ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THIẾT HÙNG
TỘI XÂM PHẠM CHỖ Ở CỦA CÔNG DÂN
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2011
HÀ NỘI - 2011
mục lục
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các bảng Danh mục các hình mở đầu
1
Ch-ơng 1: các vấn đề chung về tội xâm phạm chỗ ở
1.3.
Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của luật hình sự
Việt Nam về tội xâm phạm chỗ ở của công dân từ sau Cách
mạng tháng Tám năm 1945 đến nay
35
1.3.1.
Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 cho đến
tr-ớc pháp điển hóa lần thứ nhất - Bộ luật hình sự Việt Nam
năm 1985
25
1.3.2.
Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến tr-ớc
pháp điển hóa lần thứ hai - Bộ luật hình sự Việt Nam năm
1999
42
Ch-ơng 2: tội xâm phạm chỗ ở của công dân theo QUY
Định Của Bộ Luật Hình Sự việt nam NĂM 1999
và thực tiễn xét xử
45
2.1.
Tội xâm phạm chỗ ở của công dân theo quy định của Bộ luật
hình sự Việt Nam năm 1999
45
2.1.1.
Các dấu hiệu pháp lý hình sự
45
2.1.2.
Hình phạt
ý nghĩa của việc hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự
Việt Nam năm 1999 về tội xâm phạm chỗ ở của công dân
85
3.2.
Hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm
1999 về tội xâm phạm chỗ ở của công dân
86
3.2.1.
Nhận xét chung
86
3.2.2.
Nội dung kiến nghị sửa đổi, bổ sung
88
3.3.
Những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của
Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 về tội xâm phạm chỗ ở
của công dân
91
3.3.1.
Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhân dân
91
3.3.2.
Xử lý nghiêm minh, kịp thời và đúng pháp luật ng-ời phạm
tội xâm phạm chỗ ở của công dân
93
3.3.3.
Tăng c-ờng phối hợp giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật và
Tòa án với các cơ quan nhà n-ớc, tổ chức xã hội và công dân
trong phát hiện, xử lý và cải tạo, giáo dục ng-ời phạm tội xâm
2.2
Sự khác nhau giữa tội xâm phạm chỗ ở của công dân với
tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn th- tín, điện thoại, điện
tín của ng-ời khác
52
2.3
Sự khác nhau giữa tội xâm phạm chỗ ở của công dân với
tội c-ớp tài sản
53
2.4
Tỷ lệ tổng số vụ và tổng số bị cáo đã đ-a ra xét xử trên
tổng số vụ và tổng số bị cáo bị đ-a ra xét xử theo Điều
124 Bộ luật hình sự (2000-2010)
66
2.5
Tổng số vụ, số bị cáo bị Tòa án xét xử về tội xâm phạm
chỗ ở của công dân trong 10 năm (2000-2010)
56 Danh mục các hình
Số hiệu
hình
Tên hình
Trang
1.1
Quyền con ng-ời, quyền công dân, quyền tự do, dân chủ
của công dân và quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của
công dân
trưng tự nhiên vốn có cần được tôn trọng và không thể bị tước đoạt của bất kỳ
2
cá nhân con người nào sinh ra trên trái đất, đồng thời phải được bảo vệ bằng
pháp luật bởi các quốc gia - thành viên Liên hợp quốc, cũng như bởi cộng
đồng quốc tế.
