Chính sách thúc đẩy xuất khẩu nông sản của Việt Nam trong điều kiện hội nhập WTO - Pdf 30

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu
1. Tính tất yếu của đề tài:
“ Cơn lũ WTO đang vào nước ta”, “Nông nghiệp Việt Nam và sân chơi
WTO”, “Vào WTO Việt Nam được gì”…Thuật ngữ WTO đã trở thành chủ để nóng
trên các phương tiện thông tin đại chúng gần đây, đặc biệt là khi Việt Nam gia nhập
WTO.
Chứng tỏ sức ảnh hưởng sâu rộng của WTO, Bộ trưởng Bộ Thương Mại,
Trương Đình Tuyển trong một chương trình truyền hình có kể một câu chuyện vui
giữa một người xe ôm và một người bán vé xổ số: “ Người bán vé nói: Việt Nam
gia nhập WTO người dân sẽ giàu hơn tôi sẽ bán được nhiều vé hơn. Người xe ôm lo
lắng nói: Ô tô, xe máy từ từ rẻ đi, dần dần không còn ai đi xe ôm nữa tôi thất nghiệp
mất.”. Gia nhập WTO là bước chuyển mình của toàn bộ nền kinh tế đất nước. Nó
tác động tới không chỉ doanh nghiệp, công nhân mà còn tác động tới toàn bộ đời
sống của tất cả mọi người dân.
Việt Nam còn tới hơn 60% người dân làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp thì
không khó hiểu khi nói: nông dân là tầng lớp bị chi phối trực tiếp nhất. Trong thời
gian ngắn tới, khi nông sản ngoại tràn vào với mức thuế ưu đãi, một số nông sản của
Việt Nam sẽ thua ngay trên sân nhà. Việc làm cần thiết của ngành nông nghiệp bây
giờ là củng cố lại thị trường sân nhà và quan trọng hơn tiếp sức cho những nông sản
chủ lực ra cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Không còn thời gian để bàn tính được gì và mất gì, việc đánh giá, định hướng
các chính sách thúc đẩy xuất khẩu nông sản sẽ không bị coi là quá sớm nếu như
không nói là quá muộn. Xin giới thiệu đề tài:
“Chính sách thúc đẩy xuất khẩu nông sản của Việt Nam trong điều kiện hội
nhập WTO”
2. Mục đích của đề tài:
Thực tế Việt Nam có nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu đứng nhất nhì thế
giới nhưng vẫn thụ động về thị trường. Giá nông sản của Việt Nam thường thấp
Lưu Trường Giang - Lớp KTQT 46
1

Lưu Trường Giang - Lớp KTQT 46
2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chương 2. Thực trạng chính sách thúc đẩy xuất khẩu nông sản Việt Nam.
Chương 3. Định hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách thúc đẩy xuất khẩu
nông sản của Việt Nam sau khi gia nhập WTO.
Chương 1. Những vấn đề chung về xuất khẩu nông sản và kinh nghiệm
của các nước
1.1. Tổng quan về chính sách thúc đẩy xuất khẩu
Lưu Trường Giang - Lớp KTQT 46
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.1.1. Khái niệm và vai trò
1.1.1.1. Khái niệm
Chính sách thúc đẩy xuất khẩu là một nội dung của chính sách thương mại
quốc tế. Nó được hiểu là:
Hệ thống các nguyên tắc, công cụ và biện pháp do nhà nước sử dụng để quản
lý, thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của quốc gia nhằm đạt được các mục tiêu phát
triển kinh tế xã hội của quốc gia đó trong một thời gian nhất định.
1.1.1.2. Vai trò
Thông qua các công cụ, biện pháp các chính sách thúc đẩy xuất khẩu nông
sản có vai trò:
Định hướng cho các sản phẩm cho các sản phẩm: xuất khẩu vào thị trường
nào, xuất khẩu mặt hàng nào, với số lượng bao nhiêu.
Thúc đẩy xuất khẩu các mặt hàng ra thị trường quốc tế: bằng các biện pháp
như ưu đãi thuế, tư vấn, đào tạo…các chính sách này tạo điều kiện tốt nhất để các
doanh nghiệp trong nước đưa hàng của mình ra thị trường thế giới.
