pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế - Pdf 30

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
----------

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA: 2011 - 2015
Đề tài:

PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG
MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ

Giảng viên hướng dẫn:
ThS. BÙI THỊ MỸ HƢƠNG
Bộ môn: Luật Thƣơng Mại

Sinh viên thực hiện:
NGUYỄN THỊ THẢO NGUYÊN
MSSV: 5115736
Lớp: LK1165A1

Cần Thơ, 11/2014


NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

---------…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………

CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ ........... 3
1.1. Một số khái niệm cơ bản .................................................................................................. 3
1.1.1. Khái niệm về hợp đồng .............................................................................................. 3
1.1.2. Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa ................................................................ 3
1.1.3. Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ................................................... 5
1.1.3.1. Quan điểm của các nước về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế .................. 5
1.1.3.2. Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo pháp luật Việt Nam ...................... 6
1.2. Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế...................................................... 8
1.2.1. Chủ thể của hợp đồng ................................................................................................. 8
1.2.2. Đối tượng của hợp đồng ............................................................................................. 9
1.2.3. Đồng tiền thanh toán .................................................................................................. 9
1.2.4. Luật điều chỉnh hợp đồng ......................................................................................... 10
1.3. Các nguyên tắc và hình thức giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế .......... 10
1.3.1. Các nguyên tắc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ................................ 10
1.3.2. Hình thức giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ......................................... 12
1.3.2.1. Đàm phán trực tiếp giữa các bên ..................................................................... 12
1.3.2.2. Ký kết giữa các bên vắng mặt ......................................................................... 13
1.4. Nguồn luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ..................................... 13
1.4.1. Điều ước quốc tế ...................................................................................................... 14
1.4.2. Pháp luật quốc gia .................................................................................................... 15
1.4.3. Tập quán thương mại quốc tế ................................................................................... 17
CHƢƠNG 2. QUY ĐỊNH CỦA CISG VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HỢP ĐỒNG
MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ ....................................................................................... 19
2.1. Hình thức và hiệu lực của hợp đồng ............................................................................. 19
2.1.1. Hình thức của hợp đồng ........................................................................................... 19


2.1.1.1. Hình thức của hợp đồng theo CISG ................................................................ 19
2.1.1.2. Hình thức của hợp đồng theo luật Việt Nam .................................................. 20
2.1.2. Hiệu lực của hợp đồng ............................................................................................. 21

CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ
CŨNG NHƢ VẤN ĐỀ GIA NHẬP CISG CỦA VIỆT NAM ....................................................


3.1. Một số bất cập và phƣơng hƣớng hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về
hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ...........................................................................................
3.1.1. Về khái niệm và hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ..........................
3.1.1.1. Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ................................................
3.1.1.2. Hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế .................................................
3.1.2. Các vấn đề về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế .....................................
3.1.2.1. Đề nghị giao kết hợp đồng ...............................................................................
3.1.2.2. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng ..............................................................
3.1.3. Các quy định về thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng và thời hạn khiếu nại
trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế .....................................................................................
3.1.3.1. Thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng..................................................
3.1.3.2. Thởi hạn khiếu nại trong hợp đồng ..................................................................
3.1.4. Vấn đề trách nhiệm do vi phạm hợp đồng ..................................................................
3.2. Vấn đề gia nhập CISG của Việt Nam hiện nay ...............................................................
3.2.1. Những lợi ích của Việt Nam khi gia nhập CISG ........................................................
3.2.1.1. Đối với hệ thống pháp luật
3.2.1.2. Đối với các doanh nghiệp Việt Nam
3.2.2. Những bất cập của CISG mà Việt Nam cần lưu ý ......................................................
KẾT LUẬN ....................................................................................................................................
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


Đề tài: Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
LỜI MỞ ĐẦU
-----1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, có thể nói hội nhập quốc tế đã trở thành một xu thế lớn của thế giới


