TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI
----------
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 37 (2011-2015)
Đề tài:
PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH
TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
ThS. LÊ HUỲNH PHƯƠNG CHINH
TRẦN THỊ THƠ
MSSV: 5116024
Lớp: Luật Thương mại 2
Cần Thơ, tháng 12 năm 2014
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI
----------
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
Cần Thơ, ngày…..tháng…..năm 2014
Giảng viên hướng dẫn
Lê Huỳnh Phương Chinh
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
vực ngân hàng .................................................................................................... 14
2.1.1. Chỉ dẫn gây nhầm lẫn trong lĩnh vực ngân hàng .................................. 14
2.1.2. Xâm phạm bí mật kinh doanh và ép buộc khách hàng trong kinh doanh
trong lĩnh vực ngân hàng ................................................................................ 15
2.1.2.1. Xâm phạm bí mật kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng ................... 15
2.1.2.2. Ép buộc khách hàng trong kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng ..... 18
2.1.3. Dèm pha và gây rối hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng khác . 19
2.1.3.1. Dèm pha tổ chức tín dụng khác ........................................................ 19
2.1.3.2. Gây rối hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng khác ................. 21
2.1.4. Quảng cáo và khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh trong
lĩnh vực ngân hàng .......................................................................................... 22
2.1.4.1. Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân
hàng .............................................................................................................. 22
2.1.4.2. Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân
hàng .............................................................................................................. 24
2.1.5. Phân biệt đối xử của hiệp hội ................................................................ 26
2.1.6. Lạm dụng cơ chế lãi suất trong cạnh tranh ........................................... 26
2.2. Quy định pháp luật về hành vi hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực ngân
hàng..................................................................................................................... 28
2.2.1. Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng .................. 28
2.2.2. Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và vị trí độc quyền trong lĩnh vực
ngân hàng ........................................................................................................ 31
2.2.2.1. Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường trong lĩnh vực ngân hàng ....... 31
2.2.2.2. Lạm dụng vị trí độc quyền trong lĩnh vực ngân hàng ........................ 34
2.2.3. Tập trung kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng ......................................... 35
2.2.3.1. Hình thức tập trung kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng....................... 35
2.2.3.1.1. Sáp nhập tổ chức tín dụng .......................................................... 36
2.2.3.1.2. Hợp nhất tổ chức tín dụng .......................................................... 37
3.2.4.1. Tái cấu trúc các tổ chức tín dụng...................................................... 58
3.2.4.2. Tái cấu trúc môi trường cạnh tranh của các tổ chức tín dụng ........... 59
TỔNG KẾT CHƯƠNG 3 ..................................................................................... 61
KẾT LUẬN ...................................................................................................................... 62
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hội nhập kinh tế đem lại cho Việt Nam nhiều cơ hội phát triển, song song với
đó là không ít những khó khăn và thử thách. Một trong những khó khăn và thách thức
quan trọng mà chúng ta đã và đang từng bước hoàn thiện, đó chính là một hành lang
pháp lý thật sự vững chắc. Đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng, phải càng được chú
trọng bởi khi có sự xuất hiện của ngày một nhiều các tổ chức tín dụng với đa đạng
hình thức và loại hình kinh doanh. Việt Nam sẽ phải thực hiện chính sách không phân
biệt đối xử giữa các ngân hàng trong nước và ngoài nước. Thực tế đó dẫn đến cạnh
tranh trong lĩnh vực ngân hàng càng trở nên quyết liệt hơn trong cuộc đua đáp ứng
nhu cầu ngày càng cao của nền kinh tế.
Tuy nhiên, tình trạng bất bình đẳng và môi trường cạnh tranh không minh
bạch cũng đang tồn tại ngay trong các tổ chức tín dụng trong nước và nước ngoài, các
tổ chức tín dụng bất chấp các quy định của pháp luật, đạo đức kinh doanh. Chính điều
này đang tạo ra nhiều tác động đối với các vấn đề kinh tế – xã hội. Là một lĩnh vực
quan trọng và nhạy cảm trong nền kinh tế, ngành ngân hàng cần phải có quy định
pháp lý hết sức chặt chẽ và hiện đại để điều chỉnh hành vi cạnh tranh rất đa dạng và
liên tục thay đổi nhằm duy trì một trường kinh doanh lành mạnh, minh bạch cho các
tổ chức tín dụng. Chính từ đó người viết nhận thấy việc nghiên cứu tìm hiểu về những
quy định hiện hành của pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng đối với tổ
chức tín dụng là cần thiết. Thông qua quá trình tìm hiểu những quy định của pháp
về thực trạng cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng và đề xuất giải pháp hoàn thiện
quy định của pháp luật. Do giới hạn về khả năng, điều kiện và thời gian nên người
viết chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản nhất về cạnh tranh trong lĩnh vực
ngân hàng trên cơ sở của pháp luật hiện hành và không nghiên cứu những quy định
không liên quan trực tiếp đến hoạt động cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng.
