đề tài: tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng trong luật hình sự việt nam - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
------------

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 2011 - 2015

ĐỀ TÀI: TỘI VI PHẠM QUI ĐỊNH VỀ CHO VAY
TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn:
Nguyễn Văn Tròn
Bộ môn Luật Tư pháp

Sinh viên thực hiện:
Trần Minh Cường
MSSV: 5115875
Lớp Luật Tư pháp 2 – K37

Cần Thơ, 12/2014


NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................

............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLHS: Bộ luật hình sự;
BLDS: Bộ luật dân sự;
TCTD: Tổ chức tín dụng;
NHNH: Ngân hàng Nhà nước;
NHTM: Ngân hàng thương mại;
C46: Tổng cục phòng chống tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ;
CNH – HĐH: Công nghiệp hóa - hiện đại hóa.


MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU...................................................................................................................... 1

1.4. Lịch sử hình thành các giai đoạn của pháp luật Việt Nam về tội vi phạm qui định
về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng ................................................... 19
1.4.1. Giai đoạn trước năm 1975................................................................................. 19
1.4.2. Giai đoạn sau năm 1985 .................................................................................... 20
1.4.3. Từ năm 2000 về sau........................................................................................... 21
CHƯƠNG 2. QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ TỘI
VI PHẠM QUI ĐỊNH VỀ CHO VAY TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC
TÍN DỤNG ......................................................................................................................... 23
2.1. Một số điểm mới của các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế ............................ 23
2.2. Dấu hiệu pháp lý liên quan của tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động
của các tổ chức tín dụng................................................................................................. 30
2.2.1. Mặt khách quan................................................................................................. 31
2.2.2. Mặt chủ quan .................................................................................................... 33
2.2.3. Mặt khách thể.................................................................................................... 34
2.2.4. Mặt chủ thể........................................................................................................ 35
2.3. Trách nhiệm hình sự đối với tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của
các tổ chức tín dụng ....................................................................................................... 36
2.3.1. Tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng theo
qui định tại khoản 1 Điều 179 Bộ luật hình sự hiện hành.......................................... 37


2.3.2. Tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng theo
qui định tại khoản 2 Điều 179 Bộ luật hình sự hiện hành.......................................... 37
2.3.3. Tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng theo
qui định tại khoản 3 Điều 179 Bộ luật hình sự hiện hành.......................................... 38
2.3.4. Hình phạt bổ sung ............................................................................................. 39
2.4. Phân biệt tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín
dụng với một số tội trong các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế............................ 39
2.4.1. Tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng với
tội cố ý làm trái qui định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng

3.3.5.3. Khả năng tạo ra lợi nhuận từ khoản vay ...................................................... 65
3.3.5.4. Các điều kiện kinh tế khác............................................................................ 66
3.3.6. Đội ngũ nhân lực của hệ thống tổ chức tín dụng .............................................. 67
3.3.7. Trong lĩnh vực hợp tác quốc tế về ngân hàng ................................................... 69
KẾT LUẬN ........................................................................................................................ 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................. 75


Tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng trong
Luật Hình sự Việt Nam

LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong bất kỳ nền kinh tế nào thì vai trò của các tổ chức tín dụng là hết sức
quan trọng, đặc biệt là các nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam. Các tổ chức tín
dụng nói chung và ngân hàng nói riêng là nơi bất nguồn cho các dòng tài chính lưu
thông nhưng cũng là nơi xảy ra các hành vi vi phạm pháp luật gây tổn thất về mặt kinh
tế rất lớn. Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 chỉ có một điều qui
định xử lý vi phạm về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng. Trong khi đó,
rất nhiều các hoạt động nghiệp vụ khác như đầu tư, chuyển tiền thanh toán, bảo lãnh…
xảy ra vi phạm nhưng thiếu hoặc chưa đủ chế tài điều chỉnh, gây nên khoản trống pháp
lý lớn. Để ngăn chặn những nguy cơ rủi ro từ thị trường tài chính hiện nay, bên cạnh
việc siết chặt các hoạt động quản lý thì bổ sung sửa đổi các qui định về tội phạm lĩnh
vực đầu tư, chuyển tiền, bão lảnh, thanh toán trong hoạt động các tổ chức tín dụng là
việc làm cần thiết. Việt Nam chỉ là nước đang phát triển nên việc quản lý hoạch định
chính sách vẫn còn rất hạn chế vì thế cần phải có sự hội nhập, học hỏi kinh nghiệm các
nền kinh tế đã phát triển thành công trong lĩnh vực này để có thể “đi tắt đoán đầu” các
nước đã phát triển sớm hoàn thành mục tiêu đưa đất nước lên con đường xã hội chủ
nghĩa. Từ rất sớm, Ủy ban Basel1 đã xây dựng chỉ tiêu đánh giá mức độ an toàn và
hiệu quả trong hoạt động ngân hàng nhằm chuẩn mực hóa trong hoạt động ngân hàng


Tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng trong
Luật Hình sự Việt Nam

tiền tệ và hoạt động ngân hàng cũng như nâng cao năng lực quản trị điều hành đặc biệt
là năng lực quản trị rủi ro trong việc quản lý dòng tài chính và hoạt động cho vay của
các tổ chức tín dụng tiến dần đến các thông lệ và các chuẩn mực quốc tế trong quá
trình hội nhập và phát triển giai đoạn hiện nay. Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 đã
có nhiều qui định nhằm nâng cao mức độ an toàn trong hoạt động của các tổ cức tín
dụng trên cơ sở quán triệt quan điểm “tổ chức tín dụng là tổ chức đặc biệt cần được
quản lý đặc biệt và tiếp cận sát thông lệ Quốc tế về các yêu cầu bảo đảm an toàn trong
hoạt động”. Cùng với việc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành quy định mới
về các tỉ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng ( Thông tư số
13/2010/TT-NHNN ngày 20/05/2010 được sửa đổi bổ sung bởi Thông tư 19/2010/TTNHNN ngày 27/09/2010 Quy định về tỉ lệ bảo đảm an toàn của tổ chức tín dụng thay
thế cho Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19/04/2005 của Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước ban hành Quy định về các tỉ lệ bào đảm an toan trong hoạt động của tổ
chức tín dụng). Điểm quan trọng trong Thông tư 13 này là: Nâng tỉ lệ an toàn vốn tối
thiểu giữa vốn tự có so với tổng tài sản “có” rủi ro từ 8% (theo Quyết định
457/2005.QĐ-NHNN) lên 9%. Thông tư này có vai trò hết sức quan trọng trong việc
tăng cường tính an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng nói riêng và hệ thống
ngân hàng Việt Nam nói chung.
Tỉ lệ tội phạm liên quan ngày càng gia tăng, đó là vấn đề cần được giải quyết
một cách triệt để. Thực tế, công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trong lĩnh vực
này cho thấy trong các vụ việc được phát hiện, phanh phui thì cán bộ trong các tổ chức
tín dụng chiếm gần 70% số còn lại là “ngoại xâm” thông đồng, câu kết cùng “nội xâm”
trong nội bộ các tổ chức tín dụng để phạm tội. Sai phạm của các cán bộ tín dụng xảy ra
trong thời gian qua đã gióng lên hồi chuông báo động về tình trạng kiểm soát vốn đem
cho vay, công tác quản lý cán bộ của các tổ chức tín dụng. Việc phòng ngừa và ngăn
chặn vi phạm các quy định cho vay của các tổ chức tín dụng cần nhiều giải pháp đồng
bộ và quyết liệt mà yếu tố tiên quyết là vấn đề con người… trong thời kỳ thị trường

phải kiên quyết thanh loại các cán bộ yếu kém về phẩm chất đạo đức. Ngoài ra, đánh
giá tình hình tội phạm hiện nay cùng với diễn biến sắp tới đưa ra những bất cập, khó
khăn tồn tại trong công tác phòng và chống tội phạm nguy hiểm này có hiệu quả.
3. Phạm vi nghiên cứu
Do những hạn chế nhất định về nguồn tài liệu tham khảo, thời gian nghiên cứu
cũng như kiến thức nên trong đề tài luận văn này tác giả chỉ tập trung nghiên cứu
những qui định của pháp luật, những bất cập trong việc thực hiện chính sách, quản lý
dòng tài chính. Do nó là loại tội phạm mới, được các nhà làm luật qui tại Điều 179 của
Bộ luật Hình sự Việt Nam 1999 sửa đổi, bổ sung 2009, cũng như là các luật liên quan
như luật Ngân hàng, luật Các tổ chức tín dụng vừa mới ban hành cho nên không tránh
khỏi những bất cập cũng như là các khe hở. Do vậy, người viết sẽ tập trung nghiên cứu
các qui định của pháp luật, chính sách tín dụng cũng như là các khe hở của pháp luật
mà bọn tội phạm lợi dụng thực hiện hành vi của mình và từ đó có những biện pháp
hoàn thiện hệ thống pháp luật, năng cao công tác phòng chống tội phạm.
4. Phương pháp nghiên cứu
Dựa vào những kiến thức đã được học tại trường, người viết vận dụng, thu
thập và tổng hợp tài liệu có liên quan để chứng minh làm rõ vấn đề. Mặt khác, khi thực
hiện luận văn này người viết còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như:
Phương pháp phân tích luật viết; người viết tập trung nghiên cứu, phân tích
những bất cập của các văn bản qui phạm pháp luật liên quan.
Phân tích, so sánh, tổng hợp; người viết sử dụng phương pháp phân tích và so
sánh giữa các điều luật liên quan với nhau hoặc các văn bản luật và dưới luật nhằm tìm
GVHD: Nguyễn Văn Tròn