1

SVTH: Nguyễn Thị Thảo Nguyên


Đề tài: Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế còn tồn tại trên phương diện
pháp lý và thực tiễn áp dụng của pháp luật Việt Nam.
Với mục tiêu trên thì đề tài xác định được ba nhiệm vụ như sau: thứ nhất, nghiên
cứu một cách có hệ thống các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam và Công ước
Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Thứ hai, so sánh giữa quy định của
pháp luật Việt Nam với quy định của Công ước. Từ đó phát hiện được những điểm thiếu
sót và chưa rõ ràng của pháp luật Việt Nam về vấn đề này. Thứ ba, đề xuất phương hướng
hoàn thiện, góp phần thu hẹp dần khoảng cách khác biệt giữa pháp luật quốc gia với luật
quốc tế.
3. Phạm vi nghiên cứu
Nhằm tạo sự tập trung hơn trong việc thể hiện đề tài cũng như thuận lợi cho việc
nghiên cứu, người viết chỉ đề cập đến hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế dưới góc độ
quy định của Công ước Viên 1980 và pháp luật Việt Nam. Đầu tiên là tìm hiểu về hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế thông qua một số khái niệm cơ bản cũng như đặc điểm,
nguyên tắc và hình thức giao kết hợp đồng, nguồn luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế. Tiếp theo là tiến hành so sánh, phân tích các quy định của Công ước Viên
1980 và pháp luật Việt Nam về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, cụ thể là về một số
vấn đề cơ bản như hình thức và hiệu lực của hợp đồng, quyền và nghĩa vụ các bên trong
hợp đồng, thời điểm chuyển quyền sở hữu, thời điểm chuyển rủi ro và trách nhiệm do vi
phạm hợp đồng. Từ đó phát hiện được một số vấn đề còn bất cập, chưa hợp lý và đề xuất
phương hướng hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế cũng như vấn đề gia nhập Công ước Viên 1980 của Việt Nam.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu

3

SVTH: Nguyễn Thị Thảo Nguyên


Đề tài: Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm về hợp đồng
Có thể nói hợp đồng là một trong những phương tiện hữu hiệu để thực hiện các
giao lưu dân sự trong đời sống xã hội, ghi nhận sự thỏa thuận và có hiệu lực ràng buộc
các bên khi tham gia quan hệ hợp đồng. Nói các khác, hợp đồng là “luật” do các bên tự
hình thành nên và được nhà nước thừa nhận.
Xét về thực chất, hợp đồng là bất kỳ sự thỏa thuận nào giữa hai hay nhiều bên
được tòa án công nhận là một thỏa thuận nhằm tạo lập những trách nhiệm và nghĩa vụ bị
ràng buộc pháp lý giữa các bên.
Hiện nay, theo quy định của pháp luật Việt Nam, hợp đồng gồm có ba loại cơ bản
là hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế và hợp đồng lao động. Tuy nhiên, hầu hết các hợp
đồng đều mang bản chất dân sự, theo đó khái niệm hợp đồng theo nghĩa chung nhất là
“sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân
sự”.1 Định nghĩa này cho thấy, để tồn tại một hợp đồng thì phải có sự thỏa thuận giữa các
bên. Sự thỏa thuận đó được hình thành từ hai phía, theo đó một bên đưa ra đề nghị giao
kết hợp đồng và một bên đưa ra chấp nhận đề nghị giao kết đó. Đề nghị giao kết và chấp
nhận đề nghị giao kết được coi là điều kiện cần và đủ để hình thành nên một hợp đồng.
Ví dụ: Anh A và cửa hàng điện máy B có giao kết một hợp đồng mua bán chiếc
tivi hiệu Sony loại 32 inch. Trong hợp đồng có ghi rõ cửa hàng B có nghĩa vụ giao hàng
tại nơi A cư trú và nếu có thay đổi nơi cư trú, A phải thông báo cho B biết. Như vậy, A có
quyền nhận chiếc tivi theo đúng tiêu chuẩn, chất lượng như thỏa thuận trong hợp đồng và
có nghĩa vụ thanh toán đầy đủ số tiền cho B. B có nghĩa vụ giao hàng cho A đúng chất

