DỊCH VỤ VẬN TẢI BIỂN VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - Pdf 30

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Văn Nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU.
Trong những năm qua tình hình thế giới có nhiều biến động và gây
ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Song với đường lối
đúng đắn của Đảng và sự chỉ đạo của chính phủ nền kinh tế nước ta đã đạt
được nhiều kết quả đáng khích lệ, với tốc độ tăng trưởng xấp xỉ 7,5% trong
giai đoạn 2001-2005 và xếp thứ hai trên thế giới về tốc độ tăng trưởng kinh
tế. Đây là điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, các Công ty mở rộng
sản xuất kinh doanh.
Nắm bắt được xu thế này trong những năm qua Bộ Quốc Phòng cũng
như Tổng Cục Công Nghiệp Quốc Phòng đã không ngừng đầu tư cho các
đơn vị thành viên mở rộng sản xuất kinh doanh. Nhận được sự giúp đỡ của
Tổng Cục Công Nghiệp Quốc Phòng cùng với sự nổ lực của bản thân
Công ty Sông Thu đã không ngừng mở rộng sản xuất kinh doanh và đạt
được những thành tựu to lớn.
Sau thời gian đi thực tập tôi đã quyết định chọn đề tài:” Một số giải
pháp hoàn thiện dịch vụ vận tải biển tại công ty Sông Thu”. Một lĩnh vực
mà Công ty đang có nhu cầu mở rộng trong thời gian tới.
Trong quá trình thực tập được sự hướng dẫn, chỉ đạo rất tận tình của
các anh chị trong phòng KH-KD và của thầy Trần Văn Nghiệp. Song do sự
hiểu biết của bản thân về Công ty chưa được sâu sắc và toàn diện, với kinh
nghiệm thực tế chưa nhiều do vậy trong báo cáo thực tập không thể tránh
khỏi thiếu sót. Vì vậy, rất mong các Anh, Chị trong phòng, thầy cô và độc
giả quan tâm đến đề tài này thông cảm.
Em xin chân thành cảm ơn các anh, chị trong phòng KH-KD cùng ban
lãnh đạo Công ty và thầy Trần Văn Nghiệp đã giúp em hoàn thành báo cáo
thực tập này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2007
Trang: 1
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Văn Nghiệp

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Văn Nghiệp
Năng lực chuyên chở của vận tải biển là rất lớn. Nhìn chung năng lực chuyên chở
của công cụ vận tải đường biển ( tàu biển) không bị hạn chế như các công cụ vận
tải khác. Trên cùng một tuyến đường có thể tổ chức chạy nhiều chuyến tàu trong
cùng một thời gian cho cả hai chiều. Trong những năm gần đây do tiến bộ của
khoa học kỹ thuật, trọng tải trung bình của tàu biển tăng nhanh và có xu hướng
tăng lên đối với tất cả các nhóm tàu. Ưu điểm nổi bật của tàu biển là giá thành thấp
( bằng 1/10 so với đường hàng không). Trong chuyên chở hàng hoá giá thành vận
tải đường biển chỉ cao hơn giá thành vận tải đường ống còn thấp hơn nhiều so với
các phương tiện khác.Nguyên nhân chủ yếu là trọng tải tàu biển lớn, cự ly chuyên
chở trung bình dài, năng suất lao động cao. Với tiến bộ khoa học kỹ thuật và hoàn
thiện cơ chế quản lý trong ngành vận tải đường biển, hiệu quả kinh tế chắc chắn
ngày một tăng lên.
Từ những đặc điểm trên của vận tải đường biển ta có thể rút ra kết luận một cách
tổng quát về phạm vi áp dụng như sau:
- Vận tải đường biển thích hợp với chuyên chở hàng hoá trong buôn bán quốc tế.
- Vận tải đường biển thích hợp với chuyên chở hàng hoá có khối lượng lớn,
chuyên chở cự ly dài nhưng không đòi hỏi thời gian giao hàng nhanh chóng.
3. Tác dụng của vận tải đường biển.
3.1. Vận tải đường biển là yếu tố không tách rời thương mại quốc tế.
Thương mại quốc tế và vận tải nói chung, vận tải đường biển nói riêng có mối
quan hệ chặt chẽ và hữu cơ với nhau. Vận tải được phát triển trên cơ sở sản xuất
và trao đổi hàng hoá. Ngược lại vận tải phát triển sẽ làm giảm giá thành chuyên
chở, tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng thị trường tiêu thụ quốc tế, tự do hoá
thương mại, thúc đẩy sản xuất phát triển. Thực tiễn trong thương mại cho thấy,
hợp đồng mua bán hàng hoá có vai trò quan trọng và liên quan chặt chẽ đến hợp
đồng vận tải thậm chí bao gồm cả hợp đồng vận tải bởi vì hợp đồng mua bán hàng
hoá là cơ sở pháp lý điều chỉnh quan hệ giữa người bán và người mua còn hợp
đồng vận tải điều chỉnh quan hệ giữa người thuê chở và người chuyên chở mà
người thuê chở là người bán hoặc người mua lại phụ thuộc vào quy định của hợp