4. Phương pháp nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu đề tài này, người viết kết hợp nhiều phương pháp nghiên
cứu khác nhau. Cụ thể là: phương pháp tổng hợp từ hệ thống văn bản pháp luật kết
hợp với các sách báo, tạp chí chuyên ngành; phương pháp phân tích nhằm làm rõ nội
dung, khía cạnh đang đề cập; phương pháp quy nạp để xâu chuỗi các vấn đề lại với
nhau; phương pháp so sánh đối chiếu các quy định của pháp luật điều chỉnh cùng một
vấn đề. Tất cả các phương pháp nghiên cứu kết hợp lại với nhau đã hỗ trợ người viết
hoàn thiện nội dung nghiên cứu này.
5. Bố cục của đề tài
Nội dung đề tài người viết trình bày với 3 chương cùng với các phần bổ trợ
như Lời nói đầu và Kết luận, cụ thể:
GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh
2
SVTH: Trần Thị Thơ
Pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng
Chương 1: Khái quát về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng
Người viết đề cập đến một số khái niệm liên quan đến cạnh tranh trong lĩnh
vực ngân hàng, đặc trưng của cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng và tác động của
cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng. Mục đích nhằm tạo nên những hiểu biết ban đầu
làm tiền đề cho việc đi sâu nghiên cứu các quy định cụ thể của pháp luật ở Chương 2.
tế nhất định – cơ chế thị trường, nơi pháp luật thừa nhận và bảo đảm chế độ sở hữu đa
thành phần, quyền tự do ý chí trong đó có tự do kinh doanh của cá nhân. Mặt khác,
pháp luật cũng phải bảo đảm trên thị trường sẽ không tồn tại bất kỳ một rào cản nào
từ quản lý hành chính hay của các chủ thể kinh doanh có sức mạnh thị trường đối với
các doanh nghiệp tiềm năng, chuẩn bị hoặc mới gia nhập thị trường. Có tự do cạnh
tranh nền kinh tế thị trường mới vận hành theo đúng quy luật tất yếu của nó và phát
huy nội lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Nếu thừa nhận cạnh tranh là động lực
phát triển của xã hội, là yếu tố làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội khi nhà nước
đảm bảo sự bình đẳng trước pháp luật của các chủ thể thuộc mọi thành phần kinh tế
thì nó cũng kéo theo hệ quả đào thải – có nghĩa là chủ thể yếu kém sẽ có xu hướng bị
loại ra khỏi thị trường – và những ảnh hưởng tiêu cực đối với nền kinh tế của cạnh
tranh1.
Sự đa dạng hoạt động cạnh tranh trong thực tiễn kinh doanh đã kéo theo những
tranh luận: liệu có thể đạt được sự thống nhất trong quan niệm về cạnh tranh được
hay không. Từ trước tới nay, đã có khá nhiều định nghĩa, cách hiểu khác nhau về
cạnh tranh.
Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Cạnh tranh là tranh đua giữa những cá nhân,
tập thể có chức năng như nhau, nhằm giành phần hơn, phần thắng về phía mình.”2.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt
động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà
1
Ts. Tăng Văn Nghĩa, Giáo trình Luật cạnh tranh, Trường đại học Ngoại thương, NXB Giáo dục Việt Nam
2009, tr. 7.
2
Từ điển tiếng Việt, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội 1998, tr. 258.
GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh
3
Bùi Thị Thanh Hà, Từ điển Bách khoa Việt Nam – Tập 1 (A – Đ), NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội 2000, tr.
721.
4
Ts. Tăng Văn Nghĩa, Giáo trình Luật cạnh tranh, Trường đại học Ngoại thương, NXB Giáo dục Việt Nam
2009, tr. 8.
