Vài nét về nhà văn Nam Cao - Pdf 30

I. GIỚI THIỆU TÁC GIẢ :\r\n\r\n1. Sinh năm 1915 trong một gia
đình trung nông ở làng Ðại hoàng, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam
(nay thuộc Nam Hà).
Gia đình Nam Cao sống cũng chật vật. Trong số anh em chỉ có Nam Cao được ăn học. Học hết phổ thông
trung học vì ốm nên không thi đậu. Nam Cao theo người nhà vào Sài Gòn làm thư ký cho một cửa hiệu
may. Sau trận ốm nặng, Nam Cao lại trở về làng. Ôn tập lại vốn học và thi đậu, nhưng vì sức khỏe yếu
nên không có việc làm. Sau đó người làng mở trường tư ở Hà Nội, cần một chân dạy có bằng trung học,
Nam Cao được mời dạy. Ðược ít lâu trường bị đóng cửa vì Nhật chiếm làm chổ nuôi ngựa. Nam Cao
sống vất vả, khi viết văn, khi làm gia sư nhưng cũng không đủ sống. Thời kỳ này Nam Cao được giác ngộ
Cách mạng và tham gia sinh hoạt tổ văn hóa cứu quốc 1943. Khi cơ sở văn hóa ở Hà Nội bị khủng bố,
Nam Cao về làng tham gia phong trào Cách mạng ở địa phương. Tổng khởi nghĩa, Nam Cao tham gia
cuộc đánh chiếm Phủ Lý Nhân và làm chủ tịch xã một thời gian, trước khi được điều lên công tác văn
hóa, văn nghệ ở báo trung ương.
- Những ngày sôi nổi của tuổi trẻ, cũng như buổi đầu đến với văn học, Nam Cao làm một số thơ lãng mạn
và viết những truyện tình thơ mộng. Ơí thời kỳ này ngòi bút của Nam Cao dò dẫm tìm một lối đi, tâm hồn
Nam Cao dần dần đổi thay, có được một cái nhìn đúng đắn cuộc sống.
Những áng mây xốp bồng bềnh trôi nổi, ánh trăng xanh huyền ảo, ngọn gió mát lành thơm tho thoảng qua
từ những mái tóc, tà áo thiếu nữ, những cuộc hẹn hò, trang sức… Tất cả chất liệu ấy có lần đến với ngòi
bút Nam Cao, mạng theo nhiều mơ ước xa xôi và những nỗi buồn vẩn vơ của lứa tuổi học sinh chịu ảnh
hưởng của sách báo lãng mạn. Nam Cao trong tuổi trẻ không khỏi có lúc
Tâm hồn tan tác làm trăm mảnh
Vương vấn theo ai bốn góc trời
Nhưng Nam Cao chóng trở về với cuộc đời thực. Cái buồn thường sớm nhường chỗ cho những cái lo. Nỗi
cơm áo, bệnh tật, công ăn việc làm, Nam Cao không thích sự mơn trớn, vuốt ve “Nghệ thuật không thể là
…”. Nam Cao tìm đến sự thật với tấm lòng yêu thương cuộc sống, những lớp người và những cảnh đời
đau khổ. Với những rung động xót xa đến cháy lòng trước bao ngang trái, bất công của chế độ cũ, Nam
Cao muốn phơi bày sự thật của cuộc đời và của lòng người.
Nam Cao gần gũi và quen thuộc chốn đồng quê và những cảnh đời lầm than, đau khổ và chính cái làng
quê ấy đã đi vào những trang viết rất chân thật sinh động của ông. Tiếp xúc và cọ xát với nhiều loại
người, nhiều số phận khác nhau, Nam Cao đã từ cái bao quát chung để thấm thía và chiêm nhiệm cho
thân phận tầng lớp và của riêng mình