thương nhân và thường hướng đến mục đích sinh lợi. Tương ứng với hai loại giao dịch
mua bán tài sản trên, chúng ta có hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế. Thông thường,
một hợp đồng được coi là hợp đồng kinh tế hay dân sự tùy theo chủ thể và mục đích theo
đuổi: hợp đồng mua bán là hợp đồng kinh tế nếu được ký kết giữa các công ty với nhau,
giữa công ty và tư nhân có đăng ký kinh doanh nhằm mục đích kinh doanh; hợp đồng là
dân sự nếu được ký kết giữa các cá nhân với nhau.3
Tuy nhiên trên thực tế, giữa hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế thường không có
ranh giới phân biệt rõ ràng. Ví dụ: Công ty kinh doanh xe A ký kết hợp đồng mua bán
một chiếc xe ô tô với công ty sản xuất xe ô tô B, đây là hợp đồng thương mại đối với cả
hai bên. Nếu công ty A này bán chiếc xe đó cho một tư nhân C mua để sử dụng thì hợp
đồng có tính chất thương mại đối với người bán là A và dân sự đối với người mua là C.
Sau đó, nếu C bán lại cho người khác là D để sử dụng thì khi đó hợp đồng có tính chất
dân sự đối với cả hai bên. Cũng có những trường hợp hợp đồng luôn luôn là dân sự, đó là
các hợp đồng vô thường (không đền bù) bởi vì mọi hoạt động thương mại đều theo đuổi
mục đích lợi nhuận.4
Mua bán hàng hóa là nội dung trọng tâm của hoạt động thương mại bởi theo Luật
Thương mại 2005 thì mua bán hàng hóa là “hoạt động thương mại, theo đó bên bán có
nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên
mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa
thuận”.5
Trong một nền kinh tế thị trường, quan hệ mua bán hàng hóa được xác lập và thực
hiện thông qua hình thức pháp lý là hợp đồng mua bán hàng hóa. Vì vậy, hợp đồng mua
2

Điều 428 Bộ luật Dân sự 2005.
Nguyễn Mạnh Bách, Các hợp đồng thương mại thông dụng, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội, 2007, tr.5.
4
Nguyễn Mạnh Bách, Các hợp đồng thương mại thông dụng, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội, 2007, tr.6.
5
Khoản 8 Điều 3 Luật Thương mại 2005.

Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (còn được gọi là hợp đồng mua bán ngoại
thương hay hợp đồng xuất nhập khẩu) là loại hợp đồng mua bán hàng hóa có tính chất
quốc tế (có yếu tố nước ngoài, có nhân tố nước ngoài).6 Tính chất quốc tế của hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế được hiểu không giống nhau tùy theo quan điểm của pháp luật
từng nước.
1.1.3.1. Quan điểm của các nước về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Theo trường phái Xô Viết và pháp luật của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về hoạt
động kinh tế đối ngoại thì “hợp đồng ngoại thương là tất cả những hợp đồng mà trong đó
một bên là công dân nước ngoài hoặc pháp nhân nước ngoài và nội dung của chúng là
những hoạt động kinh doanh gắn liền với việc xuất hoặc nhập khẩu hàng hóa”. Tư tưởng
này cũng được thể hiện trong điều kiện chung giao hàng của khối SEV (tên viết tắt của
6

Tại Điều 758 Bộ luật Dân sự 2005 có quy định về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài như sau:
“Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức,
cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là
công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài,
phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ dân sự đó ở nước ngoài”.

GVHD: ThS. Bùi Thị Mỹ Hƣơng

6

SVTH: Nguyễn Thị Thảo Nguyên


Đề tài: Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Hội đồng tương trợ kinh tế, nay đã giải thể). Còn theo quan điểm của các nước có nền
kinh tế thị trường phát triển thì dấu hiệu của yếu tố quốc tế là trụ sở của bên mua và bên
bán là ở các nước khác nhau, quốc tịch của các bên không phải là yếu tố phân biệt, cho dù

7

Diệp Ngọc Dũng – Cao Nhất Linh, Tập bài giảng Luật Tư pháp quốc tế, Khoa Luật – Trường Đại học Cần Thơ,
NXB Trường Đại học Cần Thơ, 2002, tr.91.