Góp phần xây dựng và phát triển các ngành công nghệ mới cho nền kinh tế.
Ngoài ra nó còn có một số vai trò khác như: phân bổ nguồn lực, đảm bảo cân
bằng các cân thương mại…

Gia nhập WTO sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho nông sản Việt Nam tiếp cận với
thị trường 149 nước thành viên khác với mức thuế ưu đãi hơn trước. Nông sản Việt
Nam sẽ có một sân chơi hơn 5 tỷ người tiêu thụ, kim ngạch buôn bán nông sản lên
tới 548 tỷ USD/năm. Trong đó rau quả là mặt hàng nông sản lớn nhất với trị giá 103
tỷ USD. Thị trường về lúa gạo, cà phê, cao su …khoảng gần 10 tỷ USD. Các loại
nông sản khác như chè, điều và hồ tiêu thì trên dưới 3 tỷ USD/năm.
Có thể thu hút khuyến khích được nhiều thành phần kinh tế kể cả nước ngoài
đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp của Việt Nam. Với một môi trường kinh doanh
ngày càng thông thoáng và minh bạch hơn do yêu cầu của đổi mới thì nông nghiệp
có nhiều tiềm năng để tận dụng nguồn vốn nhàn rỗi trong dân và hấp dẫn các nhà
đầu tư nước ngoài.
Ngoài ra khi đã là thành viên của WTO trong các vụ kiện như bán phá giá, trợ
cấp nông nghiệp thì Việt Nam sẽ có tiếng nói bình đẳng hơn. Tuy vậy Việt Nam vẫn
Lưu Trường Giang - Lớp KTQT 46
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
được coi là nền kinh tế phi thị trường trong 12 năm tới (đối với Mỹ) tức là nguy cơ
Việt Nam sẽ vấp phải những điều phi lý trong vụ kiện bán phá giá cá basa không
phải là không còn.
Song không phải dễ dàng đối với nông sản xuất khẩu của Việt Nam. Thị
trường xuất nhập khẩu nông sản thế giới ngày nay được tổ chức rất chặt chẽ, phần
lớn do các siêu thị đa quốc gia khống chế và kiểm soát. Do tri thức tiêu dùng ngày
càng cao nên yêu cầu của siêu thị về chất lượng nông sản- vốn dựa trên yêu cầu của
giới tiêu thụ của các nước lớn và giàu có- ngày càng khó khăn, trở thành rào cản đối
với rất nhiều nước đang phát triển vốn xem xuất khẩu nông sản làm đòn bẩy kinh tê.
Có rất nhiều thách thức đối với nông sản xuất khẩu của Việt Nam. Nhưng rõ
ràng và trực tiếp nhất đó là 4 luật chơi:
1, Luật quy định về an toàn thực phẩm: Suốt trong quá trình sản xuất, trái cây
và rau quả Việt Nam phải có Chứng chỉ “ nông nghiệp an toàn” hay “nông nghiệp
tốt” (Good Agricultural Practices. GAP ) để chứng minh mặt hàng này luôn an toàn

ứng được các đòi hỏi khắt khe của thị trường châu Âu, Hoa Kỳ và Nhật Bản- là
những thị trường vùng ôn đới có điều kiện khí hậu, khoa học kỹ thuật nông nghiệp
và văn hóa ẩm thực khác biệt.
Gần đây có chương trình tập huấn về GAP, dự án “GAP cho cây thanh long”
…do chính phủ Úc, Canada tài trợ chỉ mang tính chất nhỏ lẻ, chưa mang tính chất
quy mô toàn ngành và toàn quốc. Điều này đòi hỏi chúng ta cần khẩn trương xây
dựng cho mình một chương trình VietGap thì nông sản mới có thể xuất khẩu vào thị
trường thế giới (chủ yếu các nước thành viên WTO khác 95% GDP, 95% giá trị
thương mại thế giới) .
1.3.Các quy tắc của WTO về thương mại nông sản phẩm:
Để xây dựng được chương trình VietGap tốt, để nông sản của Việt Nam bước vào
sân chơi WTO một cách thành công thì trước hết cần phải tìm hiểu luật lệ của WTO
về thương mại nông sản.