làng Ðại Hoàng thân thiết. Hình ảnh quê hương đã nâng đỡ nhà văn lúc bi quan bế tắc.
Là một thanh niên tiểu tư sản, lại sống giữa xã hội đầy xấu xa. Nam Cao không phải không tiêm nhiễm
nhiều cái tiêu cực. Nhưng cái đáng quí ở Nam Cao là tự mình đấu tranh nghiêm khắc để vượt mình, vượt
khỏi cuôc sống tầm thường, nhỏ nhen, đê tiện, vươn tới cái đúng, cái đẹp, cái cao thượng.
4. Bước đầu sáng tác: con đường hiện thực đến với Nam Cao hiện thực và quan điểm sáng tác của Nam
Cao
Ø
Nam Cao ước mơ sáng tác từ lúc còn ngồi trên ghế nhà trường. Ông đã có thơ, truyện
cười, truyện ngắn, kịch vui… đăng báo từ năm 1938. Nam Cao ít nhiều chịu ảnh hưởng tiểu tư sản đương
thời, ông chịu ảnh hưởng của văn học lãng mạn thoát li. Thơ của Nam Cao nặng về nỗi buồn vu vơ.
Nhưng truyện ngắn Nam Cao chú ý đến cảnh ngộ đau khổ trong xã hội, kiếm ăn bằng việc mua vui cho
người khác. Một cô đào hát, chết gục giữa tiếng hát của mình trên sân khấu (Cảnh cuối cùng). Một diễn
viên xiếc nghèo bị tình phụ đã giết chết người tình rồi tự sát khi biểu diễn (Hai xác chết). Hai chú bé thổi
kèn Si-ca-gô và nhào lộn trên đường phố (Hai đứa trẻ).
Thời kỳ này khuynh hướng phê phán xã hội cũng đã rõ nét ở Nam Cao như trong truyện ngắn “Nghèo”,
“Ðui mù”, “Một bà hào hiệp”. Chủ nghĩa hiện thực thật sự được khẳng định ở truyện ngắn “Chí
Phèo”
Ø
Trong số những nhà văn hiện thực trước Cách mạng Tháng Tám 1945, Nam Cao là người
có trách nhiệm nhất về ngòi bút của mình. Suốt cuộc đời lao động văn chương nhà văn luôn suy nghĩ
“Sống và viết” Nam Cao sớm nhận biết tính chất giả dối phù phiếm của thứ văn thơ “thơm tho” đó. Nam
Cao đã kiên quyết đoạn tuyệt với nó và tiến đến chủ nghĩa hiện thực. Với Nam Cao từ bỏ chủ nghĩa lãng
mạn tức là từ bỏ con đường thoát li hưởng lạc ích kỷ, phản bội nhân dân lao động; lựa chọn chủ nghĩa
hiện thực có nghĩa là trở về chỗ đứng của mình trong những người nghèo khổ ruột thịt. Trong “Trăng
sáng” Nam Cao đòi nghệ thuật phải là tiếng đau khổ kia thoát ra từ kiếp sống lầm than “Chứ không phải
là món giải trí của những người đàn bà nhàn nhã ngã mình trên những chiếc ghế xích đu nhún nhảy”
(Trăng sáng) là một tuyên ngôn cảm động, đanh thép của quan điểm Nghệ thuật vị nhân sinh” cũng là lời
tâm niệm chân thành của nhà văn tiểu tư sản nguyện trở về, chung thủy với quần chúng nghèo khổ.
Nam Cao chế giễu cay độc những nhà tiểu thuyết “óc đầm đìa thuốc phiện”, “suốt đời nhìn trăng” nhân
vật lý tưởng của họ là những cô gái nhí nhảnh, lẳng lơ và rất giả dối, độc ác.


Nam Cao viết về những nổi đau quằn quại trong tâm hồn, nhiều khi có tính bi kịch của

- Họ là những nhà văn mang tên Hộ, Ðiền, Du, có khi được gọi làhắn và xưng là tôi. Họ thường ôm ấp
một hoài bảo về sự nghiệp tinh thần. Họ đã từng sẳn sàng hiến cả đời mình cho nghề văn. Với sự say mê,
Hộü không còn giới hạn nào trong mơ ước: trong một phút cao hứng anh tuyên bố, tác phẩm của anh sẽ
đoạt giải Nobel và dịch ra đủ mọi thứ tiếng trên hoàn cầu.
- Tác phẩm của họ có tính nhân đạo. Theo Hộ, tác phẩm có giá trị phải là “tác phẩm chung cho cả loài
người. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái , sự công bình… nó làm cho con người gần người hơn “
- Ở họ giữa ước mơ và hiện thực mâu thuẫn nhau: hàng ngày chuyện áo cơm ghì sát đất . Lẽ ra ngòi bút
của họ phải viết về một cái gì đó to lớn, góp phần xây dựng nhân loại thì giờ đây, để kiếm tiền nuôi vợ
con đã phải viết toàn những cái vô vị nhạt phèo, gợi tình cảm rất nhẹ, rất nông. Họ đau đớn nhận ra rằng
mình là một con người thừa.
- Họ rơi vào mâu thuẩn giữa tình thương và sự nghiệp: họ định thoát li vợ con để rảnh rang theo đuổi văn
chương. Nhưng Hộ không thể ích kỷ tàn nhẫn như vậy. Hộ đã hy sinh sự nghiệp để giữ lấy tình thương.
Rồi lại rơi vào sự nuối tiếc, sự cục cằn thô bạo. Khi tỉnh lại, Hộ càng đau đớn hơn nữa lẽ sống cuối cùng
cũng không giữ được. Hộ nói với vợ trong tiếng nức nở : “Anh … chỉ là… một thằng… khốn nạn”
Ø
Người trí thức trong truyện ngắn Nam Cao còn ghi lại những quằn quại trong cuộc đấu
tranh tư tưởng của người tiểu tư sản.
Ðấu tranh với xu hướng thoát li hưởng lạc “Quên điều độ ” “Nhìn người ta sung sướng”, “Trăng sáng”,
“Truyện tình”