GVHD: ThS. Bùi Thị Mỹ Hƣơng

7

SVTH: Nguyễn Thị Thảo Nguyên


Đề tài: Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
1.1.3.2. Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo pháp luật Việt Nam
Từ khi Nhà nước Việt Nam được thành lập (năm 1945) đến nay thì hoạt động đối
ngoại, nhất là ngoại thương đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế.
Tuy nhiên vào giai đoạn mới thành lập Nhà nước, do còn nhiều khó khăn nên hoạt động
ngoại thương chưa được quan tâm. Đến khi đất nước dần ổn định, nền kinh tế bắt đầu
chuyển từ quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì
Nhà nước mới tập trung cho đối ngoại, đẩy mạnh hoạt động ngoại thương. Từ đó, hoạt
động mua bán hàng hóa quốc tế mới được chú trọng hơn, hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế cũng được biết đến trong nhiều văn bản với các tên gọi khác nhau như hợp đồng
mua bán ngoại thương, hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài, hợp
đồng xuất, nhập khẩu hàng hóa,...
Nhà nước ta ban hành quy chế pháp lý cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế với
sự quản lý của Nhà nước lần đầu tiên vào năm 1986 và đã sửa đổi, bổ sung qua nhiều thời
kỳ để phù hợp với tình hình phát triển kinh tế của xã hội. Trước thời điểm ban hành Luật
Thương mại 1997, khái niệm “hợp đồng mua bán ngoại thương” được ghi nhận trong
Quy chế tạm thời số 4794/TN-XNK về hướng dẫn việc ký kết hợp đồng mua bán ngoại
thương do Bộ Thương nghiệp (nay là Bộ Công Thương) ban hành ngày 31/7/1991 như

quốc tế song có thể dựa vào quy định tại điều 758 Bộ luật Dân sự 2005 về quan hệ dân sự
có yếu tố nước ngoài để nhận biết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Theo điều 758,
một quan hệ dân sự (bao gồm quan hệ thương mại) được xem là có yếu tố nước ngoài nếu
có một trong ba dấu hiệu sau:
Thứ nhất, có người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài hoặc người Việt Nam ở
nước ngoài tham gia. Người nước ngoài là người mang quốc tịch nước ngoài (không đồng
thời mang quốc tịch Việt Nam) và người không quốc tịch;
Thứ hai, khách thể của quan hệ đó ở nước ngoài. Ví dụ: Tài sản là đối tượng của
quan hệ đó nằm ở nước ngoài;
Thứ ba, sự kiện pháp lý là căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở
nước ngoài.8
Từ quy định trên có thể thấy rằng, một hợp đồng được coi là hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế khi có một trong ba yếu tố sau:
Một là, hàng hóa là đối tượng của hợp đồng đang tồn tại ở nước ngoài (kể cả
trường hợp các bên có cùng quốc tịch và hợp đồng được thực hiện ngay tại nước mình);
Hai là, hợp đồng được giao kết ở nước ngoài (nước mà các bên không mang quốc
tịch hoặc không cùng nơi cư trú hay không có trụ sở) và có thể được thực hiện ở nước
mình hay nước thứ ba;
Ba là, hợp đồng được giao kết và thực hiện bởi các bên không cùng quốc tịch hoặc
không cùng nơi cư trú (đối với cá nhân) hoặc không cùng nơi có trụ sở (đối với pháp
nhân).
Luật Thương mại 2005 không đưa ra tiêu chí để xác định tính chất quốc tế của hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà liệt kê các hình thức mua bán hàng hóa quốc tế như
sau: “Mua bán hàng hóa quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập
khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu”.9 Sau khi liệt kê như vậy thì
Luật Thương mại 2005 cũng đã quy định rõ thế nào là xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái
xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu tại các điều 28, 29 và 30. Với năm hình thức đã
nêu, có thể thấy Luật Thương mại 2005 đã sử dụng tiêu chí hàng hóa phải là động sản, có
8
9