trên thị trường thế giới.
Trước đây khi vận tải đường biển còn chưa phát triển, hàng hóa chỉ có thể bán
cho các nước lân cận, ở thị trường gần, ví dụ nhưViệt Nam bán hàng cho các nước
Trung Quốc, Lào, Thái Lan... ngày nay vận tải đường biển đã phát triển, hàng hóa
Trang: 4
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Văn Nghiệp
có thể được buôn bán ở bất kỳ thị trủờng nào trên thế giới. Vì vậy, vận tải đường
biển góp phần thay đổi thị trường hàng hóa. Những nước xuất khẩu có khả năng
tiêu thụ sản phẩm của mình ở những thị trường xa xôi. Ngược lại nước nhập khẩu
có điều kiện lựa chọn thị trường cung cấp hàng hóa rộng rãi hơn. Sự mở rộng thị
trường và thay đổi cơ cấu thị trường trong buôn bán quốc tế được thể hiện ở cự ly
chuyên chở trung bình trong vận tải đường biển quốc tế ngày càng tăng lên. Năm
1980 cự ly chuyển chở trung bình trong vận tải đường biển quốc tế là 3.601 hải lý,
năm 1985 là 3.967 và năm 1990 là 4.285 hảo lý( 1 hải lý = 1,85km).
3.4. Vận tải đường biển tác động đến cán cân thanh toán quốc tế.
Vận tải đường biển có tác dụng ảnh hưởng tích cực hoặc làm xấu đi cán cân
thanh toán, chức năng phục vụ thể hiện ở chỗ vận tải quốc tể đảm bảo nhu cầu
chuyên chở hàng hoá xuất nhập khẩu của mỗi nước. Chức năng kinh doanh thể
hiện trong việc thực hiện xuất khẩu sản phẩm vận tải đường biển. Xuất khẩu sản
phẩm vận tải là một hình thức xuất nhập khẩu vô hình rất quan trọng. Thu chi
ngoại tệ về vận tải đường biển và các dịch vụ liên quan đến vận tải đường biển là
một bộ phận quan trọng trong cán cân thanh toán quốc tế. Phát triển vận tải đặc
biệt là phát triển đội tàu buôn có tác dụng tăng thêm nguồn thu ngoại tệ bằng cách
hạn chế nhập khẩu sản phẩm vận tải. Do đó vận tải ảnh hưởng tích cực đến cán
cân thanh toán quốc tế. Nếu vận tải đường biển của một nước không đáp ứng được
nhu cầu chuyên chở hàng hóa ngoại thương thì phải chi ra một lượng ngoại tệ nhất
định để nhập khẩu sản phẩm vận tải. Sự thiếu hụt trong cán cân xuất nhập khẩu
sản phẩm vận tải ảnh hưởng đến cán cấn thanh toán quốc tế. Trái lại dư thừa cán
cân thanh toán về vận tải có thể bù đắp một phần thiếu hụt trong cán cân mậu dịch
nói riêng và cán cân thanh toán quốc tế nói chung.