Câu chuyện tội nghiệp của anh chàng Lưu trong “Truyện tình” với cô Kha nhí nhảnh. Ðó là bài học với
anh tiểu tư sản nghèo cay đắng. Cái cô gái xinh đẹp, nhí nhảnh, thơm tho đầy quyến rủ kia chẳng phải là
của anh, chúng nó chỉ là đứa giả dối, hợm hĩnh, ích kỷ, đểu cáng, chúng chẳng quý trọng gì người nghèo
mà chỉ lợi dụng cái ngây ngô khờ dại của anh rồi quẳng anh đi bất cứ lúc nào.
Nam Cao thù ghét sự ích kỷ độc ác và quan niệm về kẻ mạnh “không phải là kẻ giẫm lên vai người khác
để thỏa mãn lòng ích kỷ, kẻ mạnh chính là kẻ giúp đỡ kẻ khác trên đôi vai của mình ” (Ðời thừa).

hồn con người trong cái xã hội không cho con người sống, có ý thức về sự sống mà không được sống. Bị
nhấn chìm trong cảnh “chết mòn” mà không cưỡng lại được.
Thứ khao khát một cuộc sống hữu ích, cao cả Anh có quan niệmkhá sâu sắc, đúng đắn về ý nghĩa chân
chính cuộc sống: “Mỗi người sống phải làm thế nào cho phát triển tận độ những khả năng của loài người
chứa đựng ở mình. Phải gom góp sức lực mình vào công việc tiến bộ chung. Mỗi người chết đi phải để
lại một chút gì cho nhân loại”. Nhưng “đau đớn thay cho những kiếp sống khao khát muốn lên cao
nhưng lại bị áo cơm ghì sát đất”. Cuộc đời khốn nạn bắt Thứ phải sống “cái lối sống quá ư loài vật,


chẳng còn biết đến một việc gì ngoài cái việc kiếm thức ăn đổ vào dạ dày”. Một lối sống mà Thứ hết sức
khinh ghét. Thứ khao khát một cuộc sống rộng lớn luôn luôn đổi mới. Nhưng cuộc đời đã giễu cợt giấc
mộng giang hồ của Thứ và bắt Thứ kéo lê cuộc sống đơn điệu, mòn mỏi, tù đọng ở một xó ngoại ô dở
tỉnh dở quê, ngày tháng trôi đi “bình lặng và vô sự… không có hy vọng gì đổi thay”.
Thứ mong muốn giữa người với người có sự cảm thông, yêu thương. Anh muốn trân trọng mọi người và
có ý thức gần gũi nhân phẩm của mình. Nhưng “chất độc ở ngay trong sự sống” thấm vào máu từng
người. Chất độc ấy vùi dập những gì tốt đẹp, kích thích những gì nhỏ nhen xấu xa trong con người. Thứ
cũng không tránh được sự nhỏ nhen xấu xa trong cuộc sống đang xảy ra chung quanh mình với vợ con,
với bạn bè đồng nghiệp. Thứ có lúc nghĩ tới sẽ phản bội vợ, vũ phu với vợ, phản bội bạn bè và mong cho
bạn chết. Nghe tin Ðích ốm nặng, Thứ thầm mong Ðích chết ngay lúc ấy. Thứ đã khóc “khóc cho cái chết
của tâm hồn y”. Cả cuốn “Sống mòn” là tiếng khóc lặng lẽ mà đau đớn về “cái chết của tâm hồn”.
Với những mẩu chuyện tầm thường trong sinh hoạt hàng ngày. Nam Cao đã đặt ra những vấn đề có ý
nghĩa lớn lao, sâu sắc. “Sống mòn” dõng dạc kết án cái xã hội thối nát đã bóp nát mọi ước mơ, mọi khả
năng tiềm tàng và mọi cái tốt đẹp trong con người, đã tàn phá tâm hồn, giết chết sự sống. Từ chiều sâu tác
phẩm vút lên tiếng kêu khẩn thiết: hãy cứu lấy con người, cứu lấy sự sống.
b. Phê phán lối “Sống mòn” và tư tưởng tiểu tư sản
- Lối “Sống mòn” : ngòi bút sắc sảo của Nam Cao đã phơi ra ánh sáng những lối “Sống mòn” đáng
thương và đáng sợ.
- Bộ mặt tinh thần của mấy thầy giáo, cô giáo trong “Sống mòn” thật buồn tẻ, thảm hại. Họ sống chen
chúc trong một không khí tù đọng, bụi bặm, ẩm mốc. Chỉ mong có miếng ăn và được yên thân.
Nhân vật San : sống buông xuôi, luôn thèm khát thú vui vật chất, chẳng có một ước mơ gì cao xa.