quan trực tiếp tới cá nhân, đó là các điều kiện về nhân thân và các điều kiện về nghề
nghiệp của cá nhân.
Các điều kiện về nhân thân của cá nhân là điều kiện pháp lý gắn liền với một con
người cụ thể. Theo quy định của pháp luật hầu hết các nước trên thế giới, việc xem xét
điều kiện về nhân thân của một người để trở thành thương nhân không chỉ căn cứ vào
năng lực pháp luật và năng lực hành vi của người đó mà còn căn cứ vào những yêu cầu
khác. Ví dụ: ngoài việc có đầy đủ năng lực hành vi theo quy định của pháp luật, người
muốn trở thành chủ thể trong thương mại quốc tế còn phải tuân thủ các quy định khác của
pháp luật như không bị cơ quan có thẩm quyền tước quyền tham gia kinh doanh hoặc
không phải là người đang chấp hành án phạt tù,…
Về các điều kiện nghề nghiệp, theo quy định của pháp luật nhiều nước, đặc biệt là
các nước phương Tây thì những người đang làm một số nghề nhất định sẽ không được
tham gia hoạt động thương mại, trong đó có hoạt động thương mại quốc tế. Ví dụ: theo
Luật Thương mại của Cộng hòa Pháp thì những người làm các nghề như công chức, luật
sư, bác sĩ, công chứng viên, chấp hành viên,… không được tham gia vào các hoạt động
thương mại nói chung và thương mại quốc tế nói riêng với tư cách chủ thể. Theo quy định
của pháp luật Việt Nam, thương nhân là cá nhân phải là người hoạt động thương mại một
GVHD: ThS. Bùi Thị Mỹ Hƣơng

10

SVTH: Nguyễn Thị Thảo Nguyên


Đề tài: Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
cách độc lập, thường xuyên, có đăng ký kinh doanh và phải hoạt động thương mại trong
các ngành nghề, tại các địa bàn, dưới các hình thức và theo các phương thức mà pháp luật
không cấm (điều 6 Luật Thương mại).10
Nhìn chung, các quy định của nhà nước về các điều kiện để xác định tư cách chủ
thể của cá nhân trong quan hệ thương mại quốc tế chỉ được áp dụng cho công dân mang


Giáo trình Luật Thương mại quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2008, tr.18.
Điều 765 Bộ luật Dân sự 2005.

GVHD: ThS. Bùi Thị Mỹ Hƣơng

11

SVTH: Nguyễn Thị Thảo Nguyên


Đề tài: Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Trong một số trường hợp nhất định, quốc gia được xem là chủ thể đặc biệt của
quan hệ thương mại quốc tế. Thông thường, quốc gia tham gia vào quan hệ này với tư
cách chủ thể trong hai trường hợp: thứ nhất, ký kết hoặc gia nhập các điều ước quốc tế về
thương mại; thứ hai, tham gia giao dịch thương mại với các chủ thể khác như cá nhân hay
pháp nhân.
Nhằm đảm bảo nguyên tắc dựa trên sự bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau giữa các bên
khi tham gia giao kết hợp đồng thì về mặt pháp lý, các bên có quyền tự do thỏa thuận các
vấn đề liên quan đến hợp đồng mà quan trọng là quyền và nghĩa vụ các bên. Khi tham gia
vào quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế thì quốc gia, chủ thể đặc biệt của quan hệ này,
cũng sẽ có những quyền lợi và nghĩa vụ tương tự như các chủ thể khác của hoạt động
kinh doanh quốc tế. Tuy nhiên, do là chủ thể đặc biệt nên quốc gia cũng được hưởng quy
chế pháp lý đặc biệt – không những không ngang hàng với các cá nhân và pháp nhân mà
còn được hưởng quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đối. Nhưng để tạo môi trường pháp lý bình
đẳng và thúc đẩy phát triển kinh tế, một số quốc gia đã từ bỏ quyền này, thực hiện quyền
và nghĩa vụ như các chủ thể khác nhằm thu hút sự hợp tác từ nước ngoài.
Nhìn chung, tính quốc tế của các chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
căn cứ vào dấu hiệu quốc tịch, nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở thương mại trong từng
trường hợp cụ thể. Việc các bên có quốc tịch, có nơi cư trú hoặc có nơi đặt trụ sở thương

