ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
■
Đ ỗ THỊ DUYÊN
Á P DỤNG PH ÁP LUẬT CẠNH TRANH
■ m m
TRONG LĨNH vực NGÂN HÀNG D líứ l súc ÉP
■
CỦA TIẾN TRÌNH HỘI NHẬ P KINH TÊ QUỐC TẾ
C h u y ê n n g à n h : Luật quốc tế
M ã sô' : 60 38 60
LUẬN VĂN THẠC s ĩ LUẬT HỌC
N g ư ờ i h ư ớ n g d ẩ n k h o a h ọ c : TS. Ngô Quốc Kỳ
HÀ NỘI - 2009
MỤC LỤC
1.1.
1.1.1.
1.1.2.
1.2.
1.2.1.
1.2.1.1.
1.2.1.2.
1.2.1.3.
1.2.2.
1.2,2.1.
1.2.2.2.
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐÀU 1
2.1.2. Pháp luật của Ba Lan, Hungary và Cộng hòa Séc 37
2.1.3. Pháp luật của Trung Quốc 41
2.2. Quy định của pháp luật Việt Nam về cạnh tranh và cạnh 45
tranh trong lĩnh vực ngân hàng
2.2.1. Các quy định chung 45
2.2.1.1. Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh 45
2.2.1.2. Hành vi han chế canh tranh 46
• •
2.2.2. Các quy định cụ thể trong lĩnh vực ngân hàng 49
2.2.3. Các cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực ngân hàng (BTA, 51
AFTA, WTO)
2.2.3.1. Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) 51
2.2.3.2. Hiệp định Thương mại tự do các nước ASEAN (AFTA) 54
2.2.3.3. Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) và Tổ 55
chức Thương mại Thế giới (WTO)
2.3. Thực trạng áp dụng pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực 68
ngân hàng
2.3.1. Thực trạng cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng 68
2.3.2. Thực trạng áp dụng pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực 76
ngân hàng ở EU
2.3.3. Thực trạng áp dụng pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực 84
ngân hàng ở Việt Nam hiện nay
Chương 3: MỘT SỎ KIÉN NGHỊ NHẦM HOÀN THIỆN PHÁP 88
LUẬT VIỆT NAM VẺ CẠNH TRANH TRONG LĨNH
« • •
V ực NGÂN HÀNG DƯỚI s ứ c ÉP CỦA TIẾN TRÌNH
HỘI NHẬP KINH TÉ QUÓC TÉ
3.1. Đánh giá pháp luật và hiệu quả của việc áp dụng pháp luật 88
Việt Nam về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng
3.1.1. Những kết quả đạt được và những hạn chế, bất cập 88
DANH MỤC TÀ I LIỆU THAM KHẢO 122
DANH MỤC CÁC T Ừ V IÉT TẮT
Từ Tiếng Anh
viết tắt
AFTA ASEAN Free Trade Area
ATM Automatic teller machine
BTA US-Vietnam Bilateral
Trade Agreement
EU European Union
GATS Genaral Agreement on
Trade in Services
GATT Genaral Agreement of
Tariffs and Trade
IMF International Monetary Fund
NHLD
NHNN
NHTMCP
NHTMNN
WTO World Trade Organization
Tiếng Việt
Hiệp định khung về thành lập và
phát triển khu vực mậu dịch tự do
Đông Nam Á
Máy rút tiền tự động
Hiệp định thương mại Việt Nam -
Hoa Kỳ
Liên minh châu Âu
Hiệp định chung về thương mại
dịch vụ
Hiệp định chung về thuế quan và
2. Tình hình nghiên cửu
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc té hiện nay, Việt Nam càn phải
chuẩn bị các điều kiện để đáp ứng các yêu cầu của các cam kết quốc tế mà
1
Việt Nam đã ký kết, gia nhập, trong đó có lĩnh vực ngân hàng. Nghiên cứu khả
năng cạnh tranh và giải pháp đế nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân
hàng bước đầu đã được quan tâm và nghiên cứu nhất định. Chẳng hạn như:
- Lê Đình Hạc: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các
ngân hàng thương mại Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế,
Luận văn tiến sĩ kinh tế, 2005.