5
Ts. Tăng Văn Nghĩa, Giáo trình Luật cạnh tranh, Trường đại học Ngoại thương, NXB Giáo dục Việt Nam
2009, tr. 78.
GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh
5
SVTH: Trần Thị Thơ
Pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng
các nguồn lực của mình để giành và vượt lên các đối thủ cạnh tranh khẳng định vị trí
của mình trong thị trường tiền tệ”6.
1.1.2. Khái niệm cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng
Cạnh tranh với bản chất là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh trong việc
giành ưu thế của mình trên thị trường để đạt được một mục tiêu nào đó. Để đạt được
mục tiêu của mình, chủ thể tham gia cạnh tranh có khả năng sáng tạo rất nhiều cách
thức ganh đua khác nhau, tạo thành tình trạng cạnh tranh ở những mức độ khác nhau,
thậm chí xuất hiện những hành vi trái với các chuẩn mực đạo đức kinh doanh. Cạnh
tranh không lành mạnh, trước hết, là một khái niệm bắt nguồn từ những quy định
mang tính nguyên tắc trong pháp luật dân sự, theo đó, các chủ thể trong giao dịch
Pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng
Khái niệm cạnh tranh không lành mạnh được quy định rõ ràng trong Luật
Cạnh tranh: “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh
nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức
kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng.”7.
Sự cạnh tranh này đã và đang góp phần sàng lọc các ngân hàng, loại bỏ các tổ
chức tín dụng yếu kém và khách hàng được hưởng lợi nhiều hơn. Tuy nhiên, trên thị
trường cũng đã xuất hiện nhiều hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh. Hành vi
cạnh tranh không lành mạnh có mức độ ảnh hưởng tiêu cực trên thị trường hẹp,
thường chỉ tác động đến một số chủ thể nhất định mà không ảnh hưởng đến một khu
vực thị trường rộng như hành vi hạn chế cạnh tranh. Tuy nhiên, đối với lĩnh vực ngân
hàng, do sự khác biệt trong hoạt động, việc xác định mức độ ảnh hưởng của hành vi
cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng cần được hiểu là trên phạm vi
rộng, trên toàn bộ thị trường ngân hàng.
Có thể rút ra định nghĩa hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực
ngân hàng như sau: “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân
hàng là hành vi của các tổ chức, cá nhân có liên quan trong hoạt động ngân hàng
trái với những chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có
thể gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp khác của tổ chức tín dụng, đến việc
thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, an toàn của hệ thống các tổ chức tín dụng.”8.
1.1.3. Khái niệm hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng
Khi các hành vi cạnh tranh diễn ra sẽ dẫn đến những hậu quả thay đổi về cấu
trúc thị trường, về sức mạnh thị trường của các chủ thể tham gia. Những hành vi cạnh
tranh của doanh nghiệp có sức mạnh thị trường thường mang lại hậu quả nhạy cảm
trên thị trường, các đối thủ cạnh tranh khác rất dễ bị tác động tiêu cực, bị thiệt hại bởi
những hành vi từ những chủ thể đó. Nó cũng có thể dẫn đến con đường hình thành
độc quyền thông qua việc họ liên kết lại với nhau nhằm tạo ra ưu thế cạnh tranh đáng
khả năng gây thiệt hại cao hơn. Đồng thời, do sự xuất hiện của quyền lực thị trường
nên các biện pháp trừng phạt mang tính dân sự như bồi thường thiệt hại hay cải chính
công khai sẽ không thể phát huy hiệu quả một cách tối ưu. Vì lẽ đó, công quyền đã
không thể sử dụng cùng một biện pháp để áp dụng cho cả hai loại hành vi trên11.
Đối với hệ thống các tổ chức tín dụng, hành vi hạn chế cạnh tranh của các
ngân hàng cũng không có nhiều điểm khác biệt so với các loại hình doanh nghiệp
khác. Xét về mặc chủ thể, hành vi hạn chế cạnh tranh có thể được thực hiện thông
qua một hoặc một số tổ chức tín dụng đã có sức mạnh trong thị trường ngân hàng
hoặc hướng đến việc hình thành nên sức mạnh thị trường bằng cách thỏa thuận hoặc
tập trung kinh tế. Các hành vi này được thực hiện nhằm mục đích làm biến dạng cạnh
tranh, làm thay đổi cấu trúc cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng giữa các tổ chức tín
dụng với nhau, nhằm loại bỏ đối thủ hoặc ngăn cản đối thủ tiềm năng của mình.