đổi, mua bán ngoại trừ một số loại hàng hóa nhất định mà thông thường theo cách quy
định trong pháp luật các nước, đó là nhóm hàng bị cấm xuất khẩu, nhập khẩu, các nhóm
hàng bị hạn chế xuất khẩu, nhập khẩu (được quản lý theo hạn ngạch (quota) hoặc phải đáp
ứng các yêu cầu kỹ thuật, điều kiện chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm,…).13
1.2.3. Đồng tiền thanh toán
Loại tiền tệ thường được dùng để thanh toán hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
là ngoại tệ đối với một bên hoặc cả hai bên giao kết hợp đồng. Thông thường, mỗi quốc
gia trên thế giới đều có đồng tiền riêng của nước mình (trừ Liên minh Châu Âu (EU) sử
dụng chung đồng Euro) nên trong hợp đồng thương mại quốc tế được ký kết giữa các chủ
thể của những quốc gia khác nhau, các bên thường thỏa thuận sử dụng đồng tiền có thể là
đồng tiền của một trong các bên hoặc không là đồng tiền của bên nào cả để thanh toán
hợp đồng. Có một điều lưu ý là trước khi thỏa thuận, các bên cần nghiên cứu kỹ sự biến
động về giá trị của đồng tiền thanh toán và thanh toán trong hợp đồng để tránh những
thiệt thòi có thể xảy ra.
Trên thực tế cho thấy, các bên thường sử dụng đồng USD và chọn tỷ giá cố định
(tỷ giá chết) để thanh toán hợp đồng. Tỷ giá cố định là tỷ giá quy đổi tại thời điểm giao
kết hợp đồng. Khác với tỷ giá quy đổi dạng mở, là tỷ giá quy đổi tại thời điểm thanh toán
hợp đồng, việc sử dụng tỷ giá cố định sẽ thuận lợi cho các bên vì tại thời điểm ký kết các
bên đã xác định được lợi nhuận mà mình đạt được. Còn tỷ giá mở có thể gây nguy cơ
thiệt hại cho một trong các bên khi tỷ giá thay đổi như tăng hoặc giảm. Tỷ giá tăng thì
người bán được lợi và người mua thiệt hại, còn khi tỷ giá giảm thì người bán thiệt hại và
người mua được lợi.
Ngoài việc sử dụng ngoại tệ để thanh toán hợp đồng thì hiện nay, việc thanh toán
không dùng tiền mặt (qua ngân hàng) đang dần phát triển và ngày càng hoàn thiện với sự
ra đời của đồng tiền ghi sổ (hay còn gọi là bút tệ). Đồng tiền ghi sổ được thể hiện dưới
hình thức “tiền điện tử”, là đồng tiền được ghi nhận và thực hiện bằng kỹ thuật vi tính, từ
tính, điện tính, điện tử. Theo đó, pháp luật cho phép thực hiện các giao dịch trao đổi vốn
mà không cần sự hỗ trợ của giấy tờ vật chất hiện hữu.

13

của thương mại quốc tế, PICC cũng đã được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp và mới nhất
hiện nay là bản PICC 2004 được các quốc gia trên thế giới quan tâm và áp dụng trong
lĩnh vực hợp đồng thương mại quốc tế nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
nói riêng. Theo Chương I của PICC 2004, việc giao kết hợp đồng phải tuân thủ các
nguyên tắc cơ bản sau:
Nguyên tắc tự do hợp đồng
Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất điều chỉnh quan hệ hợp đồng
thương mại quốc tế, là nền tảng cho tất cả các quy định pháp lý trong lĩnh vực hợp đồng
dựa trên cơ sở tôn trọng ý chí các bên, đó là được tự do thỏa thuận những điều mà họ
mong muốn. Theo điều 1.1 của PICC thì “các bên trong hợp đồng được tự do giao kết
hợp đồng và thỏa thuận nội dung của hợp đồng”. Điều đó có nghĩa là các bên trong hợp
đồng có quyền được tự do lựa chọn đối tác giao kết, tự do thỏa thuận và thống nhất nội
-

dung hợp đồng. Mọi sự tác động làm ảnh hưởng đến sự tự do ý chí của các bên như gian
lận, lừa dối, đe dọa, làm sai lệch thông tin,… đều có thể gây ảnh hưởng tới hiệu lực của
hợp đồng và thậm chí khiến cho hợp đồng bị vô hiệu. Tuy nhiên, nguyên tắc này vẫn bị
giới hạn ở chỗ các bên có quyền tự do trong hợp đồng nhưng sự tự do đó không được
GVHD: ThS. Bùi Thị Mỹ Hƣơng

14

SVTH: Nguyễn Thị Thảo Nguyên


Đề tài: Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
vượt ra khỏi khuôn khổ của pháp luật, mọi điều khoản mà các bên giao kết không được
trái với quy định của luật điều chỉnh cho hơp đồng.
- Nguyên tắc không bắt buộc về hình thức của hợp đồng
Tương tự như CISG, PICC 2004 cũng không đưa ra các yêu cầu về hình thức của

Giáo trình Luật Thương mại quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2008, tr. 217.

