đề tài quy định của pháp luật về thanh tra thuế - Pdf 30

Quy định của pháp luật về thanh tra thuế
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA LUẬT
***

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA : 2011 - 2015

ĐỀ TÀI

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ
THANH TRA THUẾ

Giáo viên hướng dẫn:
CN: NGỤY NGỌC ANH
Bộ môn: Luật Thương Mại

Sinh viên thực hiện:
NGUYỄN THỊ THANH THOẢNG
MSSV: 5115757
Lớp: Luật Tư Pháp 1 Khóa 37

Cần Thơ, 8/2014

GVHD:NGỤY NGỌC ANH

NGUYỄN THỊ THANH THOẢNG


Quy định của pháp luật về thanh tra thuế

…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………

GVHD:NGỤY NGỌC ANH

NGUYỄN THỊ THANH THOẢNG


Quy định của pháp luật về thanh tra thuế
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………


Đối tượng nộp thuế

DN

Doanh nghiệp

NSNN

Ngân sách Nhà nước

CBTT

Cán bộ thanh tra

TNCN

Thu nhập cá nhân

GTGT

Giá trị gia tăng

HMRC

Cơ quan Ngân sách và Hải quan Anh

CRA

Cơ quan Thuế vụ Canada

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THANH TRA THUẾ ...................................21
2.1 Tổ chức bộ máy Thanh tra thuế ...................................................................21
2.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thanh tra thuế........................................23
2.2.1 Thanh tra Tổng cục thuế .............................................................................................23
2.2.2 Phòng thanh tra thuế thuộc Cục thuế ........................................................................ 25
2.2.3 Đội thanh tra thuộc Chi Cục thuế............................................................................... 28
2.5 Các trường hợp phải Thanh tra thuế ............................................................30
2.5.1 Đối với doanh nghiệp có ngành nghề kinh doanh đa dạng, phạm vi kinh doanh
rộng........................................................................................................................................ 30
2.5.2 Khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế................................................................31
2.5.3 Để giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc theo yêu cầu của Thủ trưởng cơ quan quản lý
thuế các cấp hoặc Bộ trưởng Bộ Tài chính......................................................................... 33
2.5.4 Chia tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, phá sản, cổ phần hoá doanh nghiệp ......... 34
2.6 Nguyên tắc hoạt động của Thanh tra thuế ...................................................36
2.6.1 Nguyên tắc tuân theo pháp luật ................................................................................. 37
GVHD:NGỤY NGỌC ANH

NGUYỄN THỊ THANH THOẢNG


Quy định của pháp luật về thanh tra thuế
2.6.2 Nguyên tắc bảo đảm chính xác, khách quan, trung thực......................................... 37
2.6.3 Nguyên tắc bảo đảm tính công khai, dân chủ, kịp thời........................................... 38
2.6.4 Nguyên tắc hiệu quả................................................................................................... 38
2.6.5 Nguyên tắc đúng quy trình......................................................................................... 38
2.6.6 Nguyên tắc đảm bảo tính không trùng lắp và không làm cản trở hoạt động bình
thường của người nộp thuế .................................................................................................. 39
2.7 Phương pháp Thanh tra thuế ........................................................................39
2.7.1 Phương pháp đối chiếu, so sánh ................................................................................ 39
2.7.2 Phương pháp kiểm tra từ tổng hợp đến chi tiết ........................................................ 40