Những hoài nghi, bi quan về “người đời” tính đa nghi, cái nhìn xoi mói đôi khi tàn nhẫn
đối với người đời. Cái tật hay ghen không tin “ở lòng dạ đàn bà ” của Thứ là những biểu hiện của tâm lý
hoài nghi, vốn có nguồn gốc xã hội sâu xa.
Ø
Thói sĩ diện hão cũng là một nét nôi bật trong tính cách tiểu tư sản, nhất là ở phần tử tri
thức. Kẻ sĩ diện thường dấu giếm cái nghèo hèn và phô trương cái giàu sang “cao quí ” của mình. Thứ rất
nghèo túng nhưng muốn tỏ ra hào phóng để rồi sau đó hối hận xót xa. Không dám dọn nhà ban ngày vì sợ
thiên hạ biết mình ít đồ đạc, ban đêm mới lẻn đi giống như một cô gái chửa hoang đi đẻ. Người tiểu tư
sản trong “Sống mòn” mang tính bi hài kịch.
c. Sức mạnh tố cáo của “Sống mòn” và niềm khao khát đổi thay
Nhân vật phản diện trong “Sống mòn” là cuộc đời là toàn bộ cái xã hội tàn bạo đã gây nên cảnh chết mòn
thê thảm của mọi nhân vật. Trên giường bệnh Ðích rít lên trong cơn hấp hối “Ðời ! … ôi chao đời !” Thứ
cũng hằn học: “Cuộc sống… cuộc sống thật là một cái gì nặng nề, trói buộc quá ” những tiếng kêu rên
xiết toát lên từ chiều sâu bi thảm của mỗi số phận, lặp đi lặp lại như một nét nhạc toàn buồn tạo nên cái
âm hưởng chủ đạo của bài ca “Sống mòn”.
“Sống mòn” không trực tiếp phản ánh trên bình diện đấu tranh giai cấp nhưng Nam Cao thấy rõ tình
trạng bất công phổ biến trong xã hội đương thời: “Bao giờ và ở đâu cũng thế thôi. Thằng nào đã chịu khổ
quen rồi thì cứ cố mà chịu mãi đi ! mà thường thường những kẻ ăn nhiều nhất, hưởng nhiều nhất lại là
những kẻ không đáng ăn một tí nào, hưởng một tí nào “. Trong “Sống mòn” không có hai chữ chế độ.
Nhưng Nam Cao đã đặt ra vấn đề chế độ. Vấn đề không phải tại “người này hay người kia” mà là toàn bộ
cái xã hội phải thay đổi. “Sống mòn” toát lên cái yêu cầu cấp bách đòi phá tung trật tự khốn nạn thít chặt
lấy số phận con người.
- Niềm khao khát đổi thay
Cuối truyện một sự thật “to lớn quá, mạnh mẽ quá, bi thảm quá “. Nhân loại đang lên “cơn sốt rét”, đang
“quằn quại để đổi thay”. Phải thay đổi trong bế tắc cùng đường. Thứ muốn bám vào một niềm tin. Thứ dự
cảm thấy một sự đổi thay to lớn: “Lòng Thứ đột nhiên hé ra một tia sáng mong manh. Thứ tự thấy hy
vọng một cách vu vơ. Sau cuộc chiến tranh này cuộc sống sẽ dể chịu hơn, công bình, đẹp đẽ hơn”.
Tác phẩm kết thúc bế tắc, nhưng tia sáng mong manh đó vẫn le lói như hứa hẹn một bình minh xa xôi sẽ
tới.
Nhưng đổi thay bằng cách nào ? Thứ cho rằng phải “nhìn nhận rõ ràng cái khổ để tìm cách diệt khổ “.