Trong thương mại, thương mại nông sản là một vấn đề rất nhạy cảm, phức
tạp, nó liên quan đến nhiều vấn đề như chiến lược an toàn lương thực, nhân tố chính
trị, môi trường địa lý và khí hậu, cơ cấu sản xuất, việc làm, lợi ích xuất khẩu, nhập
khẩu của một nước. Dựa trên những nguyên nhân này các nước trên thế giới đều
Lưu Trường Giang - Lớp KTQT 46
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
đang thực hiện nhiều chính sách và biện pháp, gây rối nghiêm trọng trật tự thương
mại nông phẩm. Trong vòng đàm phán Uruguay, các thành viên WTO đã đàm phán
và cuối cùng ký kết được “Hiệp định nông sản phẩm”. Hiệp định nhằm mục tiêu
giải quyết vấn đề tự do hóa thương mại nông sản phẩm.
“Hiệp định nông sản phẩm” chủ yếu gồm 3 nội dung chủ yếu sau đây:
1.3.1. Mở rộng thị trường cho phép nhập: là xác định rõ, cắt giảm hay loại bỏ
về các biện pháp thuế quan gây trở ngại đi vào thị trường mà các bên ký kết hiệp
định thực thi trong thương mại nông sản phẩm. Cụ thể gồm:
- Thuế quan hóa và các biện pháp phi thuế quan: các biện pháp phi thuế quan
thực thi trong thương mại nông sản phẩm như hạn chế số lượng nhập khẩu, các loại

 Trợ giá đèn xanh: Loại trừ sự trợ giúp giá cả đối với người sản xuất, không
có trợ giá hoặc chỉ trợ giá một ít đối với thương mại nông sản phẩm chủ
yếu gồm:
 Một là: quỹ cộng đồng hoặc chi ngân sách cung cấp dịch vụ sản xuất
nông nghiệp nói chung: Bao gồm nghiên cứu hạng mục môi trường và nghiêm cấm
sản phẩm đặc biệt, kiểm soát sâu bọ phá hoại, việc bồi dưỡng nhân viên, khoa học
kỹ thuật nông nghiệp và thao tác sản xuất, phổ biến kỹ thuật và dịch vụ tư vấn, dich
vụ giám định, dịch vụ thúc đẩy bán trên thị trường, xây dựng kết cấu hạ tầng nông
nghiệp.
 Hai là: Chi phí cất giữ đảm bảo sự cung cấp thực phẩm.
 Ba là: Trợ giá viện trợ thực phẩm và trợ giá hộ gia đình riêng.
 Bốn là: Trợ giá đảm bảo sự thu nhập nói chung. Loại trợ cấp này cần
phải phù hợp với một số tiêu chuẩn nhất định.
 Năm là: Trợ giá thiệt hại thiên tai: số lượng trợ giá này không được cao
hơn sự thiệt hại thực tế.
 Sáu là: Trợ giá điều chỉnh cơ cấu sản xuất nông nghiệp.
 Bảy là: Cung cấp trợ giá phát triển khu vực cho những khu vực có điều
kiện sản xuất nông nghiệp rõ ràng không thuận lợi.
 Trợ giá đèn vàng: Đây là sự bù giá cần phải có nghĩa vụ cắt giảm, chủ yếu
bao gồm sự trợ giá thành sự giúp đỡ giá cả trong nước đối với sản phẩm
nông sản phẩm. “Hiệp định nông sản phẩm” quy định sự trợ giá đèn vàng
Lưu Trường Giang - Lớp KTQT 46
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
của các nước phát triển cần trong thời kỳ thực thi hiệp định (6 năm) dựa
theo mức cơ số (mức bình quân trợ giá 86-88) cắt giảm 20% sau khi thực
hiện hiệp định; tổng số trợ giá của bên tham gia sẽ từ 19,7 tỷ USD xuống
16,2 tỷ USD, biên độ cắt giảm 18%. Hiệp định quy định những trợ giá sau
đây không thuộc trợ giá đèn vàng:
 Một là: Mỗi năm cấp cho một sản phẩm cụ thể một số trợ giá không cao

khuôn khổ WTO:
Các cam kết về thương mại hàng hóa của Việt Nam nhìn chung là cắt giảm
thuế:
Việt Nam giảm mức thuế bình quân từ mức hiện hành 17,4% xuống còn
13,4%, thực hiện dần trong vòng 5-7 năm. Mức thuế bình quân hàng nông sản giảm
từ mức hiện hành 23,5% xuống còn 20,9%, thực hiện trong khoảng 5 năm. Mức
thuế bình quân hàng công nghiệp giảm từ 16,8% xuống 12,6%, thực hiện trong
vòng từ 5 đến 7 năm (mức giảm thuế chi tiết từng mặt hàng xem biểu thuế).