NGUYỄN THỊ THANH THOẢNG


Quy định của pháp luật về thanh tra thuế

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Để duy trì tồn tại đồng thời với việc thực hiện chức năng của mình, Nhà nước
cần có nguồn vật chất xã hội. Bằng quyền lực chính trị, Nhà nước thu một bộ phận của
cải xã hội để có được nguồn vật chất đó. Quan hệ thu nộp những nguồn vật chất này
chính là thuế. Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, nói một cách khác
nếu không có thuế thì Nhà nước không có điều kiện vật chất để tồn tại và phát triển.
Hệ thống và chính sách thuế của từng giai đoạn còn phải phù hợp với tổ chức thực
hiện thì mới phát huy được hết hiệu quả. Để làm tốt điều này ngoài việc tăng cường
quản lý còn phải tập trung chú trọng đến công tác thanh tra. Đây là nhiệm vụ quan
trọng không thể thiếu trong công tác thuế. Tuy nhiên, tình trạng vi phạm các chính
sách, chế độ, luật thuế như khai man, trốn lậu thuế, chậm nộp thuế vẫn diễn ra thường
xuyên và ngày càng tinh vi.
Thanh tra là một trong những chức năng thiết yếu của quản lý thuế, tính hiệu
quả của thanh tra thuế có ảnh hưởng chi phối đến hiệu quả của quản lý thuế , thanh tra
thuế trong thời gian qua không chỉ có những đóng góp đáng kể vào chống thất thu thuế
mà còn nhằm đảm bảo công bằng, động viên đối với các chủ thể kinh tế phát huy
nguồn lực của mình đẩy mạnh sản xuất, nâng cao năng suất lao động, chỉ ra rằng các
hành vi gian lận, trốn lậu thuế sẽ bị phát hiên ( thể hiện tính hiệu quả của thanh tra
thuế ) và những hậu quả do trốn lậu thuế đem lại ( xử lý kết quả sau thanh tra thuế ).
Bên cạnh đó, công tác thanh tra thuế cũng có những hạn chế, nội dung và quy
trình thanh tra cũng còn nhiều bất cập…không đáp ứng được những yêu cầu của công
tác thanh tra thuế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Chính vì vậy, việc nghiên
cứu đề tài “ Quy định của pháp luật về thanh tra thuế” có ý nghĩa thực tiễn thiết thực.

GVHD:NGỤY NGỌC ANH

2

NGUYỄN THỊ THANH THOẢNG


Quy định của pháp luật về thanh tra thuế

CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THANH TRA THUẾ
1.1 Khái quát chung về thuế
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống thuế Việt nam
Nước ta, dù đã hình thành từ rất lâu nhưng cho đến tận thuế kỷ XI, đời vua Trần
Thái Tông (1225 –1237) thì việc đánh thuế mới được hình thành một cách có tổ
chức quy cũ và có hệ thống.
 Thời phong kiến (từ thời nhà Trần) đến nửa cuối thế kỷ IX.
Vào thời nhà Trần, sử sách ghi nhận có 2 loại thuế chính được áp dụng: thuế thân
và thuế điền.
 Thuế thân: phụ thuộc vào diện tích ruộng. Ai có một hai mẫu ruộng thì phải đóng
một năm một quan tiền; ai có bốn mẫu, thì đóng hai quan; ai có năm mẫu trở lên thì
đóng ba quan. Ai không có mẫu nào thì không phải đóng thuế.
 Thuế điền (thuế ruộng): Đóng bằng thóc. Một mẫu ruộng tư thì chủ điền phải đóng
100 thăng thóc. Còn ruộng công thì: đối với ruộng quốc khố: hạng nhất mỗi mẫu
đánh thuế 6 thạch (80 thăng), hạng nhì mỗi mẫu 4 thạch; hạng ba mỗi mẫu 3 thạch;
đối với thác điền (ruộng thưởng cho quan lại có công): hạng nhất mỗi mẫu đánh
thuế 1 thạch thóc; hạng nhì 3 mẫu lấy 1 thạch; hạng ba 4 mẫu lấy 1 thạch. Với
ruộng ao thì mỗi mẫu lấy 3 thăng thóc thuế. Ruộng muối thì phải đóng bằng tiền.
Việc đóng thuế kể từ lúc đó đã thành lệ và hầu như không có gì thay đổi đáng kể
vào thời nhà Hồ, nhà Lê, ngoài việc quy định lại ngạch thuế, đặt thêm thuế đất bãi

