1
Đại học Quốc gia Hà nội
KHOA LUẬT
Lê Thị Phượng
Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
trong luật hình sự việt nam
Luận văn thạc sĩ luật học
Người hướng dẫn khoa học: GS - TSKH Lê Văn Cảm
Hà nội - 2010
4
Mục lục
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các bảng
Mở ĐầU 1
Chương 1: một số VấN Đề CHUNG Về TộI xâm phạm quyền sở hữu công
nghiệp trong luật hình sự 7
1.1. Khái niệm, các đặc điểm cơ bản của tội xâm phạm quyền sở hữu
công nghiệp và ý nghĩa của việc ghi nhận tội phạm này trong luật hình
sự Việt Nam 7
1.1.1. Khái niệm tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp 7
1.1.2. Các đặc điểm cơ bản của tội xâm phạm quyền sở hữu
công nghiệp 12
1.1.3. ý nghĩa của việc ghi nhận tội xâm phạm quyền sở hữu
công nghiệp trong luật hình sự Việt Nam 14
1.2. Sơ lược sự phát triển các quy định của pháp luật Việt Nam nói
chung và pháp luật hình sự Việt Nam nói riêng về bảo hộ quyền sở
hữu công nghiệp 14
1.3. Điều ước quốc tế và pháp luật của một số quốc gia trên thế giới
đối với vấn đề bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp bằng chế tài hình sự 22
1.3.1. Điều ước quốc tế đa phương 22
3.1. Thực trạng tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp ở Việt
Nam hiện nay 54
6
3.1.1. Tình hình xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp và thực
tiễn xét xử tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp 54
3.1.2. Nguyên nhân của tình hình xâm phạm và thực tiễn xét xử
tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, xu hướng phát triển
tội phạm này trong thời gian tới 63
3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác đấu tranh
phòng, chống tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp 73
3.2.1. Hoàn thiện hệ thống chính sách kinh tế - xã hội 73
3.2.2. Hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về tội xâm phạm
quyền sở hữu công nghiệp 74
3.2.3. Nâng cao năng lực hoạt động của các cơ quan quản lý
nhà nước và các cơ quan bảo vệ pháp luật trong đấu tranh
phòng, chống tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp 78
3.2.4. Nâng cao nhận thức của nhân dân về sở hữu công nghiệp 81
3.2.5. Phát triển hợp tác quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu công
nghiệp và trong hoạt động đấu tranh phòng, chống tội xâm
phạm quyền sở hữu công nghiệp 82
KếT luận 84
DANH MụC TàI LIệU THAM KHảO 86 7
Danh mục các bảng
Bảng 2.1: Sự khác nhau giữa tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
và tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan (trang 48)
quyền sở hữu công nghiệp nói riêng ở nước ta được bắt đầu từ thập
niên 80 của thế kỷ XX nhưng so với các nước phát triển trên thế giới
như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Anh, Pháp, Hà Lan thì chúng ta vẫn đi sau cả
một chặng đường dài (ở các nước này, vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đã
được điều chỉnh bằng pháp luật từ hàng trăm năm nay). Mặc dù thời gian gần
đây, nước ta đã có nhiều cố gắng trong việc ban hành các văn bản pháp luật để
bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (chẳng hạn như việc cho ra đời Luật chuyên biệt
về sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật
hình sự năm 1999 được Quốc hội thông qua ngày 19/6/2009) song đánh giá
2
một cách tổng quan thì pháp luật nước ta vẫn còn thiếu tính đồng bộ, chồng
chéo nên dẫn tới việc thực thi và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cũng như quyền
sở hữu công nghiệp gặp rất nhiều khó khăn. Hiện tượng vi phạm quyền sở
hữu công nghiệp và các quyền tương đương khác diễn ra rất phổ biến, dưới
nhiều hình thức khác nhau mà chưa có cách nào ngăn chặn một cách hiệu quả.
Về phía chủ thể có đối tượng cần được bảo hộ, phần lớn lại chưa nhận thức
đẩy đủ, rõ ràng tầm quan trọng của quyền sở hữu công nghiệp nên đã có phần
lơi là, mất cảnh giác trong việc bảo vệ quyền lợi của chính mình.