quá trình sản xuất ra nó. Sản phẩm vận tải không có khảng cách về thời gian giữa
sản xuất và tiêu dùng, nó được sản xuất và tiêu dùng cùng một lúc khi sản xuất kết
thúc thì sản phẩm vận tải cũng được tiêu dùng ngay.
• Sản phẩm vận tải là vô hình.
• Vận tải không có khả năng dự trữ sản phẩm.
Trang: 6
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Văn Nghiệp
3. Những nhân tố tác động đến dịch vụ vận tải biển.
3.1. Tuyến đường biển.
Từ lâu loài người đã biết lợi dụng đại dương làm tuyến đường giao thông để
chuyên chở hành khách và hàng hoá giữa các nước với nhau. Các tuyến đường vận
tải trên biển hầu hết là những tuyến đường giao thông tự nhiên ( trừ việc xây dựng
các hải cảng, kênh đào quốc tế) do đó không đòi hỏi phải đầu tư về tiền vốn,
nguyên vật liệu, sức lao động để xây dựng và bảo quản các tuyến đường vận tải
đường biển. Đây là những nguyên nhân làm cho giá thành vận tải đường biển thấp
hơn so với các phương tiện khác. Năng lực chuyên chở của vận tải đường biển là
rất lớn. Nói chung năng lực chuyên chở vận tải đường biển không hạn chế như các
vận tải khác. Tuy nhiên đường biển luôn bị ảnh hưởng bởi các điều kiện tự
nhiên:...Những rủi ro thiên tai, tai nạn bất ngờ trên biển thường gây ra những tổn
thất rất lớn cho tàu, hàng hoá và sinh mạng con người. Những rủi ro, tổn thất trong
vận tải đường biển đang được khắc phục dần bằng những phương tiện kỹ thuật
hiện đại.
3.2. Cảng biển.
Cảng biển gắn liền với sự phát triển của ngành hàng hải. Trước đây cảng biển chỉ
được coi là nơi tránh gió to bão lớn của các loại tàu bè. Trang thiết bị của cảng lúc
bấy giờ rất đơn giản và thô sơ. Ngày nay, cảng biển không chỉ là nơi bảo vệ an
toàn cho tàu biển trước các hiện tượng thiên nhiên bất lợi mag trươc hết cảng biển
là một đầu mối giao thông, một mắc xích quan trọng của quá trình vận tải. Cảng
biển thực hiện các chức năng và nhiệm vụ khác nhau. Do đó, kỹ thuật xây dựng
trang thiết bị, cơ cấu tổ chức của cảng cũng khác nhau và ngày càng được hiện đại

Ranh giới của một cảng biển thường gồm hai phần: phần mặt nước và phần mặt
liền. Trên mỗi phần diện tích của cảng có các công trình và các trang thiết bị nhất
định.
Trên phần mặt nước của cảng bao gồm: vũng tàu, luồng lạch. cầu tàu; phần dất
liền chủ yếu có: khu vực kho bãi, hệ thống đường giao thông, khu vực nhà xưởng,
khu làm việc của các cơ quan hải quan...cảng biển là công trình có hàng loạt trang
thiết bị kỹ thuật để phục vụtàu và hàng hoá. Trang thiết bị của cảng bao gồm:
- Thiết bị kỹ thuật phục vụ tàu ra vào, tàu chờ đợi, tàu neo đậu.nhóm thiết bị này
gồm: luồng lạch, hệ thống phao tiêu, tín hiệu, phao nổi, cầu tàu...
- Thiết bị phục vụ kỹ thuật, phục vụ công nghiệp xếp dỡ hàng hoá lên xuống công
cụ vận tải và ở trong kho bãi của cảng. Thiết bị xếp dỡ là yếu tố kỹ thuật quan
Trang: 8
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Văn Nghiệp
trọng nhất trong hpạt động sản xuất kinh doanh của cảng. Nó quyết định năng suất
xếp dở, khả năng thông qua về tàu và hàng hoá của cảng.
Hệ thống đường giao thông trong phạm vi cảng và cách nối liền các hệ thống vận
tải thống nhất như thế nào quyết định phạm vi hậu phương phục vụ của cảng.
Thông thường trong một cảng có hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thuỷ và
công cụvận chuyển hàng từ vào hậu phương và ngược lại.
Các thiết bị nổi trên phần mặt nước của cảng như: phao nổi, cầu nổi, cần cầu nổi,
tàu hoa tiêu....
Các thiết bị kỹ thuật phục vụ cho công tác liên lạc, ánh sáng, cung cấp nước, nhà
làm việc, câu lạc bộ thuỷ thủ...khi tổ chức chuyên chở hàng hoá xuất nhập khẩu và
thuê tàu, bắt buộc chúng ta phải nguyên cứu kỹ các đặt điểm của trang thiết bị
cảng.
3.4. Phương tiện vận chuyển.
Phương tiện vận chuyển bằng đường biển là tàu biển.
Tàu buôn là tàu biển được dùng vào mục đích kinh doanh trong hàng hải. Tàu
buôn gồm: tàu vận tải hàng hoá, tàu vận tải hành khách, tàu đánh cá, tàu hoa tiêu,
tàu nghiên cứu khoa học...