nhiều trường hợp lại do các bậc vua chúa toàn quyền quyết định không phải dựa trên
các suy nghĩ chính chắn mà xuất phát từ ý thích hoặc tính khí thay đổi rất thất thường
của mình. Bên cạnh chế độ trung ương tập quyền rất gò bó, lịch sử còn ghi nhận tình
trạng “Phép vua thua lệ làng” đã hình thành từ rất lâu ở các địa phương mà hậu quả tất
yếu là đẻ ra một chế độ thuế hà khắc, một tầng lớp quan lại nhũng nhiễu cho nhân dân
trong hàng ngàn năm qua. Kết cục bi thảm nhưng đầy lô gích đã xảy ra như là một tất
yếu lịch sử không thể đảo ngược: chế độ phong kiến suy tàn vào cuối thế kỷ XIX, để
lại một đất nước kém mở mang rơi vào sự thống trị của chủ nghĩa thực dân Pháp.
 Thời Pháp thuộc
Cơ chế tài chính do Pháp thiết lập ở Đông Dương đầu thế kỷ XX không nằm ngoài
mục đích bao trùm là vơ vét của cải của thuộc địa. Dưới thời Pháp thuộc, thuế được
huy động vào hệ thống ngân sách thuộc địa gồm nhiều tầng nấc, nhưng chúng lại
không được chuyển về chính quốc, theo đúng mục tiêu của chủ nghĩa thực dân. Hệ
thống ngân sách của nhà nước thuộc địa bao gồm:
 Ngân sách Đông Dương và các ngân sách phụ thuộc của nó là: ngân sách đặc biệt
về tiền vay nợ và ngân sách riêng của sở hỏa xa.
 Ngân sách các xứ bên trong liên bang: Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ, Cao miên, Ai
lao và Quảng Châu Văn (một vùng đất Trung Quốc dưới quyền ủy trị của Pháp
trong 99 năm).
 Ngân sách các tỉnh và thành phố.
 Ngân sách xã ở các làng.
Trên thực tế, một hệ thống ngân sách như vậy đã thể hiện như một hệ thống cực kỳ
phản động, mang tính chất bóc lột và vơ vét. Nhưng chính nó đã tạo tiền đề quan trọng
GVHD:NGỤY NGỌC ANH

4

NGUYỄN THỊ THANH THOẢNG



kể: từ một hệ thống thuế suất tương đối ít chuyển sang một hệ thống và nhiều hình
thức thuế khác nhau, áp dụng trên nhiều khâu của quá trình sản xuất, lưu thông hàng
hóa, sử dụng nhiều loại thuế suất khác nhau (cả thuế suất tỷ lệ, thuế suất lũy tiến lẫn
thuế suất cố định) có sự phân biệt giữa các ngành nghề sản xuất, kinh doanh, phân biệt
kinh tế tập thể và tư nhân và nhiều biện pháp ưu đãi khác nhau.
GVHD:NGỤY NGỌC ANH

5

NGUYỄN THỊ THANH THOẢNG


Quy định của pháp luật về thanh tra thuế
Trong thời kỳ thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, nhà nước đã áp dụng thí điểm
chế độ thu mới gọi là thu quốc doanh. Mức thu quốc doanh được xác định riêng cho
từng mặt hàng tuỳ theo giá cả nhà nước quy định và chỉ thu ở khâu sản xuất. Năm
1962, nhà nước còn ban hành chế độ trích nộp và sử dụng lợi nhuận của các xí nghiệp.
Theo chế độ này, lợi nhuận của các xí nghiệp quốc doanh phải trích nộp một phần vào
Ngân sách Nhà nước ; phần lợi nhuận còn lại, xí nghiệp được dùng để lập quỹ xí
nghiệp, bổ sung kinh phí chuyên dùng, đầu tư một phần vào việc kiến thiết cơ bản mở
rộng của xí nghiệp và bổ sung vốn lưu động. Các xí nghiệp công tư hợp doanh trong
thời kỳ này được chuyển sang làm nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước như các xí
nghiệp quốc doanh, có nghĩa là phải nộp thu quốc doanh và lợi nhuận chứ không phải
nộp thuế như trước. Chế độ thuế này được duy trì ở miền Bắc cho đến ngày giải phóng
miền Nam, thống nhất đất nước.
 Giai đoạn từ năm 1990 đến nay
Từ giữa những năm 80, cùng với công cuộc đổi mới và mở cửa nền kinh tế, hệ
thống thuế Việt Nam đã được nghiên cứu và đến năm 1990 một hệ thống thuế mới
được hình thành bao gồm hệ thống chính sách thuế và hệ thống quản lý thuế. Giai
đoạn này được đặc trưng bởi sự hình thành một hệ thống thuế hoàn chỉnh nhất từ trước