Theo đó, có thể nói: Hành vi hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng là
hành vi của các tổ chức tín dụng làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trong hoạt
động ngân hàng bao gồm hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí
9
Ts. Tăng Văn Nghĩa, Giáo trình Luật cạnh tranh, Trường đại học Ngoại thương, NXB Giáo dục Việt Nam
2009, tr. 79.
10
Khoản 3, Điều 3, Luật Cạnh tranh năm 2004.
11
Lê Danh Vĩnh, Pháp luật Cạnh tranh tại Việt Nam, NXB Tư pháp, Hà Nội 2006, tr. 50, 51.
GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh
8
SVTH: Trần Thị Thơ
như một tổ chức tín dụng bị khó khăn trong kinh doanh, có nguy cơ đổ vỡ, thì tất yếu
sẽ tác động dây chuyền đến gần như tất cả các tổ chức tín dụng khác cũng sẽ bị “vạ
GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh
9
SVTH: Trần Thị Thơ
Pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng
lây”. Đây quả là điều mà các tổ chức tín dụng không bao giờ mong muốn. Chính vì
vậy, các tổ chức tín dụng trong kinh doanh luôn vừa phải cạnh tranh lẫn nhau để dành
giật thị phần, nhưng luôn phải hợp tác với nhau, nhằm hướng tới một môi trường lành
mạnh để tránh rủi ro hệ thống.
Thứ ba, do hoạt động của các tổ chức tín dụng có liên quan đến tất cả các chủ
thể, đến mọi mặt hoạt động kinh tế – xã hội, cho nên, để tránh sự hoạt động của các tổ
chức tín dụng mạo hiểm nguy cơ đổ vỡ hệ thống, tất cả Ngân hàng Trung ương các
nước đều có sự giám sát chặt chẽ thị trường này và đưa ra hệ thống cảnh báo sớm để
phòng ngừa rủi ro. Thực tiễn đã chỉ ra những bài học đắt giá, khi mà Ngân hàng
Trung ương thờ ơ trước những diễn biến bất lợi của thị trường đã dẫn đến hậu quả là
sự đổ vỡ của thị trường tài chính – tiền tệ làm suy sụp toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Chính vì vậy, nên sự cạnh tranh trong hệ thống các tổ chức tín dụng không thể dẫn
đến làm suy yếu và thôn tính lẫn nhau như các loại hình kinh doanh khác trong nền
kinh tế.
1.3. Tác động của cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng
1.3.1. Tác động tích cực của cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng
Cạnh tranh lành mạnh trong ngành ngân hàng Việt Nam luôn được khuyến
khích, nhờ đó đã góp phần trực tiếp tạo nên sự phát triển dịch vụ khá ngoạn mục trên
mọi phương diện sau hơn 25 năm đổi mới, cụ thể: gia tăng và ngày càng đa dạng loại
hàng thương mại trong kinh doanh thẻ đã cho phép thẻ của một ngân hàng thương
mại phát hành có thể rút tiền mặt tại các ATM của một số ngân hàng khác trong cùng
một liên minh.
- Theo cách phân nhóm của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội thì trong Hệ thống
ngân hàng Việt Nam, hiện có 6 nhóm sở hữu chéo khác nhau như: Sở hữu của các
ngân hàng trong nước và nước ngoài tại các ngân hàng liên doanh; Cổ đông chiến
lược nước ngoài sở hữu tại các ngân hàng thương mại trong nước; Cổ đông tại các
ngân hàng là các công ty quản lý quỹ; Sở hữu của các ngân hàng thương mại nhà
nước tại các ngân hàng thương mại cổ phần; Sở hữu lẫn nhau giữa các ngân hàng
thương mại cổ phần; Sở hữu ngân hàng cổ phần bởi các tập đoàn, tổng công ty nhà
nước và tư nhân12.
Để nâng cao năng lực cạnh tranh, các ngân hàng thương mại đã và đang nâng
cao chất lượng dịch vụ, tăng tốc độ xử lý thông tin, tăng cường tính bảo mật, đem lại
nhiều tiện ích cho khách hàng và tiết kiệm chi phí cho ngân hàng13.