3

SVTH: Trần Minh Cường


Tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng trong

4

SVTH: Trần Minh Cường


Tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng trong
Luật Hình sự Việt Nam

CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỘI VI PHẠM QUI ĐỊNH VỀ CHO
VAY TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG
Theo qui định của pháp luật thì “cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó
bên cho vay giao hoặc bên cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng
vào mục đích được xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên
tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”4, do hệ thống pháp luật qui định chưa chặt chẽ nên một
số đối tượng đã lợi dụng những kẽ hở của pháp luật để hòng chiếm một số tài sản
không hề nhỏ trong hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng. Vấn đề cấp thiết đặt
ra là phải làm thế nào để ngăn chặn những hành vi như vậy trong khi đất nước đang
trong quá trình đổi mới. “Dân có giàu thì nước mới mạnh”, những vi phạm như thế sẽ
làm tổn hại đến lợi ích của quốc gia đang trong quá trình hội nhập và phát triển như
nước ta, làm ảnh hưởng đến uy tín trong mắt bạn bè quốc tế, tạo ra sự e dè khi họ
muốn đầu tư vào một thị trường mà khả năng quản lý tổ chức còn yếu kém. “Tội vi
phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng”5, cần phải được
xem là một trong những vấn đề cấp bách hiện nay mà Đảng, Nhà nước, Chính phủ mà
cơ quan chuyên trách là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tập trung giải quyết, ban hành
các văn bản qui phạm pháp luật để ngày càng hoàn thiện hơn, không để thiệt hại đến
hàng nghìn tỷ đồng như trong thời gian qua. Chương 1 này người viết sẽ khái quát
chung về “tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng”.
1.1. Khái quát chung về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
1.1.1. Khái niệm về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
“Các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế là những hành vi nguy hiềm

tường thuật với cơ quan có thẩm quyền hoặc đã đưa ra xét xử, có trong thống kê hình
sự chính thức.
Hai là, tội phạm ẩn: là số lượng tội phạm được thực hiện trên thực tế nhưng
không được tường thuật với cơ quan có thẩm quyền hoặc chưa bị phát hiện (một cách
chính xác) và do vậy chưa bị đưa ra xét xử, chưa có trong thống kê hình sự chính
thức”.7 Ngoài ra, tội phạm ẩn còn là những tội phạm đã được xét xử nhưng lại không
đúng người, không đúng tội vì một lý do nào đó làm cho bỏ lọt tội phạm, oan sai.
1.1.2. Hệ thống các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
Tùy theo mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm mà các ngành luật khác nhau
sẽ điều chỉnh nó. Đối với hành vi xâm phạm trật tự quản lý kinh tế có mức độ nguy
hiểm cao thì pháp luật hình sự sẽ điều chỉnh và những hành vi nguy hiểm đó sẽ bị cho
là tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế. Trong Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ

sung năm 2009 quy định từ Điều 153 đến 181 về tội danh xâm phạm trật tự quản lý
kinh tế có đến 40 tội là sự kế thừa chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta đối với
hành vi xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của nhà nước, đồng thời phản ánh kết quả
phát triển của nền kinh tế quốc dân trong giai đoạn cải cách, đổi mới hiện nay. Theo
đó, các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế phải được hiểu là những hành vi gây nguy
hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý
hoặc vô ý xâm hại trật tự quản lý kinh tế Nhà nước đối với hoạt động sản xuất kinh
doanh, gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân.
Trong các giai đoạn khác nhau đều có các loại tội phạm xâm phạm đến trật tự quản lý
kinh tế khác nhau và ở những mức độ khác. Xã hội ngày càng phát triển, Đảng và Nhà
nước đẩy mạnh việc phát triển kinh tế làm giàu cho Đất nước, nhân dân ngày càng
được ấm no hạnh phúc, song song với những mặt tích cực đó thì những tiêu cực cũng
xảy ra. Tình trạng tham nhũng, quan liêu, đặc biệt là các tội xâm phạm đến trật tự quản
lý kinh tế xảy ra ngày càng phổ biến và phức tạp, những vụ án được phát hiện làm
rúng động dư luận. Do đó, mỗi thời kỳ Nhà nước phải đưa ra những chính sách pháp
luật phải phù hợp và kiềm chế những hành vi phạm tội xảy ra làm ảnh hưởng đến quá
trình phát triển Đất nước. So với BLHS 1985, BLHS 1999 đã có nhiều thay đổi phù

quản lý kinh tế nhưng xét thấy không cần thiết phải xử lý bằng hình sự nên đã được
loại bỏ. Chẳng hạn: Tội cản trở việc thực hiện các qui định của Nhà nước về cải tạo Xã
hội Chủ nghĩa (XHCN) (Điều 164 BLHS 1985), Tội vi phạm chế độ tem phiếu (Điều
172 BLHS 1985), Tội lạm sát gia súc (Điều 184 BLHS 1985);
Bốn là, do yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường, định hướng XHCN,
có sự điều tiết của Nhà nước nên BLHS 1999 qui định thêm một số tội phạm mới. Đó
là các tội phạm: Tội quảng cáo gian dối (Điều 168), Tội vi phạm qui định về cấp văn
bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (Điều 170), Tội xâm phạm quyền tác giả,
quyền liên quan (Điều 170a), Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 171);
Năm là, bên cạnh hình phạt tù BLHS 1999 còn mở rộng phạm vi áp dụng các
hình phạt không phải tù, đặc biệt là hình phạt tiền đối với người phạm tội xâm phạm
trật tự quản lý kinh tế. Chính vì vậy, nhìn tổng thể thì chế tài áp dụng đối với người
phạm tội xâm phạm trật tự quản lý kinhh tế đã kết hợp hài hoà mục đích trừng trị và
mục đích giáo dục cải tạo so với BLHS 1985.
1.1.3. Dấu hiệu pháp lý về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
Đa số các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế khi phát hiện đã diễn ra trong
một thời gian khá dài, tỷ lệ tội phạm chưa được phát hiện vẫn còn rất cao so với thực
tế, đặc biệt xảy ra tình trạng lợi ích nhóm rất nguy hiểm bọn tội phạm liên kết chặt chẽ
với nhau nên rất khó phát hiện, dễ lẫn lộn với với các vi phạm hành chính, vi phạm
dân sự nên tình trạng bỏ lọt tội phạm dễ dàng xảy ra.
GVHD: Nguyễn Văn Tròn

7

SVTH: Trần Minh Cường


Tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng trong
Luật Hình sự Việt Nam


xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa. Trong đó, phát triển
chính sách kinh tế mới chấm dứt chế độ quan liêu bao cấp là việc làm phù hợp đã được
Đảng và Nhà nước ta quán triệt trong các Nghị quyết, các chỉ thị của Nhà nước, xây
dựng chính sách kinh tế mới phù hợp hơn, nhanh chóng và dễ áp dụng quản lý hơn để
GVHD: Nguyễn Văn Tròn

8

SVTH: Trần Minh Cường


Tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng trong
Luật Hình sự Việt Nam