Hiện nay, nghiên cứu về quyền con người, quyền công dân, quyền tự
do, dân chủ của công dân nói chung và vấn đề bảo vệ các quyền này nói riêng
đã và đang là vấn đề được Nhà nước và toàn xã hội đặc biệt quan tâm, cũng
như thực thi các cơ chế để bảo đảm ngày càng được chú trọng. Bởi lẽ, cùng
với quá trình giải phóng dân tộc, sự thắng lợi của nhân dân toàn thế giới trong
việc bảo vệ các quyền của con người tồn tại ở các Nhà nước độc lập, đồng
thời cụ thể hóa các tư tưởng tiến bộ trong Bản tuyên ngôn toàn thế giới về
nhân quyền vào ngày 10/12/1948 của Đại Hội đồng Liên Hợp quốc, bản Hiến
pháp đầu tiên của Việt Nam được thông qua tháng 11/1946 đã có đến 11 điều
ghi nhận các quyền cơ bản của công dân, trong đó có các quyền tự do, dân
chủ như: quyền bình đẳng, quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do hội
họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, tự do đi lại, quyền bất khả xâm phạm về
thân thể và bất khả xâm phạm về nhà ở, thư tín Những quyền này cùng với
hệ thống các quyền khác tạo nên quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp
ghi nhận và bảo vệ bằng các ngành luật khác nhau.
Theo đó, quyền con người, quyền công dân, quyền tự do, dân chủ của
công dân và quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân thể hiện các mức
độ khác nhau của nội hàm của khái niệm nhân quyền. Nếu quyền con người là
khái niệm ở nghĩa rộng nhất thì quyền công dân hẹp hơn, quyền tự do, dân
chủ của công dân thuộc nội dung quyền công dân và quyền bất khả xâm phạm
về chỗ ở của công dân lại thuộc quyền tự do, dân chủ của công dân. Đến lượt
mình, quyền công dân lại cũng thuộc nội dung quyền con người. Cho nên, suy
cho cùng, việc làm rõ khái niệm các quyền này cũng chính là góp phần nghiên
cứu việc bảo vệ quyền con người, đồng thời phản ánh sự ghi nhận, thể hiện
con người trên toàn đất nước Việt Nam.
4
Hai nhóm quyền tự do và dân chủ của công dân là khách thể chung
của nhóm tội xâm phạm các quyền tự do, dân chủ của công dân được quy
định tại Chương XIII Bộ luật hình sự năm 1999. Do đó, trường hợp các hành
vi phạm tội xâm phạm tới các quyền tự do, dân chủ của công dân cũng có
nghĩa là đã trực tiếp xâm hại tới các quy định của Hiến pháp và pháp luật hình
sự, đồng thời thông qua việc gây thiệt hại cho công dân, các hành vi phạm tội
này còn gián tiếp gây thiệt hại cho việc thực hiện các đường lối, chủ trương
và chính sách xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước của Đảng và Nhà nước.
Như đã đề cập, chủ trương đổi mới toàn diện đất nước được đặt ra và
triển khai từ Đại hội lần thứ VI (năm 1986) của Đảng ta, trong đó có đề cập
đến việc "tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, trọng tâm là cải cách hành chính nhà nước". Do đó, cùng
với cải cách hành chính, cải cách kinh tế, thì cải cách tư pháp cũng là một đòi
hỏi khách quan, cấp thiết và mang tính quy luật để có thể thích ứng với những
đổi mới về văn hóa, kinh tế - xã hội, hệ thống chính trị Do đó, vấn đề này đã
chính thức được đặt ra tại các Đại hội sau đó của Đảng, đồng thời đã được
đánh dấu và ghi nhận trong các Nghị quyết 8 Trung ương khóa VII, Nghị
quyết 3 và 7 Trung ương khóa VIII, đặc biệt là Nghị quyết 08-NQ/TW ngày
02/01/2002 "Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian
tới" và Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị "Về Chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020". Cụ thể hóa điều này, đòi hỏi hệ thống
pháp luật nói chung, trong đó có pháp luật hình sự (và cả pháp luật tố tụng
hình sự) nói riêng phải ngày càng hoàn thiện và thực sự là công cụ hữu hiệu
của Nhà nước ta để bảo vệ một cách tối đa và đầy đủ nhất các quyền, tự do
của con người và của công dân.
Tuy nhiên, cùng với các quá trình này, bên cạnh những ưu điểm tích
cực, chúng ta cũng có không ít những thách thức, trong đó cũng phát sinh ra
Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, nơi sinh sống của công dân cũng
là một quyền rất cần thiết cho tự do cá nhân của mỗi công dân trong xã hội.