12
Nguyễn Thị Hương Thanh, Nhận diện 6 nhóm sở hữu chéo trong ngân hàng, Báo Đầu tư Chứng khoán,
, [truy cập
ngày 26/7/2014].
13
Trịnh Thanh Huyền, Dịch vụ ngân hàng hiện đại ở Việt Nam: Kết quả đạt được và những hạn chế, Ngân
hàng Thương mại Cổ phần Công Thương Việt Nam,
[truy cập ngày 26/7/2014].
GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh
11
SVTH: Trần Thị Thơ
Về nguyên lý, thị trường tài chính có mức độ cạnh tranh cao luôn là cơ hội cho
khách hàng của họ - với tư cách là những người hưởng lợi nhờ chi phí giảm. Tuy
nhiên, thực tế tại Việt Nam những năm qua lại không cho thấy điều này, thậm chí
GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh
12
SVTH: Trần Thị Thơ
Pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng
ngược lại, các khách hàng lại đang phải gánh chịu những chi phí giao dịch ngày càng
tăng lên. Các phân tích trên đây đã chỉ ra thực trạng này. Sở dĩ các doanh nghiệp, tổ
chức kinh tế tại Việt Nam vẫn phải chấp nhận vay vốn với lãi suất cao tại các tổ chức
tín dụng vì thực tế họ cũng không có cách nào khác để có thể tiếp cận được nguồn
vốn, do thị trường tài chính hoạt động rất kém hiệu quả. Một khi thị trường vốn vẫn
là sân chơi của các tổ chức tín dụng, không có gì lạ khi các ngân hàng thương mại tùy
tiện tăng lãi suất, và cũng không có gì ngạc nhiên khi việc tăng lãi suất bất chấp các
giới hạn qui định của luật pháp.
TỔNG KẾT CHƯƠNG 1
Tóm lại, ở chương này, luận văn đã hệ thống một cách khái quát những vấn đề
liên quan đến cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng như khái niệm, đặc điểm của cạnh
tranh trong lĩnh vực ngân hàng, bên cạnh đó cũng cũng đưa ra khái niệm về cạnh
tranh không lành mạnh và hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng, tác động tích
cực và hệ quả của cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng đối với nền kinh tế – xã hội,
các tổ chức tín dụng và khách hàng của các tổ chức tín dụng. Qua đó, chúng ta thấy
được tầm quan trọng của việc cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng để có
những biện pháp đặc biệt để thực hiện nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của các tổ
chức tín dụng. Bên cạnh đó, có cái nhìn đúng đắn hơn về cạnh tranh không lành mạnh
cấm doanh nghiệp sử dụng các chỉ dẫn chứa đựng thông tin gây nhầm lẫn về hàng
hóa, dịch vụ, làm sai lệch nhận thức của khách hàng nhằm mục đích cạnh tranh. Đồng
thời, Luật Cạnh tranh cũng quy định cấm doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
có sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn14.
Việc nhầm lẫn ở đây không chỉ là nhầm lẫn làm sai lệch nhận thức của khách
hàng về hàng hóa, dịch vụ cung cấp, về chỉ dẫn thương mại của hàng hóa mà còn tạo
ra sự nhầm lẫn với hàng hóa, dịch vụ với thương nhân khác. Mục đích của chủ thể
kinh doanh đưa ra chỉ dẫn gây nhầm lẫn là thông qua sự nhầm lẫn của khách hàng để
họ có thể chấp nhận hàng hóa hoặc dịch vụ mà trong nhận thức thông thường thì họ
không chấp nhận hàng hóa, dịch vụ như vậy. Điều này không chỉ làm thiệt hại đối với
14
Khoản 1 Điều 39 và Điều 40 Luật Cạnh tranh năm 2004.
GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh
14
SVTH: Trần Thị Thơ
Pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng
người tiêu dùng mà còn đối với các chủ thể kinh doanh khác cùng loại hàng hóa hoặc
dịch vụ tương tự.
Biểu hiện của việc chỉ dẫn gây ra nhầm lẫn thông qua nhiều cách khác nhau,
nhưng xét chung lại, chúng đều làm cho khách hàng cũng như người tiêu dùng nhận
thức không đúng về hàng hóa, dịch vụ được cung cấp.
