pháp luật việt nam về vấn đề xác lập nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
…….  …….

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
(Khóa 2011 - 2015)
Đề tài:

PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ VẤN ĐỀ XÁC LẬP
NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Giáo viên hướng dẫn
Ths. BÙI THỊ MỸ HƯƠNG
Bộ môn: Luật Thương mại

Sinh viên thực hiện
ĐẶNG CÔNG ĐỊNH
MSSV: 5115882
Lớp: Luật Thương Mại 1 – K37

Cần Thơ, tháng 11/2014


Đề tài: Pháp luật Việt Nam về vấn đề xác lập nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
…….  …….

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
(Khóa 2011 - 2015)

…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
Cần Thơ, Ngày……Tháng……Năm 2014

GVHD: Ths. Bùi Thị Mỹ Hương

Trang 3


1.5.1.2 Khách thể ........................................................................................................ 18
1.5.1.3 Sự kiện pháp lý ................................................................................................ 19
1.5.1.4 Nơi cư trú ......................................................................................................... 19
1.5.2 Phương pháp điều chỉnh......................................................................................... 20
1.5.2.1 Phương pháp thực chất .................................................................................... 20
1.5.2.2 Phương pháp xung đột .................................................................................... 21
1.5.3 Nguồn điều chỉnh .................................................................................................... 22
1.5.3.1 Điều ước quốc tế .............................................................................................. 22
1.5.3.2 Pháp luật quốc gia ............................................................................................ 22
1.5.4 Nguyên tắc điều chỉnh ............................................................................................ 22
1.5.4.1 Nguyên tắc luật quốc tịch của đương sự .......................................................... 22
1.5.4.2 Nguyên tắc luật nơi cư trú của đương sự ......................................................... 23
1.5.4.3 Nguyên tắc luật của nước có Tòa Án có thẩm quyền ...................................... 24
1.5.4.4 Nguyên tắc luật nơi thực hiện hành vi ............................................................. 25
CHƯƠNG 2 ........................................................................................................................... 26

GVHD: Ths. Bùi Thị Mỹ Hương

Trang 4

SVTH: Đặng Công Định


Đề tài: Pháp luật Việt Nam về vấn đề xác lập nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ VẤN ĐỀ XÁC LẬP NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ
NƯỚC NGOÀI ...................................................................................................................... 26
2.1 VẤN ĐỀ XÁC LẬP NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI ........................................... 26
2.1.1 Đều kiện nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ........................................................ 26
2.1.1.1 Điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi ................................................... 26
2.1.1.2 Điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi ........................................... 28

Việt Nam của tổ chức con nuôi nước ngoài (Điều 45 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP) ... 47
2.3.9 Quản lý tổ chức nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam ....................... 47
CHƯƠNG 3 ........................................................................................................................... 49
THỰC TRẠNG, ĐỊNH HƯỚNG VÀ ĐƯA RA MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG
CAO HIỆU QUẢ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT NUÔI NCON NUÔI CÓ YẾU TỐ
NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ....................................................................... 49

GVHD: Ths. Bùi Thị Mỹ Hương

Trang 5

SVTH: Đặng Công Định


Đề tài: Pháp luật Việt Nam về vấn đề xác lập nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
3.1. THỰC TRẠNG VIỆC NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI ....................................... 49
3.1.1 Thành tựu ................................................................................................................ 49
3.1.1.1 Trong cơ chế xử lý vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ..................... 49
3.1.1.2 Trình tự, thủ tục giải quyết .............................................................................. 49
3.1.1.3 Hoạt động hợp tác quốc tế ............................................................................... 50
3.1.1.4 Tìm được mái ấm gia đình thay thế cho nhiều trẻ em ..................................... 51
3.1.1.5 Công tác kiểm tra, thanh tra được tăng cường ................................................. 51
3.1.2 Hạn chế ................................................................................................................... 51
3.1.2.1 Về các cơ quan có thẩm quyền giải quyết việc nuôi con nuôi ........................ 52
3.1.2.2 Chưa quan tâm lập Danh sách trẻ em cần tìm gia đình thay thế ..................... 52
3.1.2.3 Nhận thức chưa đúng về vấn đề nuôi con nuôi ............................................... 52
3.1.2.4 Hạn chế trong việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi nước ngoài ....................... 53
3.1.2.5 Hạn chế trong công tác kiểm tra, xác minh hồ sơ, lấy ý kiến của cha, mẹ đẻ
hoặc người giám hộ và xác nhận trẻ em đủ điều kiện làm con nuôi người nước ngoài
...................................................................................................................................... 54