Chính vì vậy, quyền này cũng được Hiến pháp bảo đảm. Điều 73 Hiến pháp
6
năm 1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: " Công
dân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của
người khác nếu người đó không đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho
phép ". Trong nhóm các tội xâm phạm các quyền tự do, dân chủ của công
dân, các hành vi phạm tội đã nêu diễn ra tương đối phổ biến, trong đó đáng
chú ý là hành vi xâm phạm chỗ ở của công dân trong thực tiễn nhưng việc
điều tra, truy tố và xét xử loại tội phạm này còn chưa nhiều. Chẳng hạn, trong
mấy năm gần đây cho thấy, nếu năm 2007 là 07 vụ, 12 bị cáo; năm 2008 là 08
vụ, 17 bị cáo; năm 2009 là 09 vụ, 19 bị cáo và năm 2010 là 06 vụ và 08 bị
cáo Ngoài ra, việc áp dụng cũng chưa triệt để và quyết liệt với trường hợp
một số khó khăn, vướng mắc vì, một mặt nếu áp dụng không đúng dễ xâm
phạm, động chạm đến quyền tự do, dân chủ, quyền con người, quyền bất khả
xâm phạm về chỗ ở, nhưng mặt khác, nếu không áp dụng cũng rất dễ bỏ lọt
hành vi phạm tội và người phạm tội. Đặc biệt, một số dấu hiệu định tội, định
khung đối với tội phạm này cũng cần được các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền hướng dẫn thống nhất trong thực tiễn xét xử.
2. Tình hình nghiên cứu
Dưới góc độ khoa học pháp lý, trong thời gian qua việc nghiên cứu về
các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân nói chung bắt đầu đã
được nghiên cứu, còn nghiên cứu riêng rẽ và độc lập về tội xâm phạm chỗ ở
của công dân mới chỉ được đề cập gián tiếp qua phân tích chung về cả nhóm
tội thông qua các yếu tố cấu thành tội phạm (khách thể của tội phạm, mặt
khách quan của tội phạm, chủ thể của tội phạm và mặt chủ quan của tội
phạm) và hình phạt trên ba bình diện khoa học:
* Ở cấp độ giáo trình đại học, sách tham khảo, chuyên khảo hay sách
của công dân: Một số khía cạnh pháp lý hình sự, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 6
(tháng 3)/2007. Tuy nhiên, bài viết này cũng chỉ đề cập chung đến cả nhóm
tội phạm xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân.
8
Như vậy, qua nghiên cứu nội dung các công trình trên cho thấy: một
số công trình có phạm vi nghiên cứu rộng và chung cả nhóm tội, trong đó vấn
đề về tội xâm phạm chỗ ở của công dân chỉ là một phần nhỏ trong nội dung
nghiên cứu của các tác giả trong các giáo trình, sách bình luận, nên chưa được
phân tích sâu về mặt lý luận và thực tiễn, đặc biệt là nghiên cứu độc lập và
đánh giá thực tiễn xét xử của Tòa án ở nước ta từ năm 2000-2010. Do đó, cho
đến nay, vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu độc lập, có hệ
thống và ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học dưới góc độ pháp lý hình sự
về tội xâm phạm chỗ ở của công dân. Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu lý luận
để hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về tội xâm phạm
chỗ ở của công dân, phân tích thực tiễn xét xử tội phạm này từ năm 2000-
2010, cũng như đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định
của Bộ luật hình sự về tội phạm này rõ ràng vẫn có ý nghĩa về mặt chính trị -
xã hội và thực tiễn - pháp lý quan trọng. Từ những lý do trên, học viên quyết
định lựa chọn đề tài "Tội xâm phạm chỗ ở của công dân trong luật hình sự
Việt Nam" làm luận văn thạc sĩ luật học của mình.