thực hiện “đi tắt đón đầu” là đều tất yếu phải thực hiện. Theo V.I.Lenin: “Chính sách
kinh tế mới là nhà nước cho phát triển nhiều thành phần kinh tế, kể cả kinh tế tư bản
chủ nghĩa để xây dụng và phát triển chủ nghĩa xã hội. Chính sách này không phải là
sách lược nhất thời mà là chiến lược xuyên suốt thời kỳ quá độ”.8 Không phải muốn là
thay đổi nhanh chóng mà là phải có sự tính toán kỹ lưỡng, thận trọng tránh đi vào vết
xe đổ của các nước đi trước. Cái gì có lợi cho dân thì làm, cái gì có hại cho Đất nước
cho Nhân dân thì phải hết sức tránh. Muốn thay đổi toàn diện và phát triển nền kinh tế
theo hướng tích cực thì trước hết phải hoàn thiện hệ thống pháp luật, khắc phục những
bất cập của hệ thống pháp luật cũng như là những yếu kém trong việc áp dụng các văn
bản pháp luật vào đời sống.
Nền kinh tế vẫn còn khó khăn, đất nước vẫn là nước nghèo hằng năm phải
nhận viện trợ của các nước khác. Hệ thống pháp luật vẫn còn non trẻ bộc lộ nhiều bất
cập trong các văn bản qui phạm pháp luật điển hình là các văn bản qui phạm pháp luật
vừa mới ban hành thì đã bộc lộ những thiếu sót, bất cập phải sửa đổi bổ sung thậm chí
là phải ban hành văn bản khác để thay thế. Đặc biệt là các văn bản qui phạm pháp luật
về kinh tế, nền kinh tế luôn biến động xoay chuyển từng ngày trong khi đó thì hệ

Luật Hình sự Việt Nam

pháp luật quản lý kinh tế nói riêng và toàn hệ thống pháp luật của nước ta nói chung.
Pháp luật là một trong những công cụ quan trọng nhất của Nhà nước để quản lý xã hội
cũng như định hướng phát triển theo những chính sách đã được đề ra.
1.2. Khái quát chung về tín dụng, các loại hình tín dụng và chính sách tín dụng
1.2.1. Khái niệm về tín dụng
Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ La tinh là credo (tin tưởng, tín nhiệm).
Trong thực tế cuộc sống, thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau;
ngay cả trong quan hệ tài chính, tùy theo từng bối cảnh cụ thể mà thuật ngữ tín dụng
có một nội dung riêng. Trong quan hệ tài chính, tín dụng có thể hiểu theo các nội nghĩa
sau:9
Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm sang
chủ thể thiếu hụt tiết kiệm, thì tín dụng được xem là phương pháp chuyển dịch vốn từ
người cho vay sang người đi vay;
Trong một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên
cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể. Ví dụ: Ngân hàng cấp tiền vay cho bên bên đi vay
và sau một khoảng thời gian nhất định người đi vay phải thanh toán vốn gốc và lãi;
Tín dụng còn được hiểu là sự bảo lãnh của bên thứ ba thường được gọi là tín
dụng bằng chữ ký, như việc ngân hàng mở thư tín dụng cho nhà sản xuất hưởng theo
yêu cầu của nhà nhập khẩu.
Từ những phân tích trên, người viết cho rằng tín dụng cần được hiểu là một
giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay ( ngân hàng và các chế định
tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó
bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định
theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho
bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một,
một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ
chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức hành chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân.10
Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc bên cam kết giao

mất trắng .
Thứ ba, nợ quá hạn là khoản nợ khó đòi ( có thể gọi là nợ xấu): Loại nợ này
xảy ra ở những cá nhân/ doanh nghiệp vay vốn có tình hình hoạt động sản xuất kinh
doanh và tình hình tài chính yếu kém, biểu hiện là sản xuất kinh doanh bị lỗ, nợ phải
trả tăng, doanh nghiệp mất khả năng thanh toán hoàn toàn. Thời hạn nợ tồn đọng khá
lâu, có thể kéo dài trên một năm, 2 – 3 năm hoặc lâu hơn nữa và rất khó giải quyết.12
1.2.3. Các loại hình tín dụng
1.2.3.1. Các hình thức của tổ chức tín dụng
Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, tổ
chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi
mô và quỹ tín dụng nhân dân.
Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt
động ngân hàng. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao
gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã.
Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện
một hoặc một số hoạt động ngân hàng , trừ các hoạt động nhận tiền gửi của cá nhân và
cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng. Tổ chức tín dụng phi
ngân hàng bao gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín
dụng phi ngân hàng khác.
Tổ chức tài chính vi mô là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số
hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập
thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ.

12

SaiGonbank, Nợ quá hạn là gì, [truy cập ngày 1-7-1014].