thay đổi là khó có thể đáp ứng được, khách hàng không được tự do thoả thuận biểu
cước mà chỉ thương lượng để hang tàu giảm giá một phần hay hưởng chiết khấu.
 Mức cước đường biển có thể chia làm hai loại:
- Cước tàu rong dao động theo điều kiện cung và cầu của thị trường. Trong
thời kỳ thịnh vượng cước tàu rong tăng còn trong thời kỳ suy thoái cước lại giảm.
- Cước tàu chợ do công hội hàng hải và những người điều hành hàng hải
khác ấn định có lien quan nhiều đến chi phí kinh doanh và tương đối ổn định trong
một thời gian.
4.3 Ký kết hợp đồng.
Sau khi khách hàng chấp nhận giá cả cũng như những dịch vụ của hãng tàu
thì sẽ đi đến ký kết hợp đồng. Hợp đồng này là hợp đồng vận chuyển.
Hợp đồng vận chuyển là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên vận chuyển có
nghĩa vụ chuyển tài sản đến địa điểm đã định theo thoả thuận và giao tài sản đó
cho người có quyền nhận, còn bên thuê vận chuyển có nghĩa vụ đã cước phí vận
chuyển.
Hợp đồng vận chuyển này do bên chuyên chở soạn và xác nhận.
Trang: 10
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Văn Nghiệp
4.4 Tiếp nhận và gởi hàng cho tàu.
Đúng theo lịch trình người gởi hàng sẽ gửi hàng cho hãng tàu tiếp theo đó
hãng tàu sễ nhận hàng và gửi hàng cho tàu.
Khi nhận hàng đồng thời hãng tàu sẽ cung cấp đầy đủ chứng từ liên quan đến
việc giao nhận cho người gửi hang, tiếp theo đó hang tàu gửi hàng lên tàu và nhận
chứng từ từ người chuyên chở.
Việc vận chuyển hàng hoá bằng đường biến sẽ chịu tác động và điều chỉnh
bởi các công ước quốc tế
Các công ước quốc tế.
Hague: Công ước đầu tiên về vận chuyển hàng hoá bằng đường biển gọi là
quy tắc Hague được chuẩn y năm 1924. Mục đích của nó là thống nhất luật pháp
hiện hành thời bấy gìơ của một số nước nhằm bảo vệ quyền lợi của hàng hoá bằng