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Nghiên cứu khả năng cạnh tranh và tác
động cùa tự do hỏa dịch vụ tài chính: trường hợp ngành ngán hàng, 2006.
- Trịnh Quốc Trung: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh và hội
nhập cùa các ngân hảng thương mại đến năm 2020, Luận án tiến sĩ kinh tế, 2005.
Tuy nhiên, nghiên cứu cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng xét dưới
giác độ pháp lý lại chưa thực sự được quan tâm nghiên cứu. Thực tế nghiên
cứu về vấn đề này hiện nay cũng chỉ mới dừng lại ở một số công trình và bài
viết như:
- Ngô Quốc Kỳ: Điều chỉnh cạnh tranh giữa các ngân hàng trong
cung ứng vén cho nền kinh tế, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, sổ 8, 2002.
- Tạ Thanh Huyền: Thỏa thuận trần lãi suất dưới góc nhìn của Luật
cạnh tranh, Tạp chí Khoa học và đào tạo ngân hàng, số 72, 2008.
- Viên Thế Giang: Tác động của Luật cạnh tranh đến hoạt động ngân
hàng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí Khoa học và đào tạo ngân
hàng, số 3, 2006.
- Charles Marquand - EU expert To the State bank o f Viet Nam concering
competítion in the banking sector and on a regulation concerning competition in
the bankìng sector, Report and recommendation, Ha Noi, 2006
Hầu hết các công trình nói trên mới chỉ đề cập đến một hoặc một vài
khía cạnh pháp lý của hoạt động cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng mà chưa
những nội dung liên quan đến các quy định của pháp luật Việt Nam về cạnh
tranh, các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia có liên quan đến hoạt
3
động ngân hàng. Luận văn cùng tìm hiếu, đánh giá nhừng quy định của pháp
luật một số nước trên thế giới. Tìm hiểu nhừng hạn chế, khó khăn của việc áp
dụng các quy định đó trong thực tiễn. Từ cơ sở lý luận và thực tiễn, tác giả
đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện thể chế pháp lý cho hoạt động cạnh
tranh trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn chủ yếu sử dụng các phương pháp duy vật biện chúng, duy
vật lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh, quy
nạp, diễn dịch, logic để thực hiện nghiên cứu đề tài này.
6. Đóng góp mói về khoa học cùa luận văn
Một là, hệ thống hóa được những vấn đề mang tính lý luận về cạnh tranh,
hội nhập và các vấn đề cơ bản về cạnh tranh trong hoạt động của ngân hàng.
Hai là, đánh giá các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam, pháp
luật một sổ quốc gia khác trên thế giới điều chỉnh hoạt động cạnh tranh trong
lĩnh vực ngân hàng và hiệu quả của việc áp dụng trong thực tiễn.
Ba là, luận văn đã bước đầu đề xuất nhừng phương hướng và giải
pháp, góp phần hoàn thiện môi trường pháp lý về cạnh tranh trong lĩnh vực
ngân hàng ở Việt Nam.
7. Kết cấu của luân văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương ỉ: Một số vấn đề lý luận cơ bản về cạnh tranh và pháp luật
cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng
Chương 2: Thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật về cạnh tranh
trong lĩnh vực ngân hàng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về
cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng dưới sức ép của tiến trình hội nhập kinh
C hu ưng 1
5
tranh giành những lợi ích giống nhau từ chu thê thứ ba" (Từ điến Black law,
Bryan A. Gamer, ST.Paul, 1999, 278 p)
Còn trong từ điển kinh doanh xuất bản tại Anh thì "cạnh tranh là sự
ganh đua, sự kình địch của các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh
giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về
phía m ình" [37, tr. 12]. Như vậy, cạnh tranh ở đây được hiểu là sự ganh đua
giữa các chủ thể kinh doanh cùng loại hàng hóa hoặc hàng hóa có thế thay thế
cho nhau trên một thị trường xác định với mục đích lôi kéo được càng nhiều
khách hàng, chiếm được càng nhiều thị phần cho mình càng tốt.