em trong mọi thời đại luôn được sự quan tâm và khẳng định. Sự cần thiết bảo vệ quyền lợi
của trẻ em không chỉ là giới hạn trong phạm vi của một quốc gia hay một dân tộc bất kỳ mà
nó là tiêu điểm chung của toàn thế giới. Vấn đề này đòi hỏi sự chung tay góp sức của các
quốc gia trên thế giới, tất cả mọi người có trách nhiệm vào việc quan tâm chăm sóc và bảo
vệ quyền lợi của trẻ em, đây không chỉ là vấn đề được đặt ra mang bản chất xã hội mà nó
còn cụ thể hóa bởi các cơ sở pháp lý vững chắc cho việc khẳng định quyền trẻ em và sự cần
thiết trong vấn đề bảo vệ quyền lợi trẻ em.
Tuy nhiên trên toàn thế giới hiện nay vẫn còn tồn tại một số vấn đề bất cập về vấn đề
trẻ em cơ nhỡ không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em bị bóc lột sức lao động, bạo lực
gia đình, trẻ em bị xâm phạm tình dục….vẫn còn phổ biến. Đây là thực trạng gây tác động
làm ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em trong tương lai, do đó việc chăm sóc bảo vệ
quyền lợi đối với trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và bất hạnh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
trong mọi thời đại. Tiến trình hợp tác quốc tế giữa các quốc gia trên thế giới về vấn đề bảo
về quyền lợi của trẻ em ngày càng phát triển sâu rộng trong nhiều lĩnh vực trong đó chúng ta
cần phải đề cập đến vấn đề hợp tác quốc tế về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Đây là một trong những giải pháp thiết thực đem lại lợi ích và quyền lợi của trẻ em ở các
quốc gia. Tuy nhiên vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là một trong những vấn đề
dân sự có yếu tố nước ngoài được điều chỉnh bởi nghành luật tư pháp quốc tế nên những vấn
đề phát sinh trong quan hệ này chịu sự điều chỉnh đặc biệt. Do tính sâu rộng của vấn đề và
có sự tham gia của nhiều bên trong quan hệ quốc tế làm phát sinh mối quan hệ pháp lý giữa
các chủ thể khá phức tạp cũng như những việc quy định của pháp luật của các quốc gia khác
nhau không đồng nhất tạo ra nhiều vấn đề cần được giải quyết trong quan hệ nuôi con nuôi
có yếu tố nước ngoài. Ngoài ra đây là quan hệ có tính chất quốc tế có yếu tố vụ lợi nên cũng
phát sinh nhiều tiêu cực trong thực tiễn áp dụng, do đó mà vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố
nước ngoài đã trở thành một trong những mối quan tâm hàng đầu ở các quốc gia.
Nhận thấy được tầm quan trọng trên cùng với những vấn đề cấp thiết cần được giải
quyết nên người viết chọn đề tài “Vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài” nhằm tìm
kiếm những giải pháp thiết thực, đi đến sự thống nhất chung trong việc nuôi con nuôi có yếu
tố nước ngoài.