5.1. Chính sách sản phẩm dịch vụ.
Chính sách sản phẩm dịch vụ: Bao gồm dịch vụ cơ bản và dịch vụ ngoại vi.
Dịch vụ cơ bản: Là dịch vụ làm thoả mãn một nhu cầu chính của khách hang.
Có thể nhận dạng dịch vụ cơ bản bằng cách trả lời câu hỏi: “ khách hang đang cần
gì?”.
Dịch vụ ngoại vi: Là những dịch vụ phụ them, bao quanh dịch vụ cơ bản, làm
tăng thêm giá trị của dịch vụ cơ bản, nó cũng là tác nhân làm cho khách hang chọn
lựa công ty nào cung cấp dịch vụ.
Dịch vụ cơ bản và dịch vụ ngoại vị không tồn tài độc lập mà chúng có quan
hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một dịhc vụ tổng thể, để đáp ứng nhu cầu của
khách hang.
Hệ thống cung ứng dịch vụ( servuction)
Hệ thống cung ứng dịch vụ bao gồm cá yếu tố vật chất và con người, được tổ
chức chặt chẽ theo một hệ thống phối hợp hướng tới khách hang, nhằm đảm bảo
thực hiẹn quá trình sản xuất và tiêu dung dịch vụ một cách có hiệu quả .
Bất kỳ một tổ chức kinh doanh dịch vụ nào cũng phải xây dựng cho mình
một hệ thồng, hệ thống này phù hợp với từng loại dịch vụ cung ứng.
Chu kỳ sống của dịch vụ và các chiến lược đáp ứng.
Việc xác định ranh giới giữa các giai đoạn là tương đối, mỗi giai đoạn có một
đặc thù riêng biệt của nó.
Đặc điểm của giai đoạn giới thiệu và phát triển.
Giai đoạn giới thiệu Giai đoạn phát triển
Trang: 12
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Văn Nghiệp
Đặc điểm
Doanh số Thấp Tăng nhanh
Chi phí trên KH Cao Trung bình
Lợi nhuận Âm Tăng
Khách hàng Khai phá Tiên phong
Đối thủ cạnh tranh Ít Nhiều lên

hút khách hang
Tăng cường nghiệp
vụ
Chăm sóc khách
hang
triển khai các dịch
vụ hỗ trợ cơ bản
Tăng cường các dịch
vụ hỗ trợ
5.2. Chính sách giá dịch vụ.
Giá được hiểu là số tiền mà khách hàng phải trả khi khách hàng sử dụng một
dịch vụ nào đó.
 Những căn cứ chủ yếu cho việc định giá.
Chính sách của nhà nước: Đây là ràng buộc rất lớn, một số dịch vụ có tầm
quan trọng lớn đối vói một quốc gia thông thường sẽ có sự can thiệp của nhà nước
trong việc áp đặt mức giá.
Mục tiêu marketing của công ty. Để thực hiện mục tiêu marketing của công
ty trông chờ vào Marketing- mix, trong đó có giá, chính vì vậy khi định giá phải
xem xét mục tiêu marketing.
Trang: 13
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Văn Nghiệp
Marketing-mix. Chính sách giá không bao giờ đứng độc lập một mình, nó là
một yếu tố của Marketing-mix, các yếu tố của Marketing-mix liên hệ với nhau rất
chặt chẽ, do vậy khi đánh giá phải xem xét đến các chính sách khác như chính
sách dịch vụ, chính sách phân phối, chính sách cổ động.
Thị trường và nhu cầu. Chi phí tạo nên cơ sở cho việc định giá, còn thị
trường và nhu cầu tạo ra mức trần giới hạn cho sự vận động của giá cả, những
người tiêu dung đều xem xét giá cả của một dịch vụ dựa trên những lợi ích mà
dịch vụ đó mang lại cho họ khi tiêu dùng. Vì vậy trước khi định giá, người làm
Marketing phải hiểu được mối quan hệ giữa giá cả và mức cầu đối với dịch vụ của