1. Chính sách thuế được cải cách và đổi mới trong khi các cơ chế kinh tế khác
chậm đổi mới, chưa thích ứng kịp thời làm giảm hiệu quả của chính sách mới ban
hành.
2. Việc hướng dẫn luật thuế do máy móc, thiếu thực tế nên có trường hợp
chồng chéo, không rõ ràng làm cho người chấp hành gặp khó khăn, hoặc làm cho thuế
có các tác động trái ngược nhau đến hoạt động kinh tế.
3. Nhiều khi công cụ thuế sử dụng được một cách tuỳ tiện, thiếu cân nhắc kết
hợp với các chính sách đầu tư, thương mại…không đúng đắn đã làm cho môi trường
kinh doanh trở nên thiếu lành mạnh.
4. Sử dụng công cụ thuế phục vụ quá nhiều các chính sách xã hội làm mất tính
trung lập của thuế.
5. Tính khả thi, tính hợp lý của một luật thuế còn hạn chế nên xét trên giác độ
từng sắc thuế thì dẫn đến sau thời gian thực hiện phải sửa đổi, bổ sung.
6. Hệ thống chính sách thuế còn chưa phù hợp với thông lệ quốc tế và chưa
đảm bảo được tính tương thích với các nền kinh tế thị trường khác trong khu vực.
7. Trong thời gian qua các sắc thuế vẫn chưa đạt được mục tiêu đơn giản, rõ
ràng.

1

1.1.2 Khái niệm về thuế
Sự xuất hiện Nhà nước đòi hỏi cần phải có của cải vật chất cần thiết chi cho hoạt
động thường xuyên của bộ máy Nhà nước nhằm đảm bảo cho Nhà nước tồn tại, duy trì
quyền lực và thực hiện chức năng quản lý xã hội của mình. Trong điều kiện có các giai
cấp, tồn tại chế độ tư hữu cùng với phạm vi hoạt động của Nhà nước ngày càng mở
rộng thì chế độ đóng góp theo phương thức tự nguyện của dân cư trong chế độ cộng
sản nguyên thủy không còn phù hợp nữa. Ðể có được lượng của cải cần thiết, Nhà
nước đã sử dụng quyền lực của mình ban hành pháp luật, ấn định bắt buộc các thể
nhân và pháp nhân phải đóng góp cho Nhà nước một phần của cải mà họ làm ra và
1

cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và hoạt động của bộ máy Nhà
nước, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thuế, đổi lại, nghĩa vụ của đối tượng
nộp thuế được thực hiện lại góp phần phát triển kinh tế thị trường và thúc đẩy sự phát
triển của Đất nước sau này.
1.1.3 Đặc điểm của thuế
- Thuế là khoản thu mang tính bắt buộc. Tính bắt buộc thể hiện ở chỗ, đối với
người nộp thuế, đây là nghĩa vụ chuyển giao tài sản của họ cho Nhà nước khi có đủ
điều kiện mà không phải là quan hệ thanh toán dù trong hợp đồng hoặc ngoài hợp
đồng. Đối với cơ quan thu thuế, khi thay mặt Nhà nước thực hiện các hành vi nhất
định cũng không được phép lựa chọn thực hiện hay không thực hiện hành vi thu thuế,
có sự phân biệt đối xử với người nộp thuế. Đặc tính bắt buộc của thuế là một trong
những dấu hiệu quan trọng để phân biệt thuế với các khoản thu trên cơ sở tự nguyện
hình thành nên ngân sách nhà nước. Điều này có ý nghĩa pháp lý quan trọng khi ban
2

Lý thuyết về thuế, Kiến thức cơ bản về thuế (phần 1), [ngày truy cập 21-8-2014].
3
Các Mác, Ăng ghen tuyển tập (Tập 2), Nxb Sự thật, Hà Nội, 1961.
4
Đại từ điển kinh tế thị trường, Viện nghiên cứu và phổ biến tri thức bách khoa, 1998, tr.669.
5
Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật thuế Việt Nam, Nxb Tư pháp, 2007, tr. 9.