những người không được loài người coi là người. Ðó là thân phận trâu ngựa của những đứa ở cho nhà
giàu, những cái Tí, cái Dần, anh Cu Phúc ăn thì chẳng bao giờ đủ no mà công việc và những lời chửi rủa
thì thừa bửa tứa tát.
- Bị ức hiếp nhiều nhất có lẽ là người phụ nữ trong xã hội; đó là dì Hảo (Dì Hảo), Nhu (Ở hiền) những cô
gái hiền như một ngụm nước mưa, cả đời chỉ biết yêu thương, nhường nhịn nhưng cả đời chỉ gặp cay
đắng phủ phàng. Ðó là Mụ Lợi (Lang Rận), 36 tuổi vẫn lận đận về chuyện chồng con, chỉ vì nghèo quá
suốt đời đi ở “kể người ta nuôi mụ chỉ biết nuôi, nuôi để mụ hầu hạ người ta, còn cái sự mụ có chồng hay
không có chồng thì mặc mụ “.
Trong xã hội ấy, thân phận người phụ nữ là thân phận nô lệ, luôn bị chà đạp thô bạo, bất công có khi họ là
nạn nhân khốn khổ cùng kẻ mà họ phải thờ phụng. Những thằng chồng vũ phu, tham ăn tục uống, hành hạ
vợ một cách dã man (Ở hiền, Dì Hảo, Ðòn chồng, Trẻ em không được ăn thịt chó )
Ði vào cuộc đời những con người bị ức hiếp nhiều nhất, càng hiền lành càng lụi xuống bùn đen, Nam Cao
đã làm nổi bật lên tình trạng bất công ghê gớm trong xã hội: “tại sao trên đời này nhiều sự bất công đến
thế ?”. câu hỏi không lời giải đáp đó trongỞí hiền” một truyện ngắn có tính chất luận đề nghi vấn, cái
“đạo lí ở hiền gặp lành ” cũng là vấn đề Nam Cao đặt ra trong hầu hết tác phẩm của mình.
- Trong tác phẩm của Nam Cao ta thường gặp những nhân vật nông dân xấu xí, thô lỗ, độc ác, nhục nhã
trong cuộc sống của họ. Ðiều đó khiến cho một số người hoài nghi ý nghĩa hiện thực và nhân đạo của
nhiều truyện Nam Cao. Ðúng là trong sự biểu hiện một số truyện Nam Cao có vẻ tự nhiên chủ nghĩa.
Nhưng không như những nhà văn chủ nghĩa nhìn quần chúng như một lũ vật – người ngu dốt đầy thú
tính.
Trái lại từ cái bề ngoài xấu xí, có khi rất thú vật của người nông dân đã phát hiện ra tâm hồn con người.
Nam Cao không chỉ nói đến tình cãnh bị bóc lột về thể chất mà đi sâu vào nổi khổ, tâm hồn con người bị
đày đọa, nhân phẩm bị xúc phạm, giá trị làm người bị tước đoạt.


“Một bữa no” là câu chuyện cay đắng thê thảm về cái chết nhục nhã của một bà lão khốn nạn
“Ðòn chồng” là câu chuyện về một người đàn bà khác bị sỉ nhục, bêu riếu hành hạ dã man.
“Lang Rận” là một câu chuyện cực nhục thê thảm nhất. Lang Rận con người nghèo khổ, bẩn thỉu bị mọi
người hắt hủi đã tìm đến với Mụ Lợi – một người đàn bà xấu xí bị hắt hủi như mình. Nhưng mối tình
chính đáng tội nghiệp của họ trở thành trò bêu riếu trò chơi thú vị kích thích tính tò mò của hai đưá đàn

Có những ước mơ chân chính: một gia đình nhỏ làm thuê cuốc mướn vợ dệt vải. Trong xã hội cũ, ước mơ
chỉ là ảo tưởng, còn đau xót khổ cực mới là hiện thực.
Chí Phèo là một thanh niên có tâm hồn đẹp: yêu – ghét, khinh – trọng rất rõ. Anh đã phân biệt tình yêu
chân chính với thói dâm dục xấu xa. Bị gọi lên bóp chân, đùi cho bà ba anh chỉ thấy nhục chứ yêu đương
gì.