Trong đó đáng chú ý có một số mặt hàng liên quan đến nông sản xuất khẩu
như: phân bón giảm từ 6,5% xuống 6,4%; xe tải giảm từ 80% xuống 50%...việc
giảm thuế các dòng hàng này góp phần làm cho chi phí sản xuất vận chuyển cũng
giảm đi phần nào.
Các cam kết về trợ cấp thì Việt Nam cam kết từ bỏ ngay trợ cấp xuất khẩu.
Đối với hỗ trợ trong nước đối với nông nghiệp Việt Nam vẫn được hưởng mức hỗ
trợ là 10%. Cụ thể các mức trợ cấp cam kết ràng buộc hàng năm và mức trợ cấp
cam kết cuối cùng là 3961,59 tỷ VND.
1.5. Những cam kết trên sẽ gây ra nhiều tác động đối với nông sản xuất
khẩu của Việt Nam:
Rõ ràng khi hàng loạt các dòng thuế nhập khẩu (bao gồm cả hàng nông sản)
giảm xuống, nông sản ngoại có sức cạnh tranh hơn thì có một số mặt hàng nông sản
Việt Nam lao đao ngay tại thị trường trong nước. Tuy nhiên, đối với các mặt hàng
nông sản xuất khẩu thì đây là cơ hội có một không hai. Một số mặt hàng như phân
bón, ô tô tải … giảm thuế sẽ làm cho giá cả nông sản giảm đi . Mặt khác nước ta
giảm thuế thì các mặt hàng nông sản nước ta cũng được tiếp cận với mức thuế thấp
Lưu Trường Giang - Lớp KTQT 46
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
hơn trước ở thị trường các thành viên khác của WTO (theo quy định của hiệp định
nông sản phẩm).
Còn về cam kết cắt bỏ trợ cấp xuất khẩu sẽ không gây tác động quá lớn. Các

- Công tác khuyến nông: Một hệ thống khuyến nông từ Trung Ương đến làng
bản được thành lập. Nhà nước cấp kinh phí để hệ thống khuyến nông hưởng lương
từ ngân sách nhà nước. Cơ sở vật chất kỹ thuật cho công tác khuyên nông được nhà
nước hỗ trợ.
Thứ hai, dự trữ công vì mục đích an ninh lương thực; chính phủ Việt Nam
thực hiện một số chương trình dự trữ quốc gia như:lúa gạo, giống lúa, ngô, rau,
thuốc bảo vệ thực vật vv...
Thứ ba, hỗ trợ lương thực,thực phẩm trong nước; chính phủ áp dụng một số
chương trình hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp cho các vùng khó khăn về sản xuất
nông nghiệp ( vùng sâu, vùng xa, vùng bị thiên tai vv...)
Thứ tư, hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu, chính phủ tạo điều kiện thuận lợi cho các
địa phương chuyển dịch cơ câú kinh tế thông qua các hình thức ưu đãi thuế, đầu tư,
tín dụng của chính phủ.
Thứ năm,Việt Nam áp dụng biện pháp phi thuế quan thuộc dạng này bằng các
“Chương trình phát triển”. Dạng hỗ trợ này của chính phủ bao gồm :
- Trợ cấp đầu tư của chính phủ, hiện nay trong hoạt động sản xuất nông
nghiệp của Việt Nam đang có phong trào chuyển dịch mô hình sản xuất từ hộ nông
nghiệp sang kinh tế trang trại. Chính phủ Việt Nam đã thực hiện trợ cấp đầu tư phát
triển dưới hình thức hỗ trợ tài chính, cho vay với lãi xuất ưu đãi để phát triển kinh tế
trang trại. Bên cạnh đó với những khoản nợ xấu chính phủ có thẻ thực hiện khoanh
nợ hoặc xóa nợ.