Như vậy, khái niệm cạnh tranh trong kinh doanh cần phải có những
đặc trưng:
- Phải tồn tại những thị trường;
- Cỏ sự tham gia của ít nhất hai hoặc nhiều người cung cấp hoặc có
nhu cầu và khả năng cung cấp;
- Những người này có ít nhất một mục đích đối lập nhau, việc đạt
được mục đích của người này chỉ có thể so sánh với sự chưa thành công hoặc
thất bại của người kia hoặc ngược lại.
Tóm lại, cạnh tranh trong kinh doanh được hiêu là hành vỉ của các
chủ thể kinh doanh cùng loại hàng hóa hoặc những hàng hóa có thể thay thế
cho nhau nhằm tiêu thụ hàng hóa hoặc dịch vụ trên một thị trường.
* V a i trò c ủ a c ạ n h t ra n h
"Con gà tức nhau tiếng gáy" mới chỉ có thế mà đã râm ran mồi buổi
ban mai. Tranh đua là một bản năng vốn có của chúng sinh, loài người cũng
vì bản năng đó từ thời nguyên thủy mà trở nên văn minh như ngày nay. Chính
sách và pháp luật quốc gia nếu khuyến khích, bảo hộ cạnh tranh sẽ làm cho xã
hội sôi động và phồn thịnh; ngược lại, nểu kìm hãm, ngăn trở hoặc xóa bỏ
cạnh tranh thì xã hội có nguy cơ trở nên tĩnh lặng [46, tr. 717].
6
dịch vụ đỏ.
Như vậy, cũng giống như quy luật sinh tồn và đào thải tự nhiên, cạnh
tranh có tác dụng đào thải nhừng thành viên yếu kém của thị trường, duy trì
và phát triển những nhân tố tốt nhất của thị trường. Cạnh tranh là một trong
những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường, không có cạnh tranh thì
không có nền kinh tế thị trường và ngược lại. Trong nền kinh tế thị trường,
cạnh tranh được coi là điều kiện sống còn của các chủ thể kinh doanh. Kết
quả của cạnh tranh sẽ xác định vị thế của họ trên thị trường, và vì vậy mà mỗi
doanh nghiệp đều tự cố gắng tìm cho mình một chiến lược cạnh tranh phù hợp
nhất để có được m ột kết quả tốt nhất
1.1.2. N hận d ạn g cạn h tranh
Nhận dạng cạnh tranh là cách thức phân loại cạnh tranh trên thị trường.
Qua đó xác định tính chất, mức độ biểu hiện của cạnh tranh trên từng loại
hình thị trường để trên cơ sở đó pháp luật cạnh tranh sẽ có những biện pháp
tác động phù hợp, điều chỉnh những hành vi sai lạc và tạo ra một môi trường
kinh doanh lành mạnh.
Có khá nhiều tiêu chí để có thể phận loại được cạnh tranh. Nếu căn cử
vào mục đích, tính chất của các phương thức cạnh tranh, ta có cạnh tranh lành
mạnh và cạnh tranh không lành mạnh.
- Cạnh tranh lành mạnh là hình thức cạnh tranh đẹp và trong sáng,
cạnh tranh bằng những tiềm năng vốn có của doanh nghiệp như công nghệ,
trình độ quản lý, khả năng về vốn, giá thành và phải tuân theo những chuấn
mực kinh doanh truyền thống, không được trái pháp luật.
- Cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi cạnh tranh ngược lại
với cạnh tranh lành mạnh. Biểu hiện của nó là những hành vi kinh doanh gian
dối, không trung thực, chèn ép các đối thủ khác một cách trái pháp luật.
8
Căn cứ vào cơ cấu doanh nghiệp và mức độ tập trung trong một
ngành, một lĩnh vực kinh tế, ta có cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không
hoàn hảo mà biểu hiện cao độ của nó là độc quyền.
hoàn hảo cũng chính là những nhân tố không thể cùng xảy ra trên thực té. Do
vậy cạnh tranh hoàn hảo chỉ có ý nghĩa làm cơ sở cho các phân tích và nghiên
cứu về mặt lý luận khi nhìn nhận thực tiễn.
- Cạnh tranh không hoàn hảo: đây là hình thức cạnh tranh chiếm ưu
thế trong hoạt động kinh doanh mà ở đó các chủ thể kinh doanh có quyền lực
thị trường tương đối lớn để có thể kiểm soát giá cả sản phấm đầu ra hoặc đầu
vào của họ. Cạnh tranh không hoàn hảo có các loại như: cạnh tranh mang tính
độc quyền, độc quyền nhóm và độc quyền.