Trong hoạt động thương mại nói chung, việc cung cấp thông tin dễ gây nhầm
lẫn thường liên quan tới sự không rõ ràng về việc nhận dạng nhà cung cấp hàng hóa,
dịch vụ. Còn trong lĩnh vực ngân hàng, việc cung cấp thông tin gây nhầm lẫn có thể
Pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng
quyết kỹ thuật đều có thể là những tài liệu riêng được lưu giữ với chế độ bảo mật cao
thấp tùy theo mức độ đánh giá của chủ sở hữu.
Dưới góc độ pháp luật cạnh tranh, bí mật kinh doanh không phải là bí mật
thông thường, nó phải thỏa mãn những điều kiện nhất định để có thể trở thành đối
tượng được bảo vệ bởi pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh. Theo quy định
của Luật Cạnh tranh, bí mật kinh doanh là thông tin có đủ các điều kiện sau16:
- Không phải là hiểu biết thông thường;
- Có khả năng áp dụng trong kinh doanh và khi được sử dụng sẽ tạo cho người
nắm giữ thông tin đó có lợi thế hơn so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng
thông tin đó;
- Được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để thông tin đó
không bị tiết lộ và không dễ dàng tiếp cận được.
Việc một doanh nghiệp xâm phạm bí mật kinh doanh của một doanh nghiệp
khác thông qua việc tiếp cận, thu thập thông tin, thuộc bí mật kinh doanh hoặc tiết lộ,
hoặc sử dụng thông tin thuộc bí mật kinh doanh của doanh nghiệp khác… sẽ gây bất
lợi trong cạnh tranh cho doanh nghiệp đó. Vì vậy, để đảm bảo môi trường cạnh tranh
lành mạnh, công bằng giữa các chủ thể, Luật Cạnh tranh quy định cấm doanh nghiệp
thực hiện các hành vi sau đây17:
- Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh bằng cách chống lại các
biện pháp bảo mật của người sở hữu hợp pháp bí mật kinh doanh đó;
- Tiết lộ, sử dụng thông tin thuộc bí mật kinh doanh mà không được phép của
chủ sở hữu bí mật kinh doanh;
- Vi phạm hợp đồng bảo mật hoặc lừa gạt, lợi dụng lòng tin của người có
nghĩa vụ bảo mật nhằm tiếp cận, thu thập và làm lộ thông tin thuộc bí mật kinh doanh
của chủ sở hữu bí mật kinh doanh đó;
- Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh của người khác, khi
người này làm thủ tục theo quy định của pháp luật liên quan đến kinh doanh, làm thủ
đoạt những thông tin bảo mật của tổ chức tín dụng;
- Tiết lộ những thông tin thuộc bí mật kinh doanh của tổ chức tín dụng mà
không được phép;
- Lừa gạt, mua chuộc, lợi dụng lòng tin của nhân viên bảo mật của tổ chức tín
dụng cạnh tranh nhằm thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh của tổ chức tín
dụng này;
- Tiếp cận thông tin, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh của tổ chức tín
dụng khi tổ chức tín dụng này làm các thủ tục hành chính nhà nước, ví dụ như đăng
ký thêm loại hình dịch vụ ngân hàng, hoặc dùng các biện pháp thâm nhập hệ thống
thông tin bảo mật của cơ quan nhà nước để chiếm đoạt thông tin về tổ chức tín dụng
khác nhằm mục đích phục vụ hoạt động kinh doanh của mình.
GVHD: Lê Huỳnh Phương Chinh
17
SVTH: Trần Thị Thơ
Pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng
2.1.2.2. Ép buộc khách hàng trong kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng
Trong xã hội hiên đại và nền kinh tế thị trường, tự do kinh doanh là quyền
không thể thiếu của bất kỳ chủ thể kinh doanh nào về mặt thực tế cũng như tiềm
năng. Vì mục tiêu đạt được lợi thế cạnh tranh, chủ thể kinh doanh cũng có thể sử
dụng những hành vi cạnh tranh không lành mạnh thông qua việc dồn khách hàng vào
tình thế bắt buộc phải chấp nhận ký kết hợp đồng hoặc thừa nhận các điều kiện
thương mại không mong muốn mà do điều kiện hoàn cảnh nào đó đã không có cách
lựa chọn nào khác. Ép buộc trong kinh doanh luôn luôn hoặc tiềm ẩn khả năng xuất
hiện từ những quan hệ kinh doanh không có sự tương xứng về thế mạnh thị trường
giữa các bên. Theo đó, bên có thế mạnh sẽ khai thác lợi thế của mình để ép buộc chủ