3. Mục đích và đối tượng nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống về những vấn đề pháp lý
cơ bản của tội xâm phạm chỗ ở của công dân như: khái niệm, các dấu hiệu
pháp lý và hình phạt đối với người phạm tội, phân biệt tội xâm phạm chỗ ở
của công dân với một số tội phạm khác có liên quan trong Bộ luật hình sự,
đồng thời đi sâu vào phân tích thực tiễn xét xử tội xâm phạm chỗ ở của công
dân từ năm 2000-2010. Trên cơ sở đó, luận văn chỉ ra một số vướng mắc, tồn
tại trong công tác xử lý, định tội để đề xuất một số kiến nghị, giải pháp hoàn
10
có sự nhầm lẫn trong thực tiễn; làm sáng tỏ các quy định của Bộ luật hình sự
năm 1999 về tội xâm phạm chỗ ở của công dân; phân tích thông qua nghiên
cứu thực tiễn xét xử trên địa bàn toàn quốc từ năm 2000-2010 và nghiên cứu
thông qua các bản án hình sự của Tòa án để đánh giá, đồng thời qua đó chỉ ra
một số mâu thuẫn, bất cập của các quy định hiện hành; chỉ ra các sai sót trong
quá trình áp dụng các quy định đó, cũng như đưa ra nguyên nhân để tìm giải
pháp khắc phục, đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy
định của Bộ luật hình sự về tội xâm phạm chỗ ở của công dân ở khía cạnh lập
pháp và việc áp dụng trong thực tiễn (đó là giải pháp về mặt tội phạm học).
5.2. Về thực tiễn
Luận văn còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo lý luận, có thể sử
dụng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu, học tập. Một số đề xuất, kiến nghị
của luận văn sẽ cung cấp những luận cứ khoa học phục vụ cho công tác lập
pháp và hoạt động thực tiễn áp dụng Bộ luật hình sự Việt Nam liên quan đến
tội xâm phạm chỗ ở của công dân, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả công
tác đấu tranh phòng, chống tội này ở nước ta hiện nay và sắp tới.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Các vấn đề chung về tội xâm phạm chỗ ở của công dân
trong luật hình sự Việt Nam
Chương 2: Tội xâm phạm chỗ ở của công dân theo quy định của Bộ
luật hình sự Việt Nam năm 1999 và thực tiễn xét xử
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và những giải pháp nâng cao hiệu
quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 về tội xâm
phạm chỗ ở của công dân.
tưởng này góp phần thắng lợi vào cách mạng tư sản lật đổ chế độ phong kiến
tàn bạo, thiết lập Nhà nước mà ở đó con người với những giá trị đích thực của
13
nó được nâng lên một bước - công dân của xã hội Nhà nước chứ không phải
thần dân của ông vua.
Khác với các Nhà nước phong kiến và tư bản phương tây, chế độ Nhà
nước phong kiến Việt Nam trải qua hàng nghìn năm lịch sử, nói chung vẫn
mang tính hà khắc. Song, thời kỳ đó "phép vua" và "lệ làng" có tính dân tộc,
nhân đạo, tiến bộ và được thể hiện rõ nét trong Quốc triều Hình luật là Bộ luật
do Nguyễn Trãi soạn thảo, được ban hành năm 1843 có kế thừa, bổ sung
những luật lệ được ban hành từ rất nhiều năm trước và được nhiều Bộ luật,
luật sau này tiếp thu những tư tưởng tiến bộ. Và suốt các triều đại phong kiến
Việt Nam, vua mệnh danh là con trời, cai trị trên nền tảng tư tưởng nho giáo
bị các triết lý nho giáo, điều chỉnh hành vi của mình. Vua là cha mẹ của dân,
buộc phải thích cái dân thích, ghét cái dân ghét bởi "ý trời là lòng dân". Do
đó, vương quyền của vua bị hạn chế, dân cũng có được một số yếu tố về các
quyền dù còn nhỏ nhặt mang tính cộng đồng.