- Trợ cấp đầu vào cho ngưòi sản xuất nông nghiệp có thu nhập thấp. Chính
phủ Việt Nam thành lập hệ thống ngân hàng người nghèo nhằm cung cấp vốn ưu
đãi cho người nghèo đẻ họ có khả năng phát triển sản xuất. Khi ngưòi nghèo gặp
khó khăn trong việc thanh toán vốn vay thì chính phủ cấp bù chênh lệch lãi suất,
khoanh nợ, xóa nợ. Hiện nay người nghèo vay từ Ngân hàng phục vụ người nghèo
Lưu Trường Giang - Lớp KTQT 46
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
lãi suất là 5,4% năm cho khu vực vùng núi cao, hải đảo và 6,0% năm cho các vùng

Thực hiện thâm canh theo hướng hiện đại: Trung Quốc đã có hàng ngàn khu
nông nghiệp công nghệ cao. Làm cho năng suất, chất lượng nông sản vượt trội. Ví
dụ như giống lúa cao sản ( lúa siêu năng suất 12 tấn/ha ) có mang gen kháng bệnh;
các giống cà chua năng suất 140 tấn/ha; rau cải ngọt 60 tấn/ha… với chất lượng cao
và đồng nhất.
Trung Quốc đã tận dụng tốt lượng Hoa kiều đông đảo của mình làm hệ thống
tiêu thụ, quảng bá nghiên cứu thị trường.
Ở Braxin chính sách thu hút và sử dụng vốn trong lĩnh vực nông nghiệp khá
linh hoạt. Người nông dân được nhận vốn ưu đãi của chính phủ với lãi suất ưu đãi.
Chính phủ cho phép và kêu gọi mọi thành phần kinh tế: tư nhân, nước ngoài đầu tư,
kinh doanh, sản xuất, dịch vụ trong nông nghiệp. Đặc biệt trong nông nghiệp yếu tố
rủi ro là một yếu tố thường trực, Braxin là một trong ít quốc gia thành công trong
lĩnh vực bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm xuất khẩu. Do vậy nông dân Braxin luôn
yên tâm sản xuất, nếu có rủi ro xảy ra thì họ vẫn không mất trắng, có sự trợ giúp
phần nào từ bảo hiểm. Trong khi đó nghiệp vụ bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam
hầu như chưa được triển khai, có triển khai thì hoạt động không hiệu quả. Như vậy
bảo hiểm, bảo hiểm xuất khẩu là cũng điểm chúng ta nên nghiên cứu và phát triển.
Kinh nghiệm ở Ấn Độ là: Đầu tư cho khoa học kỹ thuật mạnh. Đặc biệt là
nghiên cứu về lúa, bảo quản và chế biến nông sản. Các loại cây biến đổi gen được
ứng dụng mạnh ở Ấn Độ.
Chính phủ Ấn Độ cũng đầu tư lớn vào các công trình thủy lợi. Ví dụ tổng chi
phí xây dựng hệ thống kênh mương đưa nước từ phía Bắc xuống Tây Nam lên tới
hơn 40 tỷ USD.
Hiện nay, thu nhập của nông dân Ấn Độ rất khác nhau. Để đảm bảo thu nhập
bình đẳng nông dân chính phủ Ấn Độ triển khai hai chính sách: Trợ cấp cho nông
nghiệp như các nước phương Tây; cơ cấu giá cả.
1.7. Những bài học rút ra đối với Việt Nam:
Điều đầu tiên đối với Việt Nam là phải điều chỉnh lại chính sách thúc đẩy xuất
khẩu nông sản của Việt Nam theo khuôn khổ luật pháp của WTO. Khi mà Việt Nam
Lưu Trường Giang - Lớp KTQT 46

phép xuất khẩu, từng bước thu hẹp việc sử dụng hạn ngạch xuất khẩu nông sản cũng
được xóa bỏ.