GVHD:NGỤY NGỌC ANH

8

NGUYỄN THỊ THANH THOẢNG



tính bắt buộc của phí và lệ phí gắn trực tiếp với việc khai thác và hưởng thụ lợi ích từ
những dịch vụ công cộng nhất định do nhà nước cung cấp mà theo quy định của pháp
luật có thu phí hoặc lệ phí. 9 Các khoản thu nộp từ thuế sử dụng chủ yếu là để tạo ra
những sản phẩm công nhằm phục vụ cho lợi ích công cộng. Vậy được hiểu vì sao thuế

6
7
8
9

Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật thuế Việt Nam, Nxb Tư pháp, 2007, tr. 11.
Hiến pháp năm 2013, Điều 47.
Hiến pháp năm 2013, Điều 70, khoản 4.
Lê Thị Nguyệt Châu, Giáo trình Luật thuế , 2009, tr. 7.

GVHD:NGỤY NGỌC ANH

9

NGUYỄN THỊ THANH THOẢNG


Quy định của pháp luật về thanh tra thuế
là khoản thu không có tính hoàn trả và những lợi ích đó không thể xác định chính xác
được theo giá trị vật chất.
1.1.4 Vai trò của thuế
Vai trò của thuế là sự biểu hiện cụ thể các chức năng của thuế trong những điều
kiện kinh tế, xã hội nhất định. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, với sự thay đổi
phương thức can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh tế, thuế đóng vai trò hết sức
quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội.

10

NGUYỄN THỊ THANH THOẢNG


Quy định của pháp luật về thanh tra thuế
tiến là loại thuế có tác dụng rất lớn trong vấn đề điều tiết thu nhập, đảm bảo công bằng
xã hội.
 Thuế là công cụ để thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất, kinh
doanh
Vai trò này được xuất hiện trong quá trình tổ chức thực hiện các luật thuế trong
thực tế. Để đảm bảo thu được thuế và thực hiện đúng các quy định của các luật thuế đã
ban hành, cơ quan thuế và các cơ quan liên quan phải bằng mọi biện pháp nắm vững
số lượng, quy mô các cơ sở sản xuất, kinh doanh, ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh,
mặt hàng họ được phép kinh doanh cũng như các định mức chi tiêu đặc thù và các
phương thức hạch toán riêng có. Từ công tác thu thuế mà cơ quan thuế sẽ phát hiện ra
những khó khăn mà họ gặp phải để giúp đỡ họ tìm mọi biện pháp tháo gỡ. Đồng thời,
cũng qua công tác thu thuế, cơ quan thuế cập nhật được nhiều kiến thức quản lý kinh
tế để phục vụ tốt hơn cho việc kiểm tra, kiểm soát sau này. Như vậy, qua công tác
quản lý thu thuế mà có thể kết hợp kiểm tra, kiểm soát toàn diện các mặt hoạt động
của các cơ sở kinh tế, đảm bảo thực hiện tốt quản lý Nhà nước về mọi mặt của đời
sống kinh tế - xã hội.
 Thuế góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển
Thuế trong cơ chế thị trường không chỉ đóng vai trò là nguồn thu chủ yếu của
ngân sách nhà nước, mà còn là một công cụ làm đòn bẩy để thúc đẩy sản xuất, kinh
doanh phát triển. Theo quan điểm công bằng, bất kỳ một tổ chức, cá nhân khi đã thực
hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế của mình với đất nước, họ được quyền thụ hưởng và
cung ứng những lợi ích công cộng nhất định và được tạo thuận lợi nhất cho hoạt động
sản xuất, kinh doanh của mình.10 Bên cạnh đó, phụ thuộc vào chủ trương kinh tế đất
nước, mà nhà nước có thể dùng thuế để tác động, tạo thuận lợi hơn cho hoạt động kinh