Như vậy, trong các thời kỳ cổ đại và phong kiến, tư tưởng về quyền
con người đã được đề cập đến nhưng còn rời rạc. Khi cách mạng tư sản nổ ra
thắng lợi với những tiền đề tư tưởng và thành tựu của khoa học tự nhiên thì
vấn đề quyền con người mới được đặt ra như một học thuyết, hay nói cách
khác, quyền con người bắt đầu được chính thức công khai thừa nhận. Có thể
nói rằng, sự kiện này được đánh dấu bằng Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng
quốc Hoa Kỳ năm 1776 và sau đó là Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền
của Pháp năm 1789. Theo đó, "lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, quyền con
người chuyển từ phạm vi thỉnh cầu, yêu sách sang phạm vi thực hiện, từ lĩnh
vực triết học sang lĩnh vực pháp lý thực tiễn" [31, tr. 27].
Quyền con người, quyền công dân, quyền tự do, dân chủ của công dân
và quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở (hay còn gọi là quyền tự do chỗ ở) thể
là thống nhất với nhau.
Có quan niệm cho rằng:
15
Quyền con người là những đặc lợi vốn có tự nhiên mà chỉ
con người mới được hưởng trong những điều kiện chính trị, kinh tế,
văn hóa, xã hội nhất định. Quyền con người vừa mang tính tự nhiên,
vừa mang tính xã hội; mang tính phổ biến nhưng lại mang tính đặc
thù; mang tính giai cấp, đồng thời mang tính nhân loại và thống
nhất với quyền dân tộc cơ bản [55, tr. 14].
"Nội dung của quyền con người được đề ra, xuất phát từ điều kiện,
hoàn cảnh cụ thể của từng giai đoạn cách mạng, từ bản chất của chế độ ta.
Quyền con người gắn với quyền dân tộc cơ bản và thuộc phạm vi của chủ
quyền quốc gia " [55, tr. 17].
Quan điểm khác đã đưa ra định nghĩa tương đối khác biệt khi chỉ ra
một số điểm hợp lý với Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, các văn bản
quốc tế về quyền con người và phù hợp với các giá trị nền tảng của quyền con
người, nhưng đặc biệt lại nêu cả nghĩa vụ của con người trong thời kỳ đổi
mới, điều mà các khái niệm khác không đề cập. Theo đó, "quyền con người là
nhân phẩm, các nhu cầu (về vật chất và tinh thần), lợi ích cùng với nghĩa vụ
của con người được thể chế hóa trong các quy định của pháp luật quốc tế và
pháp luật quốc gia " [52, tr. 19].
Ngoài ra, nhấn mạnh tầm quan trọng và ý nghĩa của việc nghiên cứu
về quyền con người, GS. TSKH. Lê Cảm đã đưa ra khái niệm bao hàm đầy đủ
nội dung của nó:
Quyền con người - một phạm trù lịch sử - cụ thể, là giá trị
xã hội cao quý nhất được thừa nhận chung của nền văn minh nhân
loại và là đặc trưng tự nhiên vốn có cần được tôn trọng và không
thể bị tước đoạt của bất kỳ cá nhân con người nào sinh ra trên trái
đất, đồng thời phải được bảo vệ bằng pháp luật bởi các quốc gia -
17
Một là, quyền con người có tính giai cấp, tính giai cấp thể hiện việc
Nhà nước ghi nhận quyền con người trong Hiến pháp và pháp luật.
Hai là, quyền con người là các quyền tự nhiên mà các cá nhân, từng con
người cụ thể phải có, nó là đặc trưng tự nhiên vốn có của con người sinh ra
trên trái đất, cần được Nhà nước, xã hội tôn trọng và bảo vệ. Quyền con người
là một trong những giá trị xã hội cao quý nhất, đó là những đặc quyền mang
tính tự nhiên mà nổi bật là quyền được sống, được bảo vệ, được tự do phát
triển. Chính vì vậy, quyền con người thể hiện tính nhân đạo và tính pháp luật.