Cơ chế quản lý hoạt động xuất khẩu nông sản được chuyển dần từ chỗ quản
lý chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính sang quản lý bằng pháp luật, kế hoạch, chính
sách, thông qua việc sử dụng linh hoạt các biện pháp kinh tế, các công cụ chính sách
thương mại, như thuế, hạn ngạch, hỗ trợ xuất khẩu, tỷ giá hối đoái…Việc tăng dần
sử dụng các công cụ chính sách kinh tế thay vì các công cụ hành chính trong lĩnh
vực xuất khẩu nông sản thể hiện đặc điểm chuyển đổi của chính sách xuất khẩu
nông sản của Việt Nam. Đã có nhiều đổi mới trong chính sách xuất khẩu theo
hướng phù hợp hơn với thông lệ quốc tế, chuẩn bị tích cực cho sản xuất nông
nghiệp Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
Ví dụ như trong công tác quản lý đất đai. Trong quyết định số 150/2005 QĐ-
TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 20/6/2005 phê duyệt quy hoạch chuyển
đổi cơ cấu sản xuất nông- lâm nghiệp, thủy sản của cả nước tới năm 2010, Thủ tướng
Chính phủ yêu cầu “sớm hoàn thành việc dồn điền đổi thửa. Đã có một số địa phương
triển khai chính sách này khá sớm và bước đầu thu được hiệu quả tích cực từ việc áp
dụng chính sách này.
Bắc Ninh là một trong những địa phương đi đầu trong công tác dồn điền đổi
thửa. Hiện đã hoàn thành chuyển đổi ở 87 xã (71,1%), 382 thôn (58,3%) có 95,922
hộ chuyển đổi ruộng đất (50%) được 16,414 ha (37%). Nhờ đó, tỉnh đã khắc phục
được tình trạng ruộng đất manh mún, bước đầu hình thành vùng chuyên canh các
loại cây trồng có giá trị kinh tế. Hiện số thửa giảm từ 12 thửa/hộ giảm còn 7 thửa/hộ
diện tích tăng từ 180 m
2
lên 297 m
2
/thửa, việc đầu tư thâm canh áp dụng cơ giới hóa
vào sản xuất cũng dễ dàng, thuận lợi hơn.
Lưu Trường Giang - Lớp KTQT 46
17

Lưu Trường Giang - Lớp KTQT 46
18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Năm Kim ngạch xuất
khẩu cả nước(tr USD)
Kim ngạch xuất
khẩu nông sản(tr USD)
Tỷ trọng
2001 15 029 2421,3 16,1
2002 16 707 2396,6 14,3
2003 20 149 2672 13,2
2004 26 504 4550 17,1
2005 32 442 5663,8 17,5
(Nguồn: Biểu30, sách Xuất nhập khẩu của Việt Nam sau 20 năm đổi mới,
NXB Thống kê, năm 2005; tr: triệu)
Nhìn vào bảng có thể thấy xuất khẩu nông sản đã có sự chuyển biến rõ rệt. Năm
2005 kim ngạch xuất khẩu nông sản đã gấp tới 2,34 lần năm 2001. Trung bình mỗi
năm kim ngạch xuất khẩu tăng tới 26%. Mặc dù có sự giảm nhẹ xuất khẩu vào năm
2002 do xuất khẩu rau quả giảm từ 344,2 (tr USD) xuống 221,5 (tr USD) và cà phê
giảm từ 391,2 (tr USD) xuống 321,6 (tr USD). Song có sự tăng trưởng mạnh vào năm
2004 tăng tới 70% so với năm 2003. Điều này là do sự ổn đinh giá cà phê năm 2002
chỉ có 0.445 tr USD/ngàntấn năm 2003 tăng tới 0.67 và năm 2004 ổn định tại mức
0.65 tr USD/ngàn tấn thêm vào đó sản lượng xuất khẩu cũng tăng thêm. Đồng thời có
sự phục hồi của rất nhiều mặt hàng như rau quả hay chè do mất thị trường chiến lược
Irac vào năm 2003 cũng tìm được thị trường mới vào năm 2004. (nguồn biểu 31, sách
Xuất nhập khẩu của Việt Nam sau 20 năm đổi mới, NXB Thống kê, năm 2005; tr:
triệu)
Nhìn vào bảng trên ta cũng thấy là tỷ trọng hàng nông sản trong các mặt hàng
xuất khẩu của cả nước khá cao tới 17% chứng tỏ nông sản xuất khẩu vẫn là một
nguồn thu quan trọng của đất nước.