môn nghiệp vụ cho các trung gian.
5.3.3. Chính sách cơ sở vật chất.
Một số dich vụ sẽ không tồn tại nếu không có hệ thống cơ sở vật chất phục
vụ, cơ sở vật chất là một biến số quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất
lượng dịch vụ, ảnh hưởng đến chiến lược phát triển và chiến lược phát triển của
công ty và thông qua cơ sở vật chất kỹ thuật khách hàng sẽ có được cảm nhận,
đánh giá tốt hay xấu về dịch vụ của công ty.
Đối với hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụđược chia thành 2 nhóm
lớn:
Nhóm độc lập: bao gồm các máy móc thiết bị được công ty đầu tư và tự
mình quản lý.
Nhóm phụ thuộc: bao gồm hệ thống máy móc thiết bị, mạng lưới được công
ty ký hợp đồng thuê bao hàng tháng với các nhà cung ứng khác.
Đây cũng được xem như là một khó khăn trong việc kinh doanh dịch vụ vì
hầu hết các công ty không đủ năng lực tự mình đầu tư các hệ thốngcơ sở vật chất
cho hoạt động dịch vụ của mình, trong khi đó hiện nay tại Việt Nam hệ thống cơ
sở vật chất kỹ thuật thuộc nhóm phụ thuộc lại có một ánh hưởng khá lớn đến chất
lượng dịch vụ.
Quyết định đầu tư: hiện tại có 2 trường phái về vấn đề đầu tư cho vật chất kỹ
thuật:
Trường phái 1: Người ta cho rằng phải đầu tư từ đầu và có tính lâu dài (chỉ
đầu tư 1 lần và phục vụ lâu dài rồi thu hồi vốn, có lợi nhuận).
Trường phái 2: Người ta cho rằng phải đầu tư từng bước, phải xem xét có sự
phát triển hay không rồi đầu tư tiếp theo.
Trang: 15
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Văn Nghiệp
Mỗi một trường phái đều có ưu và nhược điểm của nó, gắn liền với vấn để
đầu tư bao giờ cũng chứa đựng những yếu tố rủi ro và yếu tố sinh lợi. Trong đầu
tư ngoài việc quyết định qui mô, các công ty còn quan tâm đến tính hiện đại của
công nghệ. Phục vụ cho hoạt động dịch vụ có nhiều loại công nghệ khác nhau, các

Nhánh Ngũ Hành Sơn thành phố Đà Nẵng.
+ Tài khoản USD: 004-137.0012.988 Ngân hàng Công Thương Việt Nam
chi nhán Tại thành phố Đà Nẵng.
+ Trụ sở Công ty : Đường 2/9 Quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng.
II. Tổ chức bộ máy quản lý tại công ty Sông Thu.
1. Chức năng của Công ty .
* Về Quốc Phòng: Thì công ty chỉ hoạt động trong hai lĩnh vực là đóng mới và
sửa chữa các loại tàu phục vụ cho mục đích quân sự. Ứng phó sự cố tràn dầu trên
biển. Công ty phải thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ do Bộ Quốc Phòng cũng như
Tổng Cục Công Nghiệp Quốc Phòng giao.
* Về kinh tế: Thì công ty có chức năng sau:
Sửa chữa và đóng mới tàu biển.
Dịch vụ vận tải biển.
Dịch vụ làm sạch tàu dầu.
Dịch vụ thương mại.
Trang: 17
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Văn Nghiệp
Dịch vụ cảng.
Công ty phải đảm bảo luôn hoạt động có hiệu quả để đem lại lợi nhuận kinh tế
cao đồng thời phải quan tâm đến các vấn đề xã hội.
2. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty .
Cơ cấu tổ chức của Công ty rất đa dạng vừa theo quan hệ trực tuyến vừa theo
quan hệ chức năng. Chính vì vậy mà luồng thông tin được vận động một cách linh
hoạt và kịp thời.
SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC CÔNG TY
Trang: 18
Phòng: Kỹ
thuật
Giám đốc
PGĐ Kinh

quản lý
sản xuất
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Văn Nghiệp
Quan hệ trực tuyến
Quan hệ chức năng
Quan hệ trực tuyến :
+ Giám đốc công ty là người lãnh đạo cao nhất, có những quyền hạn cần thiết
để điều hành công ty, giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình hoạt động của
công ty.
+ Phó giám đốc công ty và các trưởng phòng chức năng là người thi hành
mệnh lệnh của giám đốc và có vai trò tham mưu cho giám đốc trong lĩnh vực
chuyên môn, nghiệp vụ của mình và thực hiện sự kiểm tra, kiểm soát kết quả của
việc thực hiện các kế hoạch.
+ Phó giám đốc kỹ thuật trực tiếp chỉ đạo hoạt động của phòng kỹ thuật và
các tổ sản xuất. Phòng kỹ thuật và các phân xưởng có nhiệm vụ thi hành mệnh
lệnh của phó giám đốc kỹ thuật.
Quan hệ chức năng: đây là quan hệ giữa các phòng chức năng với các bộ phận
trực tuyến.Các phòng chức năng được sự uỷ quyền của giám đốc chỉ đạo các hoạt
động nghiệp vụ của mình, không có quyền đưa ra các quyết định và chỉ đạo các
đơn vị ở tuyến khác.
III. Tình hình sử dụng các nguồn lực tại Công ty.
1. Tình hình tài chính của công ty.
Công ty Sông thu là một Công ty lớn, hoạt động đa ngành song lĩnh vực đóng
mới và sửa chữa tàu biển là lĩnh vực chính của Công ty. Và điều này được thể hiện
rõ trong bảng cân đối kế toán sau.
ĐVT:Đồng
Chỉ tiêu Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006
Trang: 19
PX vỏ
1&2