nhân trong xã hội nhưng hay gây ra sự phản ứng của người chịu thuế vì họ “trực tiếp”
thấy được sự “mất mát” thu nhập, tài sản của họ khi nộp thuế. Cảm nhận này sẽ mạnh
hơn khi nhà nước sử dụng tiền thuế mà người dân đã đóng không đúng mục đích, nạn
tham nhũng quá nhiều và những phúc lợi xã hội mà người đóng thuế nhận được là quá
ít. Thông thường vì phản ứng tâm lý này mà thuế trực thu thường khó thu, cơ chế quản
lý phức tạp, tốn kém và người đóng thuế thường tìm cách tránh hoặc trốn thuế.11 Hơn
nữa, việc theo dõi, tính toán và thu thuế phức tạp, đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân với
diện thu thuế rộng và phân tán. Vì vậy, nếu không có biện pháp quản lý thu thuế hiệu
quả thì dễ dẫn đến hạn chế tác dụng của loại thuế này trong việc tập trung số thu đầy
đủ, kịp thời về cho ngân sách nhà nước. Ví dụ ở nước ta thuộc loại thuế này gồm: thuế
thu nhập doanh nghiệp, thuế lợi tức, thuế thu nhập dân cư…
- Thuế gián thu là do các nhà sản xuất, thương nhân hoặc người cung cấp dịch vụ
nộp cho Nhà nước thông qua việc cộng số thuế này vào giá bán cho người tiêu dùng
chịu. Ví dụ như: thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc
biệt… Khác với thuế trực thu, người nộp thuế chính là người phải chịu thuế, với thuế
gián thu, người nộp thuế và người chịu thuế (người trả thuế) không đồng nhất. Do điều
tiết một cách gián tiếp vào thu nhập của người tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ thông qua
cơ chế giá nên với thuế gián thu, người chịu thuế (người tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ)
ít có cảm giác bị Nhà nước đánh thuế. Vì vậy, loại thuế này cũng ít gây ra những phản
ứng từ phía người chịu thuế mỗi khi Chính phủ có chủ trương tăng thuế. Ưu điểm nổi
bật của thuế gián thu là nó có khả năng đáp ứng nguồn thu kịp thời, ổn định cho ngân
sách nhà nước. Tuy nhiên, thuế gián thu cũng có những hạn chế nhất định, đó là: do
thuế gián thu được tính trên giá cả hàng hoá, dịch vụ, không tính tới điều kiện, hoàn
cảnh của đối tượng chịu thuế, vì vậy, không đảm bảo được sự công bằng xã hội, thậm
chí còn mang tính luỹ thoái. Có nghĩa là, bất kể người tiêu dùng là người giàu hay
11

Lê Thị Nguyệt Châu, Giáo trình Luật thuế, 2009, tr. 9.

GVHD:NGỤY NGỌC ANH

Thanh tra (tiếng Anh là Inspest) xuất phát từ nguồn gốc La tinh (Inspectare) có
nghĩa là “nhìn vào bên trong” , chỉ một sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài đối với hoạt
động của một số đối tượng nhất định. Theo tự điển Pháp luật Anh-Việt, thanh tra “là
sự kiểm soát, kiểm kê đối với đối tượng bị thanh tra”. Từ điển Luật học (tiếng Đức)
giải thích thanh tra “là sự tác động của chủ thể đến đối tượng đã và đang thực hiện
thẩm quyền được giao nhằm đạt được mục đích nhất định–sự tác động có tính trực
thuộc”. Theo tự điển tiếng Việt “thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của
địa phương, cơ quan, xí nghiệp”. Với nghĩa này, Thanh tra bao hàm nghĩa kiểm soát
nhằm: “xem xét và phát hiện ngăn chặn những gì trái với quy định”. Thanh tra thường
12

Kế toán Việt, Phân loại thuế, , [truy cập ngày 21-8-2014].

13

Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật tài chính Việt Nam, Nxb công an nhân dân, 2009, tr. 90.

GVHD:NGỤY NGỌC ANH

13

NGUYỄN THỊ THANH THOẢNG


Quy định của pháp luật về thanh tra thuế
đi kèm với một chủ thể nhất định: “Người làm nhiệm vụ thanh tra” “đoàn thanh tra
của Bộ” và “đặt trong phạm vi quyền hành của một chủ thể nhất định”.14
Theo Luật Thanh tra năm 2010, quy định về tổ chức, hoạt động thanh tra Nhà
nước và thanh tra nhân dân, Thanh tra Nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý
theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối

Luật Thanh tra năm 2010, điều 3, khoản 3.
16
Nguyễn Thị Liên, Giáo trình nghiệp vụ thuế, Nxb tài chính, 2008, tr. 217.
17
Nguyễn Xuân Thành, Nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra người nộp thuế ở Việt nam giai đoạn hiện nay,
2013, tr.21.