+ Cạnh tranh mang tính độc quyền là hình thức cạnh tranh mà ở thị
trường có một số lượng đông người bán sản xuất ra các sản phẩm có sự khác
biệt. Trong nhiều trường hợp, những người bán có thể bắt buộc những người
mua chấp nhận giá sản phẩm do họ định ra.
+ Độc quyền nhóm là hình thái thị trường mà trong đó chỉ có một ít
các nhà sản xuất, cung cấp dịch vụ. Những hoạt động thực hiện chính sách giá
cả của một doanh nghiệp độc quyền nhóm thường gây ra những ảnh hưởng
đáng kể đến giá cả thị trường và sự quyểt định giá cả của doanh nghiệp khác.
Nói theo cách khác thì độc quyền nhóm còn được gọi là cạnh tranh giữa một
số lượng nhỏ các doanh nghiệp. Sự thay đổi về giá của một doanh nghiệp gây
ra những ảnh hưởng đáng kể đến nhu cầu đối với sản phẩm của các doanh
nghiệp khác và ngược lại.
+ Đ ộc quyền là hình thức biểu hiện cao độ của cạnh tranh không hoàn
hảo, ở đó cạnh tranh đã không thế diễn ra. Đây là hình thức mà ở thị trường
đó chỉ có duy nhất một doanh nghiệp cung cấp sản phấm mà không có doanh
nghiệp nào khác cùng cung cấp sản phẩm tương tự như thế. V iệc gia nhập
ngành này là rất khó khăn hoặc không thế thực hiện được.
10
Trong ba loại hình cạnh tranh không hoàn hảo thì trong thị trường
cạnh tranh mang tính độc quyền, mức độ cản trở sự gia nhập thị trường ở mức
thấp hơn so với trường hợp độc quyền nhóm và độc quyền. Các doanh nghiệp
vừa và nhỏ có cơ hội tham gia thị trường với những sản phẩm mang tính khác
tế thế giới những năm 1929-1933, mô hình cạnh tranh tự do và học thuyết
"bàn tay vô hình" đã để lại những khuyết tật không thể hàn gẳn trong nền kinh
tế như thất nghiệp, phá sản, lạm phát., .và các nghiên cứu cũng đã chỉ ra ràng
những khuyết tật đó không thể chi được giải quyết bởi "bàn tay vô hình" mà
cần có sự can thiệp của nhà nước, một tổ chức quyền lực đặc biệt luôn sẵn
sàng điều tiết thị trường bàng một công cụ hết sức hữu hiệu của mình, đó
chính là pháp luật [46, tr. 730].
1.2. HỘI NHẬP KINH TÉ ỌUÓC TẾ VÀ PHÁP LUẬT CẠNH TRANH
TRONG LĨNH vực NGÂN HÀNG
1.2.1. T ác đ ộn g của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế đối v ói
cạnh tranh trong lĩnh vự c ngân hàng
1.2. /. I. Một sổ vẩn đề cơ bản về hội nhập kinh tể quắc tế
4. I / f r «
_
• A f ^ • f ¿
_
§_ • a . Ắ
____
Ậ . Ả
* Khái niệm hội nhập kinh tê quôc tê
Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế đã được sử dụng trong một thời
gian khá dài (từ những năm 60 của thế kỷ trước) và cùng đã có không ít cách
định nghĩa về hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, trên thực tể thì hầu như
hoặc không có khái niệm nào được thừa nhận một cách chính thống và tuyệt
đối. Còn ở V iệt Nam , hội nhập kinh tế quốc tế là một khái niệm khá mới mẻ,
được sử dụng những năm 90 trở lại đây. Thuật ngữ này xuất hiện và phổ biến
trong bối cảnh nước ta xúc tiến mạnh mẽ chính sách đa phương hóa, đa dạng
hóa quan hệ với các tổ chức kinh tế thế giới và khu vực.