GVHD: ThS. Bùi Thị Mỹ Hƣơng

15

SVTH: Nguyễn Thị Thảo Nguyên


Đề tài: Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
1.3.2. Hình thức giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Hình thức giao kết hợp đồng là yếu tố luôn được các bên chủ thể tham gia vào
quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế quan tâm vì khi hình thức giao kết được xác định cụ
thể sẽ hỗ trợ về mặt căn cứ cho việc giải quyết tranh chấp phát sinh trở nên hiệu quả hơn.
Thực tiễn hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế cho thấy hiện nay, hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế được ký kết chủ yếu bằng hai hình thức đó là ký kết hợp đồng giữa các
bên có mặt và ký kết hợp đồng giữa các bên vắng mặt.
1.3.2.1. Đàm phán trực tiếp giữa các bên
Cũng như mọi hợp đồng nói chung, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể
được ký kết thông qua hình thức đàm phán trực tiếp giữa các bên. Trong nhiều trường
hợp, các bên gặp nhau để tiến hành đàm phán, sự đàm phán này được khởi xướng bằng
việc chào hàng của một trong các bên. Trong quá trình đàm phán, các bên sẽ thỏa thuận,
thống nhất từng điều khoản của hợp đồng và khi điều khoản cuối cùng được thống nhất
thì các bên có thể ký trực tiếp vào hợp đồng. Trong trường hợp này rất khó để xác định
đâu là chào hàng và đâu là chấp nhận chào hàng.
Giao kết hợp đồng thông qua hình thức đàm phán trực tiếp giữa các bên sẽ giúp
cho các bên tham gia ký kết có điều kiện để bàn bạc, thống nhất kỹ lưỡng từng điều khoản
của nội dung hợp đồng, đồng thời tránh được những sai sót có thể xảy ra. Đàm phán trực
tiếp được tiến hành trên cơ sở các bên đưa ra những đề nghị cho nhau. Mỗi bên sẽ đưa ra
những yêu cầu nhất định, đồng thời có sự nhượng bộ phù hợp với các điều kiện của hợp

của mình nếu có sự chấp nhận đề nghị đó.15 Một chào hàng chỉ có thể được coi là hợp
pháp làm phát sinh quan hệ hợp đồng khi nội dung của nó đảm bảo được tính rõ ràng, tức
là đã xác định rõ hàng hóa, số lượng và giá cả của hàng hóa, đồng thời đề nghị này phải
được gửi cho một hoặc nhiều người được xác định. 16 Như vậy, nếu một đề nghị được gửi
cho một hoặc nhiều người không xác định thì chỉ được coi là một lời mời làm chào
hàng.17
Chấp nhận chào hàng là sự thể hiện ý chí đồng ý của người được chào hàng với
những đề nghị của người chào hàng. Về mặt pháp lý, một sự chấp nhận chỉ có giá trị làm
phát sinh quan hệ hợp đồng khi người chào hàng nhận biết được sự chấp nhận của người
được chào hàng. Theo quy định của Công ước Viên 1980 thì sự chấp nhận chào hàng của
người được chào hàng chỉ có giá trị pháp lý khi nó được thể hiện bằng lời tuyên bố hoặc
bằng hành vi, biểu thị sự đồng ý của mình đối với nội dung của chào hàng. Như vậy, theo
quy định của Công ước thì sự im lặng hoặc không hành động của người được chào hàng
sẽ không mặc nhiên được hiểu là chấp nhận.18
1.4. Nguồn luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Theo nguyên tắc chung về tư pháp quốc tế trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc
tế thì các bên trong hợp đồng có quyền được tự do thỏa thuận về việc chọn luật áp dụng
để điều chỉnh quan hệ hợp đồng. Nguồn luật điều chỉnh này có thể là điều ước quốc tế,
pháp luật quốc gia hay tập quán thương mại quốc tế.
1.4.1. Điều ước quốc tế
Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu, hợp tác phát triển kinh tế, các
quốc gia trên thế giới đã hướng đến xây dựng một hệ thống pháp luật chung về lĩnh vực
thương mại quốc tế. Nhiều quốc gia đã cùng nhau tiến hành thỏa thuận và ký kết nhiều
điều ước quốc tế quy định những nội dung điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh

15

Giáo trình Luật Thương mại quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2008, tr. 244.
Khoản 1 điều 14 Công ước Viên 1980.
17

loại sau:
+ Điều ước quốc tế song phương (hay còn gọi là điều ước quốc tế tay đôi), là loại
điều ước quốc tế do hai bên chủ thể trong quan hệ quốc tế ký kết với nhau nhằm mục đích
xác lập mối quan hệ pháp lý giữa các bên. Vì vậy, các quy định trong điều ước quốc tế
-

song phương chỉ điều chỉnh các quan hệ pháp lý giữa hai bên ký kết. Thông thường, nội
dung của loại điều ước quốc tế này đề cập đến từng lĩnh vực nhất định trong thương mại
quốc tế;
+ Điều ước quốc tế đa phương (hay còn gọi là điều ước quốc tế nhiều bên), là loại
điều ước quốc tế có ít nhất ba chủ thể tham gia trong việc xác lập mối quan hệ pháp lý.
Tương tự như điều ước quốc tế song phương, điều ước quốc tế đa phương cũng đề cập
đến từng lĩnh vực nhất định trong thương mại quốc tế. Các quy định của loại điều ước
quốc tế này sẽ có giá trị bắt buộc đối với tất cả các thành viên tham gia điều ước.
Khi nói đến điều ước quốc tế, một trong những vấn đề vô cùng quan trọng được
đặt ra đó là trong trường hợp nào thì điều ước quốc tế sẽ được áp dụng. Theo nguyên tắc
chung, điều ước quốc tế được áp dụng trong hai trường hợp sau:
- Trường hợp thứ nhất, các chủ thể trong hợp đồng có quốc tịch hoặc có nơi cư trú ở
các quốc gia là các nước thành viên của điều ước quốc tế thì sẽ ưu tiên áp dụng quy định
của điều ước quốc tế đó, kể cả trong trường hợp pháp luật quốc gia của chủ thể trong hợp
GVHD: ThS. Bùi Thị Mỹ Hƣơng

18

SVTH: Nguyễn Thị Thảo Nguyên


Đề tài: Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
đồng có những quy định khác với quy định của điều ước quốc tế mà quốc gia đó là thành
viên;

gồm cả tự do thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng. Theo đó, các bên có thể chọn luật
19

Điểm b khoản 1 điều 1 Công ước Viên 1980.

GVHD: ThS. Bùi Thị Mỹ Hƣơng

19

SVTH: Nguyễn Thị Thảo Nguyên


Đề tài: Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
trong nước của mỗi bên. Tuy nhiên, đây là một vấn đề không hề đơn giản. Mỗi quốc gia
đều có hệ thống pháp luật riêng nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích của đất nước
mình và hơn ai hết, mỗi bên đều hiểu rõ pháp luật của nước mình. Vì vậy, nếu chọn áp
dụng luật của nước người bán thì sẽ khó bảo vệ được quyền lợi của người mua và ngược
lại. Trên thực tế, do xuất phát từ tâm lý chung là muốn tự bảo vệ quyền lợi của chính
mình nên việc thỏa thuận chọn luật trong nước của mỗi bên thường gặp nhiều khó khăn
và để đi đến thống nhất, trong quá trình đàm phán, các bên phải nhân nhượng và thuyết
phục lẫn nhau. Tuy nhiên, việc đàm phán để thống nhất chọn luật áp dụng là luật trong
nước của một trong các bên thường không thành công. Để đảm bảo bình đẳng, có thể các
bên sẽ chọn áp dụng pháp luật của nước thứ ba, tức là pháp luật của nước có liên quan
đến việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của các bên như luật nơi ký kết hợp
đồng, luật nơi thực hiện hợp đồng, luật nơi có tài sản liên quan đến hợp đồng,… Nhưng
giải pháp này có nhược điểm là nếu không tìm hiểu kỹ nội dung pháp luật của nước thứ
ba thì hậu quả có thể không phù hợp với mong muốn của một trong các bên hoặc cả hai
bên.
Nói chung, các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đều có quyền tự do
thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng là luật của một trong các bên hoặc luật của nước thứ ba.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status