GVHD:NGỤY NGỌC ANH

14

NGUYỄN THỊ THANH THOẢNG


Quy định của pháp luật về thanh tra thuế
1.2.2 Đặc điểm của thanh tra thuế
Thứ nhất, thanh tra thuế có phạm vi rộng . Hoạt động thanh tra thuế được tiến
hành đối với mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân hoạt động trong phạm vi điều chỉnh của
các luật thuế, chịu sự quản lý Nhà nước trong lĩnh vực thuế, đối tượng nộp thuế bao
gồm mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân trong xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của các
luật thuế.
Thứ hai, thanh tra thuế là công tác rất khó khăn, phức tạp vì nó đụng chạm trực
tiếp đến lợi ích kinh tế của đối tượng nộp thuế. Để che giấu các hành vi trốn thuế nhằm
bảo vệ các lợi ích vật chất của mình, các đối tượng nộp thuế thường tìm mọi biện pháp
cản trở, gây khó khăn cho công tác thanh tra của cơ quan thuế.
Thứ ba, thanh tra thuế là công việc đòi hỏi rất cao về năng lực chuyên môn và
phẩm chất đạo đức của người cán bộ làm việc trong lĩnh vực này. Để xác định đúng
đắn nghĩa vụ thuế của đối tượng thanh tra , đòi hỏi người cán bộ thuế không chỉ nắm
chắc được các luật thuế mà còn phải nắm bắt được bản chất các hoạt động kinh tế của
đối tượng thanh tra, tức là người cán bộ thanh tra còn phải có sự am hiểu sâu rộng về

- Thanh tra, kiểm tra người nộp thuế đã góp phần hoàn thiện cơ chế, chính
sách pháp luật về thuế.
Hệ thống thuế ở nước ta hiện nay bao gồm nhiều sắc thuế khác nhau. Mỗi sắc thuế
điều tiết đến một số đối tượng xã hội nhất định và có những phương pháp quản lý thu
thuế khác nhau. Về cơ bản mỗi sắc thuế khi được ban hành đều đã được nghiên cứu kỹ
và chuẩn bị chu đáo nhưng do đặc điểm nền kinh tế nước ta đang ở thời kỳ chuyển đổi
và hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới nên không trách khỏi những khiếm
khuyết, bất cập. Chính vì vậy thanh tra thuế có nhiệm vụ cung cấp các căn cứ, các bằng
chứng cụ thể phản ánh các hoạt động quản lý thuế diễn ra trên thực tế, để phục vụ cho
việc hoàn thiện, bổ sung các chính sách thuế sao cho phù hợp.
- Thanh tra, kiểm tra thuế là phương tiện phòng ngừa, răn đe các hành vi vi
phạm pháp luật thuế và tội phạm nảy sinh trong việc thực hiện pháp luật thuế.
Hoạt động thanh tra thuế trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến người
nộp thuế, đánh giá việc chấp hành pháp luật của người nộp thuế, xác minh và thu thập
chứng cứ để xác định hành vi vi phạm pháp luật về thuế. Theo đó, vừa phòng ngừa các
hành vi phạm pháp luật thuế có thể xảy ra; vừa sử dụng các biện pháp chế tài bằng
mệnh lệnh hoặc các quyết định hành chính nhằm xử lý và răn đe hành vi vi phạm pháp
luật của người nộp thuế. Việc kịp thời phát hiện, ngăn ngừa và xử lý các hành vi vi
phạm pháp luật thuế là biện pháp hữu hiệu nhất đối với việc phòng ngừa các loại tội
phạm có thể phát sinh trong việc thực hiện pháp luật thuế.
- Thanh tra, kiểm tra người nộp thuế có vai trò quan trọng trong việc cải cách
thủ tục hành chính thuế.
Triển khai thực hiện pháp luật thuế, cũng đồng thời với việc triển khai thực hiện
các thủ tục hành chính thuế. Qua hoạt động thanh tra thuế phát hiện những người nộp
thuế thực hiện không đúng và không đủ các thủ tục hành chính thuế để kịp thời chấn
chỉnh. Đồng thời phát hiện những khiếm khuyết, những thủ tục không phù hợp với
thực tế để kiến nghị bổ sung hoàn thiện, nâng cao hiệu lực pháp luật thuế.
1.2.4 Mục đích và yêu cầu của thanh tra thuế
- Thanh tra thuế là một trong những chức năng thiết yếu trong quản lý thuế. Để phát
huy được chức năng đó cần phải hướng vào những mục đích sau đây:

được mục đích của công tác thanh tra thuế, mới làm cho thanh tra thuế thực sự trở
thành cán cân công lý, mới có sự tin tưởng của quần chúng nhân dân.
+ Thanh tra thuế phải đảm bảo công khai, dân chủ, kịp thời, tạo điều kiện tốt nhất
để quần chúng nhân dân tham gia ý kiến. Đảm bảo công khai, dân chủ là yêu cầu quan
trọng trong công tác thanh tra, vì thông qua đó phát huy được sức mạnh và vai trò của
quần chúng nhân dân trong thanh tra thuế nhằm khắc phục những yếu kém, bất cập
trong quản lý Nhà nước, ngăn chặn đúng lúc những hành vi tiêu cực, tránh những tổn
thất nặng nề cho Nhà nước và nhân dân.
+ Thanh tra thuế phải đảm bảo thực hiện đúng các luật thuế, ngăn ngừa, loại trừ
các hành vi trốn, lậu thuế. Đây là yêu cầu thiết yếu của công tác thanh tra thuế, đạt
được yêu cầu này thì công tác thanh tra thuế mới làm tròn chức năng và nhiệm vụ của
mình.19

19

Nguyễn Thị Liên, Giáo trình nghiệp vụ thuế, Nxb Tài chính. 2008, tr.218.

GVHD:NGỤY NGỌC ANH

17

NGUYỄN THỊ THANH THOẢNG


Quy định của pháp luật về thanh tra thuế
1.2.5 Phân loại thanh tra thuế
 Phân loại theo thời gian
Với tiêu chí phân loại này thì thanh tra thuế được chia làm hai loại:
+ Thanh tra thuế theo chương trình, kế hoạch được tiến hành theo chương trình, kế
hoạch đã được phê duyệt. Căn cứ vào nguồn lực hiện có, tình hình chấp hành pháp luật

GVHD:NGỤY NGỌC ANH

18

NGUYỄN THỊ THANH THOẢNG


Quy định của pháp luật về thanh tra thuế
+ Một là, thanh tra thuế và kiểm tra thuế đều là một nội dung quan trọng của quản lý
thuế. Thanh tra thuế và kiểm tra thuế đều có cùng một mục đích là phát hiện, ngăn
ngừa, xử lí những vi phạm pháp luật thuế, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý thuế,
thúc đẩy người nộp thuế tự giác tuân thủ pháp luật thuế, qua đó kiến nghị hoàn thiện
cơ chế quản lí thuế, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế.
+ Hai là, đối tượng của thanh tra thuế, kiểm tra thuế là người nộp thuế nói chung,
bao gồm tổ chức, cá nhân nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế.
+ Ba là, thanh tra thuế, kiểm tra thuế đều có nội dung là kiểm tra việc chấp hành
pháp luật thuế của người nộp thuế.
+ Bốn là, về phương pháp, thanh tra thuế, kiểm tra thuế đều phải xem xét hoạt
động thực tế của đối tượng thanh tra để phát hiện, phân tích, đánh giá thực trạng đối
tượng thanh tra một cách chính xác, khách quan, xử lí vi phạm, chỉ ra nguyên nhân để
người nộp thuế có biện pháp khắc phục.
Có thể nói giữa hoạt động thanh tra và kiểm tra có mối quan hệ chặt chẽ, gần gũi
và có nhiều điểm giao thoa nhau, có mối quan hệ đan chéo nhau.Tuy nhiên với tư cách
là một hoạt động độc lập, thanh tra có nhiều điểm khác biệt với kiểm tra:
Tuy nhiên, giữa thanh tra thuế và kiểm tra thuế cũng có những điểm khác
nhau sau:
+ Một là, chủ thể của thanh tra thuế là bộ phận chuyên trách về công tác thanh tra
thuộc CQT, còn chủ thể của kiểm tra thuế thường đa dạng hơn so với chủ thể của
thanh tra thuế, bao gồm bộ phận thanh tra thuế, bộ phận kiểm tra thuế và các bộ phận


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status