Khi tỉnh rượu, anh tha thiết được trở lại với xã hội loài người “thèm lương thiện muốn làm hòa với mọi
người biết bao”.
Cuộc gặp gỡ với Thị Nở đã loé lên một tia chớp trong chuỗi ngày tăm tối dằng dặc. Sự săn sóc giải dị ở
Thị Nở, người đàn bà khốn khổ ấy đã khơi dậy, đánh, thức bản chất lương thiện của người cố nông Chí
Phèo.
Lần đầu tiên sau bao năm Chí Phèo nghe tiếng chim hót vui vẻ, tiếng cười nói của mấy người đi chợ về,
tiếng anh thuyền chài gõ đuổi cá. Ðây là tiếng gọi tha thiết của sự sống đang níu kéo anh trở về với lương
thiện.
b. Chí Phèo lưu manh
Quãng đời lương thiện của Chí Phèo quá ngắn ngủi và chấm dứt khi bị Bá Kiến cho giải lên huyện rồi đi
ở tù : Sau bảy tám năm biền biệt, khi trở về Chí hoàn toàn thay đổi.
Hắn không còn là người nông dân nữa mà là phần tử bị loại ra ngoài xã hội.
Nhà tù thực dân bắt người lúc lương thiện và thả ra thành hung dữ, nhà tù giết cái phần “người ” của Chí,
chỉ còn lại cái phần “con”. Hiện tượng bi thảm ấy có tính chất qui luật, tính phổ biến trong cái xã hội ăn
thịt người. Trong truyện ngắn của Nam Cao, ta đã gặp những họ hàng xa gần của Chí Phèo như Trạch
Văn Ðoành, Lê Văn Rự (Ông thiên lôi) “Nửa đêm”, Cu Lộ Tư cách mỏ “, Tư Lăng, Binh Chức, Năm Thọ
những tiền bối gần xa của Chí Phèo.
Những cơn say triền miên của Chí dẫn đến hậu quả : say ( chửi; say (cướp giật; say ( chém giết.
Chí Phèo sống cuộc đời bản năng thô bạo, cũng giống như những người bạn say của Chí “lúc nào cũng
nghĩ tới màu xanh của một chai rượu văn điển và màu vàng của một đùi thịt chó nướng”.
Chí Phèo trở thành tên quỉ dữ của làng Vũ Ðại. Chí Phèo sống trần trụi, Chí Phèo gây tội ác một cách vô
ý thức.
Sau khi bị Thị Nở cự tuyệt, Chí Phèo rơi vào bi kịch của con người không được làm người, muốn làm lại