GVHD: Nguyễn Văn Tròn

11

bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình”.14 Người nhận bảo lãnh là
chủ nợ, người thụ hưởng bảo lãnh. Người được bảo lãnh là người đi vay (người nợ)
người có nghĩa vụ thanh toán nợ.
1.2.4. Chính sách tín dụng
1.2.4.1 Khái niệm
Chính sách tín dụng là một hệ thống các biện pháp liên quan đến việc tăng
trưởng tín dụng hoặc hạn chế tín dụng để đạt mục tiêu đã được hoạch định và hạn chế
rủi ro, bảo đảm an toàn trong kinh doanh tín dụng.

13
14

Điều 326.Bộ luật Dân sự năm 1995 sửa đổi, bổ sung 2005.
Điều 361 Bộ luật Dân sự năm 1995 sửa đổi, bổ sung 2005.

GVHD: Nguyễn Văn Tròn

12

SVTH: Trần Minh Cường


Tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng trong
Luật Hình sự Việt Nam

Một chính sách tín dụng đều phải đạt ba mục tiêu:
Một là, lợi nhuận của tổ chức tín dụng;
Hai là, an toàn, ít rủi ro, hoặc rủi ro trong giới hạn cho phép;
Ba là, sự lành mạnh của các khoản tín dụng.
Chính sách tín dụng còn là một “bản hướng dẫn” quan trọng để cán bộ tín

13

SVTH: Trần Minh Cường


Tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng trong
Luật Hình sự Việt Nam

Thứ ba, tính ổn định của các khoản ký thác. Khi các khoản ký thác ổn định nó
cho phép các tổ chức Tín dụng hoạch định một chính sách tín dụng mà ở đó quy mô,
thời gian của tín dụng ổn định và tỉ phần sinh lợi của tài sản cũng có thể được hoạch
định cao hơn. Ngược lại khi mà sự ký thác không ổn định dẫn đến các tổ chức tín dụng
luôn luôn phải dự trữ ngân quỹ để có thể đảm bảo thanh khoản khi cần thiết.
Thứ tư, chính sách tiền tệ và tài chính Nhà nước. Tùy thuộc vào chính sách
tiền tệ và tài chính của Nhà nước, theo hướng mở rộng hay thắt chặt tiền tệ, thông qua
các công cụ như dự trữ pháp định, chính sách chiết khấu, chính sách thị trường mở, lãi
suất. Đảng và Nhà nước vạch ra những chính sách phát triển kinh tế Đất nước. Ngân
hàng Nhà nước là cơ quan chuyên trách có nhiệm vụ thực hiện những chính sách đó
đối với nguồn tài chính được vạch ra và phải chịu trách nhiệm trước Chính phủ những
vấn đề phát sinh trong quản lý.
Thứ năm, khả năng và kinh nghiệm của các cán bộ tín dụng. Cũng giống như
các lĩnh vực khác thì yếu tố con người là yếu tố hàng đầu để hoạch định chính sách
phát triển, quản lý và kinh doanh của một tổ chức tín dụng. Để tránh những rủi ro
trong việc phát triển của các tổ chức tín dụng thì tùy vào khả năng chuyên môn, quản
lý của đội ngũ cán bộ tín dụng, tổ chức tín dụng đó chỉ mở rộng qui mô tín dụng trong
phạm vi mà các cán bộ tín dụng của họ có thể quản lý được. Đây là chính sách được
xem như lá chắn an toàn cho các tổ chức tín dụng nhưng như vậy sẽ hạn chế phát triển
của tổ chức tín dụng đó.
1.2.4.3. Mục tiêu và nội dung của chính sách tín dụng
Như trên đã phân tích, mục tiêu của tín dụng trước hết là lợi nhuận, an toàn và