Các tác giả tại Đề tài "Chiến lược hội nhập quốc tế về mặt tài chính
giai đoạn 2001-2010" của Vụ Quan hệ Quốc tế (Bộ Tài chính, 2000) cho ràng:
Như vậy, hội nhập kinh tế quốc tể thực chắt là sự chủ động tham gia
vào quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa.
• về hình thức hội nhập có các hình thức như: Đơn phương, song
phương, đa phương
• về phương thức hội nhập có các phương thức sau: Khu vực mậu dịch
tự do. liên minh thuế quan, thị trường chung, liên minh kinh tế, liên minh tiền tệ,
liên minh toàn diện; bên cạnh đó các quốc gia còn có các thỏa thuận như: thỏa
thuận ưu đãi thương mại, thỏa thuận thương mại tự do từng phần [38, tr. 28].
• Các nguyên tẳc hội nhập kinh tế quốc tế
- Các nguyên tắc chung
N guyên tắc hội nhập được áp dụng tùy theo thởa thuận giữa hai nước
(song phương) hay tùy theo sự thòa thuận giữa một số nước liên kết (đa
phương). Trong quá trình hội nhập, mặc dù là quan hệ song phương hay đa
phương thì về cơ bản các nước đều dựa trên khuôn khổ của WTO, với một số
nguyên tắc như sau:
+ Nguyên tắc "Tối huệ quốc" (M ost Favoured Nation - MFN): nguyên
tẳc này được coi là một trong những chế độ đãi ngộ cơ bản trong các điều ước
quốc tể về thương mại. Theo chế độ này, người nước ngoài và các pháp nhân
nước ngoài ở nước sở tại được hưởng một chế độ (về hàng hóa, dịch v ụ )
đúng như chế độ mà những người nước ngoài và pháp nhân nước ngoài của
bất kỳ nước thử ba nào đang được hưởng hoặc sẽ được hưởng trong tương lai.
Chế độ này thể hiện tính chất bình đẳng trong quan hệ giữa các nước với
nhau, đáp ứng được lợi ích trong quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế [42, tr. 220].
+ N guyên tắc "Đối xử quốc gia” (National treatment - NT): nguyên tắc
này được hiểu là trừ những ngoại lệ cụ thể, người nước ngoài và pháp nhân nước
ngoà: của một nước sẽ được hưởng những quyền (về dịch vụ, đầu tư, ) ngang
với những quyền mà công dân và pháp nhân nước sở tại được hưởng.
14
+ Nguyên tẳc "Mớ cửa thị trường": các nước cam kết xóa bỏ hàng rào
phi kinh tế nhằm m ờ cửa cho hàng hóa, dịch vụ và đầu tư nước ngoài.
lại một sổ lợi ích nhất định cho nền kinh tế nới chung và cho ngành ngân hàng
nói riêng.
Thứ nhất: Tạo một sân chơi lớn và công bằng hơn
Không chì xét trên phương diện lý thuyết của các học thuyết thương
mại, thực tế cũng đã chứng minh rằng tổng lợi ích của quá trình hội nhập
cũng như tự do hóa thương mại lớn hơn chi phí. Điều này đem lại cơ hội cùng
có lợi cho các bên tham gia và ngành ngân hàng không phải là ngoại lệ. Tự do
hóa thương mại thông qua các cam kết hội nhập như WTO, BTA, A F T A sẽ
tạo điều kiện cho các sản phẩm, dịch vụ của Việt Nam tiếp cận nhiều thị
trường và thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Khi thương mại, đầu
tư và tất cả các hoạt động của nền kinh tế tăng lên, nhu cầu và cơ hội để ngân
hàng cho vay và huy động vốn cũng tăng lên. Khi kinh tế phát triển, nhiều
doanh nghiệp làm ăn có lãi thì khả năng trả nợ của họ cũng tăng lên, điều này
có tác động tích cực tới các ngân hàng. Danh mục kinh doanh và tài sản của
ngân hàng sẽ có chất lượng tốt hơn, đây là điều kiện cần thiết để các ngân
hàng tiếp cận thị trường vốn và tăng vốn chủ sở hữu, và trở nên lớn hơn. Với
quy mô thị trường cho ngân hàng lớn hơn, sẽ có nhiều ngân hàng hơn tham
gia chia sẻ thị phần. Hơn nữa, các bước tiến lớn như việc thực hiện Hiệp định
BTA, W TO đã đưa ra khung thời gian để doanh nghiệp chuẩn bị cho việc
cạnh tranh, minh bạch hóa quy định luật lệ và tạo sân chơi bình đẳng. Các quy
định và luật lệ minh bạch hơn sẽ tạo điều kiện đánh giá người vay tốt hơn,
người cho vay bao gồm cả ngân hàng sẽ tính phí rủi ro thấp hom. Nhiều doanh
nghiệp vừa và nhỏ sẽ lớn mạnh và nhu cầu tín dụng của họ cùng tăng theo.