- Phương pháp tổng hợp
- Phương pháp so sánh với luật pháp một số nước trên thế giới, đưa ra nhận xét về sự
phù hợp và chưa phù hợp của pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế làm
cơ sở cho các kiến nghị về việc hoàn thiện pháp luật trước yêu cầu của thực tiễn khách quan
- Phương pháp xem xét thực tế
5. Bố cục đề tài:
Kết cấu đề tài gồm có ba phần chính: phần lời nói đầu phần nội dung và phần kết
luận. Trong phần nội dung bao gồm các chương sau:
- Chương 1: Lý luận chung về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
- Chương 2: Pháp luật Việt Nam về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
- Chương 3: Thực trạng, kiến nghị và định hướng trong thời gian tới về vấn đề nuôi
con nuôi có yếu tố nước ngoài hiện nay

GVHD: Ths. Bùi Thị Mỹ Hương

Trang 8

SVTH: Đặng Công Định


Đề tài: Pháp luật Việt Nam về vấn đề xác lập nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ XÁC LẬP NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC
NGOÀI
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của chế định nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở
Việt Nam
Tùy theo từng thời gian, để phù hợp với sự nghiệp cách mạng của Đất nước, phù hợp
với điều kiện phát triển kinh tế, xã hội và thực tế của các quan hệ hôn nhân gia đình nói
chung và quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài nói riêng trong đó có quan hệ nuôi
con nuôi có yếu tố nước ngoài. Nhà nước ta đã kịp thời ban hành các văn bản pháp luật về

Trang 9

SVTH: Đặng Công Định


Đề tài: Pháp luật Việt Nam về vấn đề xác lập nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
tố nước ngoài nói chung và quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng. Tại Điều
248 Bộ dân luật quy định:”Người Việt nam có thể lập người ngoại quốc làm con nuôi hay
làm con nuôi của người ngoại quốc”.
Sau khi Đất nước thống nhất, quan hệ hợp tác Việt nam với các nước ngày càng mở
rộng dẫn đến phát sinh nhiều quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài. Để xử lý tình hình này,
Việt nam đã tiền hành đàm phán và ký các hiệp định tương trợ tư pháp với Cộng hòa dân
chủ Đức (1980), Liên xô (1981), Cuba (1984),…bên cạnh đó hoàn thiện hệ thống pháp luật
trong nước.
1.1.2 Giai đoạn sau thời kì đổi mới
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nước ta bước sang
một thời kì mới, chuyển dần sang nề kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Năm
1986 Luật hôn nhân và gia đình ra đời, kế thừa những nguyên tắc dân chủ và tiến bộ chế độ
hôn nhân và gia đình được thể chế hóa trong Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, đồng thời
tiếp tục phát huy những thành tựu và bổ sung những chế định quan trọng phù hợp với giai
đoạn phát triển mới. Lần đầu tiên trong lịch sử pháp luật hôn nhân gia đình, nhà nước ta đã
giành một chương riêng (chương IX) để quy định về hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài
nhưng vẫn chung chung.
Từ 1986 – 1992: Quốc hội thông qua Luật quốc tịch (1986) – Điều 14 quốc tịch của
trẻ; Pháp lệnh lãnh sự (1990); Hội đồng bộ trưởng đã ban hành Quyết định số 145/HĐBT
(29/4/1992); Thông tư liên bộ số 01/TTLB hướng dẫn thi hành Quyết định 145/HĐBT
(19/1/1993), hạn chế của Quyết định 145: Là đối tượng trẻ được nhận nuôi chỉ trong các cơ
sở nuôi dưỡng của ngành lao động - thương binh - xã hội, chưa quy định cụ thể về cơ quan
quản lí việc cho trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài, lệ phí chưa rõ ràng và
chưa có cơ quan quản lý chặt chẽ …

thông qua việc đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi các bên có đầy đủ các điều
kiện luật định. Tất cả quyền lợi của trẻ được nhận làm con nuôi và của người nhận nuôi đều
được pháp luật ấn định và được bảo đảm thực hiện phù hợp với truyền thống, đạo lý của
từng dân tộc và phù hợp với ý chí của nhà nước.
Như vậy, cha mẹ nuôi con nuôi là một quan hệ ràng buộc một người vào một hoặc hai
người khác, những người có liên quan trong quan hệ này không có quan hệ huyết thống như
cha mẹ con ruột nhưng người nuôi được xem như là cha mẹ của người được nuôi. Về phần
mình người được nhận nuôi xem người nuôi như cha mẹ ruột của mình.1
1.2.2 Khái niệm về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
Theo lý luận chung thì nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài có thể được hiểu là việc:
Nuôi con nuôi giữa một bên là người Việt Nam, một bên là người nước ngoài; Nuôi con
nuôi giữa người nước ngoài với nhau nhưng họ thường trú tại Việt Nam; Nuôi con nuôi giữa
công dân Việt Nam với nhau nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo
pháp luật nước ngoài.
Theo Luật Nuôi con nuôi năm 2010 - Điều 3 Khoản 5 quy định: “Nuôi con nuôi có
yếu tố nước ngoài là việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa
người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam, giữa công dân Việt Nam với nhau mà
một bên định cư ở nước ngoài”. Theo đó, việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt nam và
người nước ngoài phải thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật về điều kiện, trình tự,
thủ tục,…đối với việc cho và nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nhằm đảm bảo cho
người con nuôi chưa thành niên được sống trong một mái ấm gia đình có tình thương, chăm
sóc và giáo dục tốt.