cũng thiết lập môi trường nhằm giảm bớt rủi ro trong hoạt động tín dụng. Nó được đưa
ra nhằm bảo đảm rằng mỗi quyết định tín dụng đều đảm bảo tính khách quan, tuân
theo qui định của Nhà nước và phù hợp thông lệ chung của quốc tế. Qua những phân
tích trên có thể xác định mục tiêu và nội dung của chính sách tín dụng như sau: Thứ
nhất: phải có các đối tượng vay vốn, việc này là hết sức quan trong đối với một chính
sách tín dụng; Hai là: phương thức quản lý các hoạt động quản lý tín dụng phải phù
hợp để có thể sử dụng nguồn tín dụng có hiệu quả; Ba là: phương thức quản lý nguồn
vốn cho vay để có thể quản lý được dòng tài chính đã cho vay và có thể bảo đảm là thu
hồi được trong thời gian cho vay; Bốn là: thời hạn và các điều kiện cho vay, đây cũng
là một việc rất quan trọng khi một tổ chức cá nhân có nhu cầu vay thì phải xác định họ
có gì bảo đảm khi vay và hết thời gian vay họ có thể hoàn trả được hay không. Trên
thực tế khi đi vay một số tổ chức, cá nhân cấu kết với cán bộ tín dụng để vay những
khoản vay trái phép mà không có gì bảo đảm hoặc là cố ý định giá tài sản bảo đảm sai
với qui định hòng để vay.
1.2.4.4. Tính chiến lược của chính sách tín dụng
Khi hình thành chính sách tín dụng cần phải lưu tâm đến chiến lược thu hút
khách hàng và phải có sự lựa chọn. Điều này đòi hỏi phải nghiên cứu các đối tượng
khách hàng thật chu đáo, trước khi quyết định phát các khoản tín dụng cho khách
hàng.
Khách hàng phải đạt các tiêu chuẩn nhất định như:
Khách hàng có khả năng ổn định và phát triển kinh doanh lâu dài.
Khách hàng phải có đội ngũ quản lý giỏi, có khả năng thích ứng tốt với môi
trường kinh doanh.
Khách hàng không có biểu hiện lừa đảo.
Khách hàng có triển vọng chiếm lĩnh thị trường.

GVHD: Nguyễn Văn Tròn

15


chức), trong đó nhóm đối tượng cán bộ trong tổ chức tín dụng đóng vai trò chủ chốt để
thực hiện hành vi phạm tội:
Nhóm đối tượng là cán bộ trong tổ chức tín dụng thường thực hiện tội phạm
với các hành vi phổ biến là:
Lợi dụng chức vụ quyền hạn để thực hiện hành vi tham nhũng. Thủ đoạn
phạm tội này tương đối phổ biến trong hầu hết các vụ án đã xảy ra trong thời gian qua,
một số cán bộ đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để thực hiện hành vi phạm tội
vì động cơ vụ lợi và có sự tính toán, che giấu tinh vi khi thực hiện.

GVHD: Nguyễn Văn Tròn

16

SVTH: Trần Minh Cường


Tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng trong
Luật Hình sự Việt Nam

Lợi dụng vị trí công tác, uy tín của tổ chức tín dụng để thực hiện hành vi lừa
đảo nhằm chiếm đoạt tiền của các tổ chức tín dụng, tổ chức và cá nhân. Cán bộ tín
dụng lợi dụng vị trí công tác, uy tín của tổ chức tín dụng để thực hiện hành vi lừa đảo
nhằm rút tiền của tổ chức tín dụng hoặc chiếm đoạt tiền của các tổ chức, cá nhân,
thông qua các biện pháp nghiệp vụ như: huy động vốn cho tổ chức tín dụng (thỏa
thuận trả lãi suất cao hơn quy định Nhà nước cho phép), sau đó không đưa vào tổ chức
mà chiếm đoạt luôn tiền, tài sản của các cá nhân, tổ chức; Cán bộ tổ chức tín dụng sử
dụng các biện pháp nghiệp vụ nhằm sửa chữa, tẩy xóa nâng giá trị tiền lên nhiều lần
trong các chứng chỉ tiền gửi của các tổ chức tín dụng phát hành, rồi đem thế chấp tại
chính tổ chức tín dụng mình đang công tác.
Cán bộ tổ chức tín dụng bị lôi kéo, mua chuộc, tiếp tay cho tội phạm. Những

Tội vi phạm qui định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng trong
Luật Hình sự Việt Nam