Khi thu nhập tăng lên, ngày càng có nhiều cơ hội cho vay tiêu dùng, có khả
năng tăng lên rất nhiều trong vòng vài năm nữa. Thị trường vốn được kỳ vọng
16
sẽ phát triên nhanh chóng và sẽ cung câp kênh tín dụng dài hạn cho các doanh
nghiệp, như vậy ngân hàng sẽ chịu áp lực ít hơn trong việc cho vay. Các ngân
hàng sẽ tập trung vào tín dụng ngắn hạn, cho vay tiêu dùng, cho vay cá nhân,
cho vay doanh nghiệp và các sản phẩm phi tín dụng, giảm dần vai trò cấp vốn
định và mở rộng ra các dịch vụ phức tạp khác. Sự tham gia của ngân hàng
nước ngoài sẽ tăng lên cùng với việc tự do hóa dịch vụ ngân hàng ở Việt
Nam, thông qua việc nắm giữ cổ phần của ngân hàng nội địa hoặc tăng vốn
của chi nhánh, thực chất sẽ bơm thêm vốn vào nền kinh tế và gây áp lực cạnh
tranh cho các ngân hàng Việt Nam. Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ và tư
cách thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới của Việt Nam đã tạo nên các
tín hiệu rất tích cực đổi với các ngân hàng trong nước. Từ năm 2003 đến nay,
các ngân hàng trong nước, đặc biệt là các ngân hàng thương mại cổ phần
mạnh, tỏ ra khá quyểt liệt trong việc phát triển mạng lưới, tiếp thị và giới
thiệu sản phẩm mới. Vì thế, khách hàng trong nước đã có cơ hội được chọn
lựa nhiều sản phẩm và chất lượng dịch vụ cao hơn. Đây là kết quả đáng khích
lệ và sẽ còn tiếp tục trong tương lai khi tự do hóa được diễn ra nhiều hơn
nữa [28, tr. 43].
Thứ ba: Gia tăng nhu cầu
Vì nhu cầu tín dụng rất lớn và hiện tại vốn nhàn rỗi chưa được huy động
trong dân ước tính còn khoảng khá tiềm tàng, có rất nhiều cơ hội cho ngân hàng
phát triển và cạnh tranh nếu các ngân hàng có chiến lược của riêng mình và tìm
được thị trường riêng. Ngân hàng phát triển hơn sẽ góp phần giảm sử dụng tiền
mặt trong nền kinh tế, tạo điều kiện xây dựng một hệ thống minh bạch hơn, công
khai thu nhập và đánh thuế dề dàng hơn và phòng chống tham nhũng và buôn
lậu hiệu quả hom. Khi ngân hàng phát triển các dịch vụ phi tín dụng, phần thu
nhập từ tín dụng sẽ dần giảm xuống và phần thu nhập từ các dịch vụ phi tín dụng
sẽ táng lên. Vì vậy, sẽ có thay đổi trong cơ cẩu lợi nhuận của ngân hàng, trong
đó tỷ trọng của thu nhập phi tín dụng sẽ tầng lên (hiện tại 80-90% lợi nhuận của
ngân hàng là từ các hoạt động tín dụng, dự kiến tỷ lệ này sẽ giảm xuống chỉ còn
khoảng 60-80% trong tương lai và sẽ tiếp tục giảm dần). Các ngân hàng nhìn
nhận rằng, dịch vụ phi tín dụng đem lại ít rủi ro hom [28, tr. 43].
18
1.2. Ị.3. Súc ép của tiến trình hội nhập kình tế đổi với cạnh tranh
trong lĩnh vực ngân hàng