Mặt khác, nước ta đã tham gia cũng như ký kết nhiều hiệp ước đa
phương, song phương về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp như: Công ước
Paris năm 1883 về sở hữu công nghiệp; Hiệp định về các khía cạnh liên quan
đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ năm 1994 (Hiệp định TRIPS); Thoả
ước năm 1891 về đăng ký nhãn hiệu hàng hóa; Hiệp định về hợp tác bằng
sáng chế (PTC) năm 1970; Hiệp định Việt Nam - Thuỵ Sĩ về sở hữu trí tuệ
ngày 7/7/1999; Thoả thuận hợp tác giữa Việt Nam - Nhật Bản về việc triển
khai dự án IICA tài trợ cho lĩnh vực quản lý sở hữu công nghiệp tại Việt Nam
ngày 01/02/1999; Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ ngày 13/7/2000,
trong đó có đề cập đến việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ… Ngoài ra, nước ta
còn tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế và khu vực chẳng hạn như Tổ
định cụ thể trong pháp luật hình sự hiện hành về các tội xâm phạm quyền sở
hữu công nghiệp cũng như những căn cứ áp dụng và những kiến giải lập pháp
cụ thể cho các quy phạm này.
Tuy nhiên, khái quát chung thì thấy rằng tất cả những nghiên cứu trên
đây của các tác giả mới chỉ dừng lại ở góc độ giới thiệu một cách cơ bản về
các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nói chung hoặc nghiên cứu kết hợp
với một số tội phạm sở hữu trí tuệ khác hoặc chỉ đi sâu nghiên cứu dưới góc độ
tội phạm học mà chưa có công trình nào đề cập một cách toàn diện, có hệ
thống dưới góc độ pháp luật hình sự với tên đề tài “Tội xâm phạm quyền sở
4
hữu công nghiệp trong luật hình sự Việt Nam” ở cấp độ một luận văn thạc sĩ
hay ở cấp độ khác cao hơn cho nên rõ ràng việc nghiên cứu đề tài này vẫn là
cần thiết và mang tính thời sự sâu sắc.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu
của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ về mặt lý luận những nội dung cơ
bản của tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp trong luật hình sự Việt Nam
và việc xử lý tội phạm này trong thực tiễn, từ đó tìm ra những bất cập để đề
xuất những kiến giải lập pháp cũng như những giải pháp cụ thể phục vụ cho
công tác đấu tranh phòng và chống có hiệu quả loại tội phạm này ở nước ta.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu nêu trên đã đặt ra cho luận văn các nhiệm vụ
nghiên cứu chủ yếu sau:
Thứ nhất, từ những nghiên cứu, phân tích về sự hình thành và phát triển
các quy định của pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng đối với
việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm
cũng như các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội xâm phạm quyền sở hữu
công nghiệp, phân biệt nó với một số loại tội phạm khác, luận văn tập trung
này, những số liệu thống kê thực tế của ngành Tòa án, Cục Sở hữu trí tuệ…
luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phân tích, tổng hợp,
logic, thống kê, lịch sử, so sánh.v.v. để làm sáng tỏ các vấn đề tương ứng
được lần lượt đưa ra nghiên cứu.
5. ý nghĩa của luận văn
6
Về mặt lý luận, luận văn góp phần làm sáng tỏ các quy định của pháp
luật hình sự Việt Nam về tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp qua đó
khẳng định vai trò của các quy định này trong quá trình thực thi việc bảo hộ
quyền sở hữu công nghiệp.
Về mặt thực tiễn, luận văn góp phần vào việc nâng cao hiệu quả đấu
tranh phòng và chống tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, khắc phục
tình trạng hành chính hóa tràn lan những hành vi xâm phạm đã vượt ra ngoài
phạm vi điều chỉnh của các ngành luật phi hình sự, đảm bảo tính nghiêm minh
của pháp luật.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về tội xâm phạm quyền sở hữu công
nghiệp trong luật hình sự.