đột biến từ 0,65 đến 0,82 tr USD/ngàn tấn hay cao su 1,162 đến 1.369 tr USD/ngàn
tấn. (Nguồn: Biểu 28, sách Xuất nhập khẩu của Việt Nam sau 20 năm đổi mới,
NXB Thống kê, năm 2005)
Giá trị xuất khẩu các mặt hàng của chúng ta không cao là do tỷ lệ các mặt
hàng đã qua chế biến xuất khẩu chỉ chiếm 20%. Các mặt hàng của chúng ta chủ yếu
xuất khẩu dưới dạng thô sang các thị trường sau:
Gao: Philippin, Pháp, Iran, Nhật Bản, Cu ba, Đức, Thụy Sỹ, Nam Phi...
Cà phê: Đức, Pháp, Ôtraylia, các nước đông Âu…
Lưu Trường Giang - Lớp KTQT 46
20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Hạt điều: Xingapo, Canada, Hà Lan, Đài Loan…
Cao su: Trung Quốc, Nga, Anbanni, Hungari, Ba lan…
Lạc nhân: Pháp, Canada, Đức, Nhật, Thái Lan, Malaixia…

Có thể nói nông sản Việt Nam đã có mặt trên hầu hết các thị trường trên thế
giới.
2.2. Những tồn tại, hạn chế trong chính sách xuất khẩu nông sản:
Nếu chỉ nhìn vào những con số ở trên thì có thể nói nông sản xuất khẩu của
Việt Nam đang trong tình trạng rất ổn. Song nếu để ý tới một vài sự việc xảy ra gần
đây như: sự việc người nông dân trồng dứa phục vụ xuất khẩu được mùa hơn một
tấn mà dở khóc dở cười bên đống dứa vị không có ai đến mua hay vụ hàng chục
chiếc xe tải chở dưa hấu xuất khẩu sang Trung Quốc phải đổ dưa ở lại cửa khẩu do
chất lượng dưa không đồng đều thì chính sách xuât khẩu nông sản của ta còn nhiều
việc phải bàn:
Thứ nhất, Việt Nam chưa có một chính sách phát triển nông sản xuất khẩu dài
hạn; hầu hết các biện pháp chính sách chủ yếu mang tính chất tình thế, chắp vá.
Qua từng thời kỳ, từng năm, các cơ quan nhà nước thường mới dừng ở việc
đánh giá kim ngạch xuất khẩu nông sản tăng bao nhiêu so với thời kỳ trước, chiếm
tỷ trọng bao nhiêu phần trăm, trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước mà thiếu

khuyến khích sản xuất, nhập khẩu giống nông sản năng suất cao, trong khi chưa có
chính sách đủ mạnh để định hướng, khuyến khích nghiên cứu, sản xuất, nhập khẩu
giống có chất lượng cao, đạt yêu cầu xuất khẩu, chưa có chính sách thay đổi chất
lượng nông sản xuất khẩu thông qua chuyển mạnh sang sản xuất nông sản hữu cơ
xuất khẩu.. Đây chính là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến cho sản
xuất và xuất khẩu nông sản của Việt Nam vẫn tiếp tục khó khăn, trong điều kiện
cung nông sản thế giới có xu hướng tăng.
Thứ ba, trong chính sách xuất khẩu nông sản của Việt Nam còn thiếu quy
hoạch sản xuất, chế biến nông sản xuất khẩu một cách bài bản xét về quy mô tổng
thể và chất lượng quy hoạch.