cách bi quan: những người yếu đuối vẫn hay hiền lành. Muốn ác phải là kẻ mạnh. Nhà văn đã xóa nhòa
ranh giới giai cấp và vô tình biên hộ cho thống trị đầy tội ác mà nhà văn vừa lên án đanh thép .
IV. VÀI NÉT VỀ ÐẶC ÐIỂM NGHỆ THUẬT
Nam Cao có một bản lĩnh nghệ thuật già dặn, một phong cách đa dạng, mới mẻ độc đáo.
1. Phản ánh những khía cạnh chân thực
Sức mạnh tài năng của Nam Cao thể hiện trước trước hết ở sự chân thực trong nội dung và trong hình
thức nghệ thuật.
Một đặc điểm đặc sắc của Nam Cao là từ những sự việc rất mực tầm thường quen thuộc trong cuộc sống
hàng ngày đã đặt vấn đề xã hội có ý nghĩa to lớn.
Ðọc Nam Cao, ta vừa thấy hiện rõ trước mắt những chi tiết chân thực cụ thể vừa vương vấn những suy
nghĩ triết lý mà tác giả gửi gắm đằng sau mỗi câu chuyện.
Viết về người nông dân, cốt truyện đơn giản mà ý nghĩa xã hội sâu sắc. Viết về người tri thức là viết theo
dòng suy nghĩ của nhân vật.
Truyện của Nam Cao thường đậm đà ý vị triết lý, mang nặng suy nghĩ. Ðó là những suy nghĩ được vắt ra
từ cuộc sống vất vả, lầm than, từ những giằng xé của một tâm hồn trung thực cố bám sát vào cuộc sống và
vươn tới chân lý.
2. Chất trử tình
“Trong văn xuôi trước Cách mạng, chưa có ai có được ngòi bút sắc sảo, gân guốc, soi mói như của Nam
Cao” (Lê Ðình Kị văn nghệ số 54, 8-5-1964)
Ngòi bút của Nam Cao thường lạnh lùng nhưng không hề giống cái lạnh lùng trước số phận quần chúng
của các “tác giả tả chân tư sản”. Ngôn ngữ của Nam Cao dùng cho “ông Chánh “, “bà phó ” và dửng
dưng khi nói đến con người nghèo khổ thường gọi là “hắn “, “y”, “thị “, “mụ “. chính giọng bình thản
lạnh lùng ấy là cảm xúc nén lại khiến cho sự phẩn uất xót thương càng tăng lên.
Ở nhiều truyện, Nam Cao thường mở đầu bằng tiếng cười hả hê, vô tâm trước một bộ mặt xấu xí, một
tình huống khôi hài của nhân vật, nhưng khi gấp trang truyện lại, người đọc thấy sót xa rùng mình về số
phận thê thảm của con người bị đè nén, bóc lột, bị sỉ nhục thậm tệ.
Tác phẩm của Nam Cao có một phong thái trữ tình thắm thiết. Truyện Nam Cao thường là truyện ít tình
nhiều. Nhiều truyện có tính chất tự truyện kể về cuộc đời, tâm sự tác giả. Nhà văn thường xen lẫn tự sự và
trữ tình, vừa kể chuyện vừa tham gia vào câu chuyện. Có khi Nam Cao bước hẳn vào tác phẩm trực tiếp
đứng ra kể chuyện và phát biểu cảm nghĩ của mình.

Một quan điểm nghệ thuật vững vàng. Nội dung viết ra trong tác phẩm là tấm lòng yêu thương ưu ái với
tầng lớp người biết áp bức. Văn chương của Nam Cao là “tiếng đau khổ kia thoát ra từ kiếp lầm than”
Nghệ thuật của Nam Cao là thứ nghệ thuật tìm tòi, sáng tạo “Biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi nhữngnguồn
chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có “.
Gia đình Nam Cao sống cũng chật vật. Trong số anh em chỉ có Nam Cao được ăn học. Học hết phổ thông
trung học vì ốm nên không thi đậu. Nam Cao theo người nhà vào Sài Gòn làm thư ký cho một cửa hiệu
may. Sau trận ốm nặng, Nam Cao lại trở về làng. Ôn tập lại vốn học và thi đậu, nhưng vì sức khỏe yếu
nên không có việc làm. Sau đó người làng mở trường tư ở Hà Nội, cần một chân dạy có bằng trung học,
Nam Cao được mời dạy. Ðược ít lâu trường bị đóng cửa vì Nhật chiếm làm chổ nuôi ngựa. Nam Cao
sống vất vả, khi viết văn, khi làm gia sư nhưng cũng không đủ sống. Thời kỳ này Nam Cao được giác ngộ
Cách mạng và tham gia sinh hoạt tổ văn hóa cứu quốc 1943. Khi cơ sở văn hóa ở Hà Nội bị khủng bố,
Nam Cao về làng tham gia phong trào Cách mạng ở địa phương. Tổng khởi nghĩa, Nam Cao tham gia