Ba là, quyền con người có mối liên hệ với kinh tế, văn hóa, xã hội,
truyền thống - lịch sử. Trong các yếu tố đó, "yếu tố về kinh tế là định hướng
quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề về quyền con người" [24, tr. 23].
Quyền con người góp phần thúc đẩy và duy trì sự tăng trưởng kinh tế bền
vững, đồng thời chỉ khi các quyền con người được bảo đảm mới tạo ra sự
năng động của xã hội trên mọi lĩnh vực trong đó có lĩnh vực kinh tế.
Bốn là, quyền con người có mối quan hệ chặt chẽ với dân chủ và pháp
luật. Dân chủ tạo điều kiện cho quyền con người phát triển, mở rộng và ngược
lại quyền con người là nhân tố để thúc đẩy dân chủ phát triển hơn. Còn với
pháp luật, - lại có vai trò quan trọng trong việc ghi nhận, tôn trọng và bảo đảm
quyền con người, quyền công dân, và ngược lại đến lượt mình, quyền con
người lại là điều kiện để thúc đẩy pháp luật tiến bộ, phát triển và vì con người,
đồng thời làm cho pháp luật ngày càng hoàn thiện hơn.
Năm là, quyền con người được quy định trong nhiều văn bản pháp
luật, trong đó nó được quy định trong các văn bản pháp luật quốc tế và cả các
văn bản pháp luật quốc gia. Đặc biệt là, trong Hiến pháp và pháp luật Việt
Nam, các quyền con người được bảo đảm về: dân sự và chính trị; về thực hiện
các quyền con người về kinh tế, văn hóa và xã hội và; bảo đảm quyền của phụ
nữ, chăm sóc và bảo vệ trẻ em, gia đình, người già, người tàn tật; v.v
18
Nam đối với công dân Việt Nam [50, Điều 1].
Như vậy, quốc tịch là dấu hiệu được pháp luật mọi quốc gia trên thế
giới sử dụng để xác định tư cách công dân của nước mình. Người có quốc tịch
nước nào thì là công dân của nước đó. Hiến pháp và Luật Quốc tịch nước ta
quy định: "Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có
quốc tịch Việt Nam" [45, Điều 49]; "Người có quốc tịch Việt Nam là công dân
Việt Nam" [50, Điều 5].
Quốc tịch xác định một cá nhân là công dân của một quốc gia, đồng
thời là căn cứ phát sinh mối quan hệ quyền - nghĩa vụ giữa cá nhân này với
quốc gia đó. Mối quan hệ quyền - nghĩa vụ giữa nhà nước với công dân (cá
nhân mang quốc tịch nước mình) thể hiện như sau:
Một là, về phía Nhà nước, có quyền quy định các quyền, nghĩa vụ của
công dân bằng pháp luật, đồng thời còn có quyền phán xét các hành vi vi
phạm pháp luật của công dân, cũng như có nghĩa vụ bảo vệ các quyền, lợi ích
của công dân khi bị xâm phạm đến.
Hai là, về phía công dân, phải có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp và pháp
luật do Nhà nước đặt ra, đồng thời họ cũng có quyền yêu cầu Nhà nước bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Do đó, quyền công dân là một khía cạnh biểu hiện của mối quan hệ
pháp lý giữa một bên là Nhà nước và công dân. Vì vậy, dưới góc độ khoa học,
theo chúng tôi khái niệm quyền công dân được hiểu là những quyền mà
công dân được hưởng khi Nhà nước quy định và bảo đảm thực hiện trong
thực tế. (Các quyền công dân gồm các quyền về chính trị, các quyền về kinh
tế, các quyền về văn hóa - xã hội, các quyền tự do dân chủ, tự do cá nhân).
Giữa hai khái niệm quyền con người và quyền công dân thì khái niệm
quyền công dân mang tính xác định hơn, gắn liền với mỗi quốc gia, được
pháp luật của mỗi quốc gia ghi nhận. Ngoài ra, trong khi quyền con người là