Chương 2: Các quy định của luật hình sự Việt Nam hiện hành về tội
xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp.
Chương 3: Thực trạng tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp ở Việt
Nam hiện nay và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác đấu
tranh phòng, chống tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp.
7
Chương 1: một số vấn đề chung về tội xâm phạm quyền sở hữu
công nghiệp trong luật hình sự
năng tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần vô cùng to lớn cho chủ sở hữu
tài sản cũng như người chiếm hữu, sử dụng nó.
Khái niệm sở hữu trí tuệ: Trong khoa học pháp lý hiện đại, có khá
nhiều khái niệm khác nhau về sở hữu trí tuệ. Nhưng theo cách hiểu chung
nhất thì sở hữu trí tuệ là sở hữu của cá nhân, tổ chức đối với các tài sản trí
tuệ - kết quả từ việc tư duy, sáng tạo của con người. Đây là khái niệm pháp lý
chỉ sự bảo hộ của Nhà nước đối với các thành quả lao động do hoạt động của
trí tuệ mang lại.
Khái niệm quyền sở hữu trí tuệ: Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới
(WIPO) giải thích quyền sở hữu trí tuệ là: "sáng tạo trí óc: sáng chế, tác phẩm
văn học và nghệ thuật, biểu tượng, tên, ảnh và các thiết kế dùng trong thương
mại. Quyền sở hữu trí tuệ được phân làm hai loại là sở hữu công nghiệp và
bản quyền".
Vậy hiểu một cách chung nhất, quyền sở hữu trí tuệ chính là quyền của
cá nhân, tổ chức đối với các sản phẩm trí tuệ do mình sáng tạo ra hoặc sở
hữu. Là độc quyền được công nhận cho phép họ sử dụng hay khai thác các
khía cạnh thương mại của sản phẩm trí tuệ. Quyền sở hữu trí tuệ có điểm
giống với quyền sở hữu tài sản thông thường ở chỗ nó cũng phải chịu những
hạn chế nhất định về thời gian, hiệu lực bảo hộ và phạm vi lãnh thổ…
Khái niệm sở hữu công nghiệp: Sở hữu công nghiệp là một cụm từ
mang tính chất ước lệ, tượng trưng, có nguồn gốc từ châu Âu. Trải qua khá
nhiều cuộc tranh luận trong giới các nhà khoa học, giờ đây cụm từ này ngày
càng trở nên phổ biến, được các quốc gia dần dần công nhận và sử dụng một
cách rộng rãi.
9
Sở hữu công nghiệp có thể được hiểu là sở hữu của cá nhân, tổ chức
đối với các thành quả nghiên cứu triển khai có thể áp dụng công nghiệp. Các
"thành quả" này còn gọi là các đối tượng sở hữu công nghiệp và nó bao gồm:
sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật
cấu trúc không gian của các phần tử mạch và mối liên kết các phần tử đó
trong mạch tích hợp bán dẫn. Trong đó "mạch tích hợp bán dẫn" được hiểu là
"sản phẩm dưới dạng thành phẩm hoặc bán thành phẩm, trong đó các phần tử
với ít nhất một phần tử tích cực và một số hoặc tất cả các mối liên kết được
gắn liền bên trong hoặc bên trên tấm vật liệu bán dẫn nhằm thực hiện chức
năng điện tử. Mạch tích hợp đồng nghĩa với IC, chip và mạch vi điện tử".
- Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ
chức, cá nhân khác nhau.
+ Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ
của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hóa, dịch
vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó.
+ Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho
phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá
nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách
thức sản xuất hàng hóa, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác,
độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu.
+ Nhãn hiệu liên kết là các nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký,
trùng hoặc tương tự nhau dùng cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự
nhau hoặc có liên quan với nhau.
11
+ Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng
rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
- Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động
kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể
kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh (khu vực kinh
doanh là khu vực địa lý nơi chủ thể kinh doanh có bạn hàng, khách hàng
hoặc có danh tiếng).
- Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu
vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể.
cho xã hội, được quy định trong Bộ luật hình sự do người có năng lực trách
nhiệm hình sự thực hiện một cánh cố ý hoặc vô ý xâm phạm tới độc lập, chủ
quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế
độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, quyền lợi
ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân
phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm
phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa" cho phép ta
đưa ra khái niệm về tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp như sau:
Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp là hành vi nguy hiểm cho xã
hội, bị luật hình sự cấm do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi
chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý xâm phạm tới nhãn hiệu
hoặc chỉ dẫn địa lý của chủ thể (cá nhân, tổ chức) khác đang được bảo hộ tại
Việt Nam với quy mô thương mại.
1.1.2. Các đặc điểm cơ bản của tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
Từ khái niệm tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, có thể nhận
thấy tội phạm này có bốn đặc điểm cơ bản:
13
Thứ nhất, tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp là hành vi nguy
hiểm cho xã hội:
Đó là hành vi gây nên (hoặc có khả năng thực tế) gây nên thiệt hại đáng
kể cho các quan hệ xã hội trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp được pháp luật
hình sự bảo vệ. Đây là đặc điểm thể hiện bản chất xã hội và thuộc tính khách
quan của tội phạm, là căn cứ để phân biệt hành vi là tội phạm với các hành vi
vi phạm pháp luật khác.
Thứ hai, tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp là hành vi bị luật
hình sự cấm (còn gọi là tính trái pháp luật hình sự của tội phạm):
Đây là đặc điểm pháp lý (hình thức) của các tội phạm được quy định
trong luật hình sự nói chung và tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp nói
riêng. Tính trái pháp luật hình sự thể hiện ở việc Bộ luật hình sự năm 1999
hai đối tượng sở hữu công nghiệp cụ thể là nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý đang
được bảo hộ tại Việt Nam với quy mô thương mại:
(Đặc điểm này sẽ được đi sâu làm rõ tại Chương 2 của luận văn).
1.1.3. ý nghĩa của việc ghi nhận tội xâm phạm quyền sở hữu công
nghiệp trong luật hình sự Việt Nam
Việc ghi nhận tội phạm này trong luật hình sự Việt Nam mang lại
những ý nghĩa thiết thực:
Một là, tạo ra hành lang pháp lý an toàn cho các chủ thể trong xã hội,
khuyến khích khả năng sáng tạo các tài sản trí tuệ, tạo động lực để phát triển
kinh tế, phát triển khoa học kỹ thuật và hướng tới một môi trường kinh doanh
lành mạnh.
Hai là, việc quy định tội phạm này trong luật hình sự đã tạo cơ sở pháp
lý vững chắc cũng như nâng cao hơn nữa hiệu quả của công cuộc đấu tranh
phòng, chống các xâm phạm về sở hữu công nghiệp nói chung và tội xâm
15
phạm quyền sở hữu công nghiệp nói riêng. Qua đó, góp phần giáo dục mọi
người dân có ý thức tôn trọng pháp luật về sở hữu công nghiệp, không làm,
không tiêu dùng các loại hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng…
Ba là, việc ghi nhận tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp trong luật
hình sự còn là một bước quan trọng để tiến tới hoàn thiện hệ thống pháp luật
về sở hữu trí tuệ trong lộ trình những năm tiếp theo.
1.2. Sơ lược sự phát triển các quy định của pháp luật Việt Nam
nói chung và pháp luật hình sự Việt Nam nói riêng về bảo hộ quyền sở
hữu công nghiệp
Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (một bộ phận của quyền sở hữu trí
tuệ) là nội dung quan trọng được pháp luật Việt Nam nói chung, pháp luật
hình sự Việt Nam nói riêng ghi nhận tương ứng với từng giai đoạn phát triển
khác nhau của lịch sử.