22.9
392
120
76.6
23.4
427
129
76,8
23,2
Theo giới tính
Lao động nữ
Lao động nam
45
480
8.6
91.4
45
367
8.8
91.2
49
507
8,8
91,2
Theo trình độ
Đại học, cao đẳng
Trung cấp
Công nhân kỹ thuật
Lao động phổ thông
67

kế hoạch đóng tàu của công ty bị cắt giảm từ 40 tỷ đồng xuống còn 10 tỷ đồng, do
vậy nên công ty đã cắt giảm lao động mùa vụ, vì vậy mà số lao động trực tiếp của
công ty năm 2005 giảm. Năm 2006 để mở rộng sản xuất kinh doanh công ty đã mở
rộng chi nhánh tại Vũng Tàu, đồng thời ngành đóng tàu của công ty trong năm đã
nhận được hợp đồng với trị giá 55 tỷ đồng nên công ty đã tuyển thêm lao động. Do
vậy, số lao động của công ty trong năm qua tăng mạnh. Năm 2006 so với năm
2005, số lao động gián tiếp tăng 7% còn số lao động trực tiếp tăng 9%.
Do công ty là đơn vị quốc phòng và do đặc điểm nghề nghiệp nên phần lớn lao
động của công ty là Nam cò lao động Nữ chiếm tỷ lệ rất ít. Phần lớn số lao động
Trang: 21
Chuyờn tt nghip GVHD: Th.S Trn Vn Nghip
N ny u l lao ng giỏn tip hay lao ng lm vic trang lnh vc thng mai
ca cụng ty.
Qua bng s liu ta cng thy c s lao ng cú trỡnh ca cụng ty cng
khỏ cao. S lao ng cú trỡnh i hc cao ng xp x 10%. V s lao ng
cụng nhõn k thut cng chim t l khỏ cao v khụng ngng tng qua cỏc
nm.Nhng bờn cnh ú s lao ng ph thụng cũn chim t l cao trờn 41% qua
cỏc nm. Mc dự t l lao ng ny cú gim trong nhng nm gn õy song tc
gim cũn chm. Mt khỏc s lao ng cú tay ngh cao li chim t l rt nh
4.5%.
Trong nhng nm qua mc dự cụng ty luụn chỳ trng n vic nõng cao trỡnh
chuyờn mụn nghip v cho cỏn b cụng nhõn viờn ca cụng ty nh: a cụng
nhõn viờn i o to nc ngoi, cng nh m cỏc lp tp hun nõng cao tay
ngh cho cụng nhõn song nhỡn chung vn cha ỏp ng c yờu cu phỏt trin
ca cụng ty.
3. Thc trng v c s vt cht ti Cụng ty.
VT: m
2
Haỷng
muỷc