có rất nhiều quy định chặt chẽ nhất là quy định về vay vốn, mặc dù hành vi và thủ
đoạn của bọn tội phạm lừa đảo rất tinh vi, nhưng nếu không có sự tiếp tay của cán bộ
Nhà nước, đặc biệt là cán bộ trong ngành, thì khó xảy ra các hành vi lừa đảo chiếm
đoạt được tài sản của các tổ chức tín dụng.
1.3.2. Hậu quả của hành vi phạm tội và một số vụ án điển hình được dư luận
quan tâm
Mọi vấn đề lớn của phát triển đều bao hàm thách thức và cơ hội. Nếu tốc độ và
quan hệ của các nước ngày càng phát triển thì tội phạm về kinh tế nói chung và tội
phạm liên quan đến các tổ chức tín dụng là một thách thức không hề đơn giản. Việc
xem xét một số ảnh hưởng tiêu cực trong nền kinh tế sau đây sẽ lý giải cho nhận định
trên.
Những nước đang phát triển dễ bị ảnh hưởng: Những nước đang phát triển sẽ
tập trung phát triển nền kinh tế trên diện rộng, là thị trường đầy tiềm năng cho các tổ
chức tín dụng phát triển. Dòng tài chính sẽ luân chuyển thường xuyên, là nơi mà các tổ
chức cá nhân vay mượn hoặc ký gửi. Ngoài những mặt tích cực đấy thì cũng không ít
tiêu cực. Là những nước phát triển thì khả năng quản lý và sử dụng các dòng tài chính
còn yếu kém, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật còn bộc lộ nhiều kẽ hở là điểm
thuận lợi để những kẻ xấu thực hiện hành vi phạm tội của mình. Lập hồ sơ khống, hồ
sơ giả để tiến hành các hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm các hoạt động cho vay
của các tổ chức tín dụng.
Ảnh hưởng đến nền kinh tế: Tội phạm kinh tế nói chung và tội vi phạm qui
định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng làm ảnh hưởng đến nhiều
mặt của nền kinh tế: hệ thống tổ chức tín dụng bị suy yếu, cầu tiền tệ đột biến, các số
lượng thống kê bị bóp méo,… gây khó khăn cho việc hoạch định chính sách phát triển.
Ngoài ra, tình trạng nợ xấu, khó thu hồi vốn là tình trạng nhức nhối của nhiều tổ chức
tín dụng làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển kinh tế. Đơn cử như tình trạng nợ
của công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) là khoảng 68.000 tỷ đồng.15 Như vậy một

nặng nề. Hàng nghìn nghìn tỷ đồng của Nhà nước của Nhân dân đều vào trong túi của
những kẻ đó. Nhân dân mất lòng tin vào chính sách, đường lối mà Đảng và Nhà nước
đưa ra trong khi một loạt các vụ án được phát hiện và số tiền bị thiệt hại là một con số
khổng lồ đối với nền kinh tế Việt Nam. Tội phạm về kinh tế nói chung và tội vi phạm
hoạt động cho vay nói riêng đều đem lại một kết quả là làm cho nền kinh tế chậm phát
triển, sử dụng dòng tài chính không hiểu quả thất thoát hằng nghìn tỉ đồng.
Những vụ án diển hình bị phát hiện được dư luận quan tâm như vụ: vụ Nguyễn
Đức Kiên, Lê Thị Huyền Như, Công ty cho thuê tài chính II… làm ảnh hưởng không
nhỏ đến nền kinh tế. Những vụ án đấy đều xảy ra trong một thời gian khá dài mới bị
phát hiện thì đã thất thoát một số tiền khổng lồ mà khó có thể thu hồi được. Ngay
những tập đoàn, công ty có vốn của Nhà nước nước cũng xảy ra những vụ án như thế.
Mất rất nhiều thời gian để điều tra và làm rõ những vụ án đó nhưng quan trọng nhất là
số tài sản bị thất thoát thì khó có thể thu hồi lại được.
1.4. Lịch sử hình thành các giai đoạn của pháp luật Việt Nam về tội vi phạm qui
định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng
1.4.1. Giai đoạn trước năm 1975
Trước những năm 70 của thế kỷ trước, hoạt động lập pháp mới chỉ quan tâm
đến lĩnh vực tổ chức bộ máy nhà nước (thuộc lĩnh vực hiến pháp), nghĩa vụ quân sự
(mục đích để huy động tầng lớp thanh niên tham gia chống Mỹ cứu nước) và pháp luật
hình sự. Các lĩnh vực khác của đời sống xã hội ít được quan tâm điều chỉnh hoặc chỉ
được điều chỉnh chủ yếu bởi các văn bản dưới luật như nghị định, quyết định, nghị
quyết, chỉ thị, thông tư của Hội đồng Chính phủ, của các bộ và cơ quan thuộc Chính
phủ. Chỉ có duy nhất một thành phần kinh tế là Nhà nước, mọi tài sản đều thuộc Nhà
nước và để phục vụ cho chiến tranh. Vì vậy các tội phạm liên quan đến kinh tế, tiền
của các ngân hàng đều được xem là xâm phạm đền tài sản xã hội chủ nghĩa và bị xử lý
GVHD: Nguyễn Văn Tròn

19

SVTH: Trần Minh Cường


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status