cuộc đánh chiếm Phủ Lý Nhân và làm chủ tịch xã một thời gian, trước khi được điều lên công tác văn
hóa, văn nghệ ở báo trung ương.
- Những ngày sôi nổi của tuổi trẻ, cũng như buổi đầu đến với văn học, Nam Cao làm một số thơ lãng mạn
và viết những truyện tình thơ mộng. Ơí thời kỳ này ngòi bút của Nam Cao dò dẫm tìm một lối đi, tâm hồn
Nam Cao dần dần đổi thay, có được một cái nhìn đúng đắn cuộc sống.
Những áng mây xốp bồng bềnh trôi nổi, ánh trăng xanh huyền ảo, ngọn gió mát lành thơm tho thoảng qua
từ những mái tóc, tà áo thiếu nữ, những cuộc hẹn hò, trang sức… Tất cả chất liệu ấy có lần đến với ngòi
bút Nam Cao, mạng theo nhiều mơ ước xa xôi và những nỗi buồn vẩn vơ của lứa tuổi học sinh chịu ảnh
hưởng của sách báo lãng mạn. Nam Cao trong tuổi trẻ không khỏi có lúc
Tâm hồn tan tác làm trăm mảnh
Vương vấn theo ai bốn góc trời
Nhưng Nam Cao chóng trở về với cuộc đời thực. Cái buồn thường sớm nhường chỗ cho những cái lo. Nỗi
cơm áo, bệnh tật, công ăn việc làm, Nam Cao không thích sự mơn trớn, vuốt ve “Nghệ thuật không thể là
…”. Nam Cao tìm đến sự thật với tấm lòng yêu thương cuộc sống, những lớp người và những cảnh đời
đau khổ. Với những rung động xót xa đến cháy lòng trước bao ngang trái, bất công của chế độ cũ, Nam
Cao muốn phơi bày sự thật của cuộc đời và của lòng người.

lớn lên trong sự đùm bọc của những người nông dân nghèo khổ ruột thịt. Ðó là bà ngoại nhà văn góa
chồng năm 22 tuổi, suốt đời vất vả cực nhọc nuôi con cháu. Ðó là người mẹ hiền lành lam lũ. Ðó là người
vợ chịu thương chịu khó. Ðó là người dì nuôi đã bế ẵm nhà văn khi còn tấm bé. Hình ảnh những con
người đó trở đi trở lại trong nhiều trang viết của Nam Cao. Tác phẩm của Nam Cao luôn luôn hiện lên cái
làng Ðại Hoàng thân thiết. Hình ảnh quê hương đã nâng đỡ nhà văn lúc bi quan bế tắc.
Là một thanh niên tiểu tư sản, lại sống giữa xã hội đầy xấu xa. Nam Cao không phải không tiêm nhiễm
nhiều cái tiêu cực. Nhưng cái đáng quí ở Nam Cao là tự mình đấu tranh nghiêm khắc để vượt mình, vượt
khỏi cuôc sống tầm thường, nhỏ nhen, đê tiện, vươn tới cái đúng, cái đẹp, cái cao thượng.
4. Bước đầu sáng tác: con đường hiện thực đến với Nam Cao hiện thực và quan điểm sáng tác của Nam
Cao
Ø
Nam Cao ước mơ sáng tác từ lúc còn ngồi trên ghế nhà trường. Ông đã có thơ, truyện
cười, truyện ngắn, kịch vui… đăng báo từ năm 1938. Nam Cao ít nhiều chịu ảnh hưởng tiểu tư sản đương
thời, ông chịu ảnh hưởng của văn học lãng mạn thoát li. Thơ của Nam Cao nặng về nỗi buồn vu vơ.
Nhưng truyện ngắn Nam Cao chú ý đến cảnh ngộ đau khổ trong xã hội, kiếm ăn bằng việc mua vui cho
người khác. Một cô đào hát, chết gục giữa tiếng hát của mình trên sân khấu (Cảnh cuối cùng). Một diễn
viên xiếc nghèo bị tình phụ đã giết chết người tình rồi tự sát khi biểu diễn (Hai xác chết). Hai chú bé thổi
kèn Si-ca-gô và nhào lộn trên đường phố (Hai đứa trẻ).
Thời kỳ này khuynh hướng phê phán xã hội cũng đã rõ nét ở Nam Cao như trong truyện ngắn “Nghèo”,
“Ðui mù”, “Một bà hào hiệp”. Chủ nghĩa hiện thực thật sự được khẳng định ở truyện ngắn “Chí
Phèo”
Ø
Trong số những nhà văn hiện thực trước Cách mạng Tháng Tám 1945, Nam Cao là người
có trách nhiệm nhất về ngòi bút của mình. Suốt cuộc đời lao động văn chương nhà văn luôn suy nghĩ
“Sống và viết” Nam Cao sớm nhận biết tính chất giả dối phù phiếm của thứ văn thơ “thơm tho” đó. Nam
Cao đã kiên quyết đoạn tuyệt với nó và tiến đến chủ nghĩa hiện thực. Với Nam Cao từ bỏ chủ nghĩa lãng
mạn tức là từ bỏ con đường thoát li hưởng lạc ích kỷ, phản bội nhân dân lao động; lựa chọn chủ nghĩa
hiện thực Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học
>>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín,
nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status