10244
2478
2907
740
500
600
0
40.79
19.8
64.81
30.97
46.59
6.12
8.26
10.12
0
Trang: 22
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Văn Nghiệp
coìn laûi
( Nguồn phòng KH-KD)
Công ty Sông Thu là một Công ty lớn với tổng diện tích trên 15,33ha bao gồm
cả diện tích mặt nước và diện tích đất liền. Hiện nay tổng dịch tích mà Công ty đã
đưa và sử dụng là chưa nhiều mới 4,419 ha chiếm 35,32% diện tích. Diện tích
chưa sử dụng còn chiếm tỉ lệ lớn 64,67%. Đây là nguồn dự trữ khá lớn để cho
Công ty có thể mở rộng sản xuất kinh doanh.
Nhìn vào bảo số liệu trên ta có thể thấy được sự phát triển của Công ty trong
những năm qua là chưa tương xứng với tiềm năng hiện có của Công ty . Vấn đề
đặt ra trong những năm tới là Công ty phải có chính sách và giải pháp phù hợp để
có khai thác tối đa lợi thế mà mình đã có.
Cơ sở hạ tầng của Công ty trong những năm qua không ngừng được nâng cấp

Sửa chữa
Vệ sinh TD
Dịch vụ cảng
Vận tải biển
T Mại
chiếc
chiếc
chiếc
Tấn
Tấn
Lít
1
29
9
674.215
25.535
1.000.475
30.000
24.006
8.462
6.742
7.957
6.215
1
37
14
901.200
29.907
1.085.597
25.000

Trong lĩnh vực kinh tế thì công ty hoạt động trong tất cả các ngành nhưng
trong mấy năm gần đây ngành đóng tàu của công ty chỉ hoạt động trong lĩnh vực
quốc phòng . Do phải hoạt động trong cả hai lĩnh vực nên nguồn lực của công ty bị
phân tán do vậy mà cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất kinh doanh
của công ty. Lĩnh vực kinh tế là lĩnh vực phụ thuộc vào chủ quan của công ty
Trang: 24
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Văn Nghiệp
không phụ thuộc vào chi tiêu của Tổng Cục Công Nghiệp Quốc Phòng. Mặc dù
vậy song nó vẫn chịu ảnh hưởng lớn của lĩnh vực Quốc Phòng bởi vì công ty luôn
phải dựa vào các chỉ tiêu được giao của Tổng Cục Công Nghiệp Quốc Phòng để
bố trí các nguồn lực cho lĩnh vực kinh tế như thế nào cho hợp lý, chủ yếu trong
ngành sửa chữa tàu biển. Vì vậy mà doanh thu lĩnh vực kinh tế cũng luôn biến
động và ngược chiều với sự biến động của lĩnh vực quốc phòng tức là khi chỉ tiêu
lĩnh vực Quốc Phòng được giao lớn thì lĩnh vực kinh tế lại giảm bởi ngành sửa
chữa tàu biển là ngành đem lại cho doanh thu rất lớn cho công ty. Năm 2005 so
với năm 2004 lĩnh vực Quốc Phòng giảm 15,6% thì lĩnh vực kinh tế lại tăng 18,8%
nhưng sang năm 2006 lĩnh vực Quốc Phòng tăng thì lĩnh vực kinh tế lại giản
33,1%.
Ngành đóng mới: Đóng mới tàu biển là một ngành đòi hỏi thời gian dài và chi
phí lớn, để đóng một con tàu thì thời gian không phải là một năm mà có thường
kéo dài qua nhiều năm. Vì vậy mà giá trị sản xuất và tiêu thụ của ngành được tính
là số lượng công việc được hoàn thành trong năm đó. Năm 2003 Công ty được
giao đóng một tàu cứu hộ trị giá 30 tỷ đồng. Đến năm 2005 công ty cũng được
giao đóng mới một tàu DST4612 và tiếp tục hoàn thành tàu cứu hộ năm trước với
tổng giá trị là 25 tỷ đồng. Năm 2006 công ty tiếp tục hoàn thành tàu DST4612
được giao năm 2005 với tổng gía trị là 45 tỷ đồng và đóng mới một tàu ứng phó sự
cố tràn dầu với chỉ tiêu được giao là 8 tỷ đồng
Ngành sửa chữa: năm 2004 công ty đã sửa chữa đựơc 29 tàu với doanh thu là
24.006 triệu đồng. Sang năm 2005 số tàu cập cảng của công ty sửa chữa là 37
chiếc đạt 27.821 triệu đồng tăng 15.9% so với năm 2004. Năm 2006 so tàu được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status