẻ rủi ro: Mức độ chia sẻ rủi ro tuỳ thuộc vào mối quan hệ giữa
nhà bán lẻ và nhà sản xuất. Nếu như nhà sản xuất tự phân phối hàng hoá của mình thì
sự chia sẻ rủi ro bằng không. Nếu như nhà bán lẻ mua đứt hàng hoá của nhà sản xuất thì
sau đó họ sẽ tự chịu trách nhiệm về bảo hành, vận chuyển hàng hoá cho khách hàng.
Khi đó rủi ro đối với nhà sản xuất đã được chuyển tới nhà bán lẻ tại thời điểm bán xong
sản phẩm đó. Trong trường hợp các nhà sản xuất gửi bán sản phẩm, hay nhà bán lẻ là
đại lý hoa hồng, tiêu thụ cho nhà sản xuất thì rủi ro được chia sẻ đối với cả người sản
xuất và bán lẻ đến khi bán, bảo hành xong sản phẩm.
- Một số chức năng khác: Các nhà bán lẻ như các siêu thị hiện đại còn thực hiện
chức năng chế biến nhất đối với hàng thực phẩm. Ngoài ra, các nhà bán lẻ còn thực
hiện các công việc khác như đóng gói, gắn nhãn mác...
Tóm lại, hoạt động bán lẻ có vai trò, chức năng vô cùng quan trọng. Nó được coi là
một mắt xích không thể thiếu của quá trình tái sản xuất mở rộng đảm bảo cho quá trình
này thông suốt từ đó đem lại hiệu quả kinh tế xã hội.
1.1.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển tới thị trường bán lẻ:
+ Các chính sách của Nhà nước: Đây là yếu tố có tác động quyết định tới sự hình
thành và phương thức hoạt động của thị trường bán lẻ. Các phương thức hoạt động của
thị trường bán lẻ như: phân phối kế hoạch hoá; tự do buôn bán hay hoạt động theo cơ
chế thị trường có quản lý... Các chính sách của Nhà nước thông qua các văn bản pháp
luật sẽ quyết định phương thức hoạt động của thị trường bán lẻ. Hiện nay, chính sách
của Nhà nước Việt Nam là thị trường bán lẻ phát triển theo kiểu kinh tế thị trường có
quản lý. Chính sách của Nhà nước cũng thể hiện định hướng, chiến lược phát triển thị
trường bán lẻ theo từng nhóm hàng; nhóm đối tượng ... tham gia vào thị trường. Ví dụ
như tại Việt Nam các chính sách liên quan tới thị trường bán lẻ đều có những quy định
hạn chế tiêu dùng những mặt hàng cao cấp hay hỗ trợ và phát triển các doanh nghiệp,
cơ sở bán lẻ trong nước.
Các chính sách của Nhà nước còn có vai trò trong việc tạo ra môi trường cạnh
tranh giữa các nhóm đối tượng tham gia vào thị trường bán lẻ. Các thị trường bán lẻ
càng phát triển thị các chính sách của Nhà nước càng có xu hướng thông thoáng và tạo

Trình độ trang thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế.
Mức độ đầu tư khoa học công nghệ và tốc độ triển khai của ứng dụng mới trên nền
kinh tế.
Chiến lược phát triển khoa học kỹ thuật của quốc gia.
1.2. Thị trường bán lẻ Việt Nam theo các cam kết gia nhập WTO:
1.2.1. Các cam kết trong WTO của Việt Nam về mở cửa thị trường bán lẻ:
Trong cam kết WTO, Việt Nam cam kết mở cửa lĩnh vực dịch vụ trong đó ngành
dịch vụ phân phối hàng hóa được thương lượng rất kỹ. Quá trình mở cửa thị trường
phân phối hàng hóa gồm 3 giai đoạn cơ bản
1
:
Giai đoạn 1: Hiện nay các doanh nghiệp nước ngoài muốn tham gia cung cấp dịch
vụ phân phối hàng hóa sẽ phải liên doanh với các doanh nghiệp của Việt Nam. Sau khi
Việt Nam gia nhập WTO, phần vốn góp của nước ngoài sẽ bị giới hạn ở mức tối đa là
49%.
Giai đoạn 2: 1/1/2008. Tỷ lệ góp vốn 49 % sẽ được dỡ bỏ. Các công ty có vốn đầu
tư nước ngoài được phép làm đại lý, là nhà bán buôn và kinh doanh bán lẻ tất cả các
mặt hàng nhập khẩu hợp pháp và các sản phẩm trong nước theo quy định của pháp luật,
ngoại trừ xi măng và clinker, lốp (bào gồm cả lốp máy bay), sản phẩm giấy, các loại
máy kéo, xe tải, xe con và xe máy, sắt và thép, thiết bị nghe nhìn, rượu các sản phẩm có
cồn, phân bón.
Giai đoạn 3: Tại thời điểm 1/1/2009, các công ty có vốn đầu tư nước ngoài sẽ được
phép tham gia làm đại lý, kinh doanh bán buôn và bán lẻ các loại sản phẩm: máy kéo,
1
xe tải, xe con và xe máy. Sau 3 năm tính từ thời điểm Việt Nam gia nhập WTO, tất cả
những hạn chế trên sẽ được dỡ bỏ. Việc thành lập các đại lý cung cấp dịch vụ bán lẻ sẽ
được cho phép trên cơ sở “xem xét nhu cầu nền kinh tế”.
1.2.2. Cơ hội và thách thức khi gia nhập WTO của thị trường bán lẻ Việt Nam:
Thông qua những phân tích và dự đoán ở trên, dưới đây đề tài xin tóm tắt lại những
cơ hội và thách thức đối với thị trường bán lẻ Việt Nam khi gia nhập WTO:

phú đa dạng do cam kết giảm thuế, do cơ hội để xâm nhập thị trường Việt Nam dễ dàng
hơn. Các dịch vụ ngân hàng, tài chính thanh toán sẽ trở nên thuận tiện, phát triển hơn.
Do đời sống phát triển nên nhu cầu của người dân tăng lên… Những điều đó cũng góp
phần thúc đẩy thị trường bán lẻ Việt Nam phát triển.
Thực tiễn cho thấy, thị trường bán lẻ Việt Nam đã phát triển rất nhanh chóng từ khi
Chính phủ thực hiện chủ trương mở cửa và hội nhập nền kinh tế quốc tế. Nhiều phương
thức bán lẻ đặc biệt là các siêu thị đã phát triển rộng khắp, phổ biến tại hầu hết các tỉnh,
thành phố. Các sàn giao dịch hàng hoá đang dần xuất hiện và có cơ hội để phát triển...
Rõ ràng, cùng với hội nhập kinh tế quốc tế mà dấu mốc là sự kiện gia nhập WTO thì thị
trường bán lẻ Việt Nam có rất nhiều cơ hội để tiếp cận với những thành tựu về kinh tế,
khoa học, phương thức quản lý của nền kinh tế thế giới.
Thách thức:
- Thách thức lớn nhất của thị trường bán lẻ vẫn là nguy cơ chiếm lĩnh thị trường
của các tập đoàn bán lẻ ngoài nhập.
Khả năng này có rất nhiều cơ sở. Các công ty đa quốc gia đang trở thành một lực
lượng quan trọng của nền sản xuất thế giới. Các công ty này chi phối gần 50% sản
lượng công nghiệp sản xuất ra hàng năm trên thế giới, từ 50 đến 60 % tổng kim ngạch
mậu dịch, 90 % giá trị đầu tư trực tiếp và chuyển giao công nghệ. Các tập đoàn này
trong đó có các tập đoàn bán lẻ sẽ không bỏ lỡ cơ hội này để xâm nhập thị trường Việt
Nam.
Thực tế hiện nay mặc dù có chưa nhiều ở Việt Nam song hầu hết các tập đoàn bán
lẻ nước ngoài đều lấn lướt các doanh nghiệp trong nước. Họ mạnh về mặt tài chính,
quản lý đặc biệt hơn hẳn trong khâu marketing tiếp cận hình ảnh tới người tiêu dùng.
Trong khi đó, các doanh nghiệp Việt Nam còn nhiều mặt hạn chế. Cơ sở vật chất kỹ
thuật về tài chính, nguồn nhân lực, kỹ năng ngoại ngữ, kỹ năng quản lý, khả năng nắm
bắt thông tin còn yếu kém. Đặc biệt là khả năng thích ứng trước sự thay đổi của thị
trường của các doanh nghiệp bán lẻ là chưa cao. Vậy trong một vài năm tới, khi các tập
đoàn nước ngoài tràn vào Việt Nam thì sự chi phối thị trường là có thể tiên đoán.
- Sự cạnh tranh trên thị trường sẽ ngày càng gay gắt hơn.
Sự cạnh tranh sẽ không chỉ gay gắt giữa các nhà bán lẻ trong nước và các nhà bán


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status