Lưu Trường Giang - Lớp KTQT 46
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chiến lược xây dựng trên những luận cứ, luận chứng chưa đầy đủ, chính xác,
nhiều chỉ tiêu cho năm 2010 đã được thực hiện xong trước. Ví dụ, trong chiến lược
xác định chỉ tiêu xuất khẩu cho cà phê năm 2010 là 600 ngàn tấn vậy mà năm 2004
xuất khẩu cà phê của Việt Nam đã là 906 ngàn tấn. Đồng thời do thiếu quy hoạch
tổng thể cho sản xuất nên xuất hiện hiện tượng người dân sản xuất nông sản xuất
khẩu tự phát theo phong trào. Ví dụ như hiện tượng khi cây cà phê hay hạt tiêu được
giá người dân Tây Nguyên đổ xô bỏ vốn bỏ sức chặt rừng trồng cà phê hạt tiêu. Sản
xuất một cách ồ ạt thiếu quy hoạch chất lượng không được đảm bảo khi rớt giá
người dân lao đao. Khi đó, Nhà nước thì lúng túng tìm biện pháp tháo gỡ cho người
dân thì đã quá muộn. Các giải pháp đưa ra chỉ mang tính chất tình thế và tốn kém
như hoãn nợ cho nông dân, trợ cấp vốn tái sản xuất mặt hàng mới. Có thể nói thiếu
bước quy hoạch tổng thể ban đầu thì nông sản Việt Nam vẫn mãi đi vào vòng luẩn
quẩn “được mùa mất giá”. Không thể trách thị trường thế giới luôn biến động mà
dẫn tới việc sản xuất trong nước cũng biến động theo. Nông sản của chúng ta chỉ
xuất khẩu một cách thụ động nên không chủ động được giá trên thị trường thế giới.
Công tác hướng dẫn nông dân trồng cây gì, nuôi con gì của nhà nước vẫn còn hạn
chế. Người dân vẫn còn sản xuất tự phát theo nhu cầu, xu hướng.

Thứ tư, một số chính sách được áp dụng mang tính bao cấp, giải quyết tình thế
cộng với sự thiếu minh bạch, khó tiên liệu gây không ít khó khăn cho các doanh
nghiệp và người dân tham gia sản xuất nông sản xuất khẩu.
Chẳng hạn, việc phân bổ chi ngân sách cho các dự án khuyến nông hoặc phát
triển nông sản xuất khẩu vẫn theo kiểu xin- cho, cách thức phân bổ quota xuất khẩu
nông sản hay phân bổ chỉ tiêu định hướng…về thực chất không khác mấy cách phân
bổ kế hoạch trước đây. Cơ chế xin – cho cộng với sự khó tiên liệu trong việc thay
đổi thuế xuất liên tục mà doanh nghiệp hầu như không biết trước đã làm cho chi phí
cơ hội của doanh nghiệp tăng lên, sự thất thường của giá cả, giảm đi sức cạnh tranh
rõ rệt.
Những chính sách ưu đãi chủ yếu tập trung vào khâu thương mại như ưu đãi
về tín dụng, thuế, trợ cấp, thưởng xuất khẩu…chưa tác động mạnh tới khâu quan
trọng nhất là sản xuất. Mặt khác những ưu đãi này thường là tiền mặt bởi vậy nhiều
khi tham nhũng thì số tiền Nhà nước ưu đãi chưa thực sự đến với tay người dân mà
Lưu Trường Giang - Lớp KTQT 46
24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
lại rơi vào tay quan chức. Cho dù lợi ích hỗ trợ của Nhà nước có đến tay doanh
nghiệp hay người dân tham gia sản xuất nông sản xuất khẩu thì họ hầu như không
đầu tư cho sản xuất, nghiên cứu thị trường, mua các giống cây mới…Nói khác đi lợi
ích mà người nông dân được chia sẻ từ sự hỗ trợ của Nhà nước là chưa nhiều và
chưa hiệu quả.
Thứ năm, thiếu sự phối hợp đồng bộ, sự gắn kết giữa các chính sách ở tầm vĩ
mô và vi mô; có sự chồng chéo trong việc ban hành chính sách giữa các cơ quan
chức năng.
Nhiều chính sách ban đầu của Chính phủ rất tốt song khi nó được triển khai
dưới các cơ quan quản lý nhiều khi còn gây phiền hà, khó khăn cho các doanh
nghiệp. Ví dụ chính sách khen thưởng xuất khẩu thì rất đúng đắn. Song thủ tục để
xét thưởng còn mang nặng tính hành chính, phức tạp, thời gian xét duyệt kéo dài
làm cho doanh nghiệp cũng nản lòng, không mặn mà, thậm chí bỏ cuộc. Sở dĩ có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status