1.2.1. Giai đoạn trước năm 1975
văn bản pháp luật để bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp như: Điều lệ về giải
pháp hữu ích năm 1988; Điều lệ về kiểu dáng công nghiệp năm 1988; Pháp
lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp năm 1989… Đáng chú ý nhất ở thời
kỳ này, vấn đề bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp bằng chế tài hình sự đã bắt
đầu được ghi nhận trong một văn bản pháp lý quan trọng của Nhà nước đó
chính là Bộ luật hình sự đầu tiên của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam năm 1985. Bộ luật này đã xây dựng hẳn một điều luật quy định về các
tội liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp, cụ thể là "Tội làm hàng giả và tội
buôn bán hàng giả" quy định tại Điều 167 ở Chương VII "Các tội phạm về
kinh tế":
Điều 167. Tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả
17
1- Người nào làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả thì bị phạt tù từ
sáu tháng đến năm năm.
2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ
ba năm đến mười hai năm:
a/ Hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, phòng bệnh;
b/ Có tổ chức;
c/ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc danh nghĩa Nhà nước, tổ chức xã
hội;
d/ Hàng giả có số lượng lớn; thu hồi bất chính lớn;
đ/ Tái phạm nguy hiểm.
3- Phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ
mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.
Điều này cho thấy, đã có bước phát triển mới trong nhận thức về tầm
quan trọng của việc bảo vệ các thành quả do trí tuệ con người sáng tạo ra
trong đó có vấn đề bảo vệ các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp.
Sự ra đời của Bộ luật hình sự năm 1985 đã đặt nền móng đầu tiên trong
lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam đối với các tội phạm liên quan đến lĩnh vực
"Công dân có quyền nghiên cứu khoa học, phát minh, sáng chế, sáng kiến cải
tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, phê bình văn học nghệ thuật và tham gia
các hoạt động văn hoá khác. Nhà nước bảo hộ quyền tác giả và quyền sở hữu
công nghiệp". Đây chính là cơ sở pháp lý quan trọng để Nhà nước ta tiếp tục
ban hành, sửa đổi các văn bản pháp luật nhằm bảo hộ quyền sở hữu công
nghiệp mà trước hết là sự ra đời của Bộ luật dân sự năm 1995.
Bộ luật dân sự năm 1995 đã dành hẳn phần thứ sáu (gồm 94 điều từ
Điều 745 đến Điều 838) quy định về sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ.
Để cụ thể hóa các quy định này của Bộ luật dân sự năm 1995, hàng loạt các
19
văn bản dưới luật đã được nối tiếp nhau ban hành đó là: Nghị định số
63/1996/NĐ-CP ngày 24/10/1996 của Chính phủ quy định chi tiết về quyền
sở hữu công nghiệp; Thông tư số 3055/TT ngày 31/12/1996 của Bộ Khoa
học, Công nghệ & Môi trường hướng dẫn thi hành các quy định về thủ tục
xác lập quyền sở hữu công nghiệp và một số thủ tục khác trong Nghị định số
63/1996/NĐ-CP ngày 24/10/1996 của Chính phủ quy định chi tiết về sở hữu
công nghiệp; Nghị định số 06/2001/NĐ-CP ngày 01/02/2001 của Chính phủ
sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 63/1996/NĐ-CP ngày
24/10/1996 quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp; Thông tư số 23/TC-TCT
ngày 09/3/1997 của Bộ Tài chính hướng dẫn thu nộp và quản lý phí, lệ phí sở
hữu công nghiệp; Quyết định số 178/1999/QĐ-TTg ngày 30/8/1999 của Thủ
tướng Chính phủ ban hành quy chế ghi nhãn hàng hóa lưu thông trong nước
và hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; Thông tư số 34/1999/TT- BTM ngày
15/12/1999 của Bộ Thương mại hướng dẫn thực hiện Quyết định số
178/1999/QĐ-TTg ngày 30/8/1999 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy
chế ghi nhãn hàng hóa lưu thông trong nước và hàng hóa xuất khẩu, nhập
khẩu; Thông tư liên tịch số 09/2000/TTLT-BTM-TCHQ ngày 17/4/2000 của
Bộ Thương mại và Tổng cục Hải quan hướng dẫn về việc xác định và kiểm
tra xuất xứ hàng hóa; Nghị định số 54/2000/NĐ-CP ngày 03/10/2000 của