1

Nguyễn ngọc Điện, Bình luận khoa học về hôn nhân và gia đình Việt nam, Nxb trẻ, Tp. Hồ Chí Minh, 2002, tr. 197

GVHD: Ths. Bùi Thị Mỹ Hương

Trang 11

+ Nhận trẻ em khuyết tật, nhiễm HIV/AIDS hoặc mắc bệnh hiểm nghèo khác làm con
nuôi;
+ Là người nước ngoài đang làm việc, học tập ở Việt Nam trong thời gian ít nhất là
01 năm.
- Trường hợp thứ ba, Công dân Việt Nam thường trú ở trong nước nhận trẻ em nước
ngoài làm con nuôi.
Công dân Việt nam phải thỏa điều kiện pháp luật Việt nam và của nước mà trẻ em đó
được nhận làm con nuôi. Khi nhận làm con nuôi thì trẻ em đó đương nhiên có quốc tịch Việt

2
3

Nguyễn Công Khanh, 100 câu hỏi về pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr. 34
Nguyễn Công Khanh, 100 câu hỏi về pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr. 33

GVHD: Ths. Bùi Thị Mỹ Hương

Trang 12

SVTH: Đặng Công Định


Đề tài: Pháp luật Việt Nam về vấn đề xác lập nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
nam kể từ thời điểm các cơ quan có thẩm quyền ở Việt nam công nhận việc nuôi con nuôi
đó.4
- Trường hợp thứ tư, Người nước ngoài thường trú ở Việt Nam nhận con nuôi ở Việt
Nam.
Việc cho và nhận nuôi con nuôi phải tuân theo quy định của pháp luật.
1.3 Bản chất và tầm quan trọng của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
1.3.1 Bản chất của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Hiến pháp năm 2013, Điều 37, Khoản 1

GVHD: Ths. Bùi Thị Mỹ Hương

Trang 13

SVTH: Đặng Công Định


Đề tài: Pháp luật Việt Nam về vấn đề xác lập nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
quyền được làm cha, làm mẹ của một số người không may mắn trong cuộc sống (như người
bị vô sinh, hiếm muộn, phụ nữ đơn thân hoặc người đã có con nhưng con bị bệnh hiểm
nghèo, con bị chết và người đó không còn khả năng sinh con...), pháp luật Việt Nam đã công
nhận quyền nuôi con nuôi và quyền được làm con nuôi là một trong những quyền con người,
quyền công dân được pháp luật tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ theo Hiến pháp và pháp luật.
1.3.1.2 Bản chất pháp lý
- Sự thể hiện ý chí của người nhận nuôi con nuôi:
Người nhận nuôi con nuôi có thể nhận nuôi con nuôi vì nhiều lí do khác nhau
nhưng trước hết là từ nhu cầu của người nuôi muốn nuôi dưỡng một đứa trẻ nhằm thiết lập
quan hệ cha mẹ và con giữa hai bên. Nhu cầu đó bị chi phối trước tiên từ yếu tố tình cảm,
xuất phát từ ý chí và sự chủ động của người nhận nuôi con nuôi. Song sự tự nguyện đó phải
xuất phát từ nhu cầu tình cảm, tinh thần của người nhận nuôi con nuôi và phù hợp với lợi ích
của người được nhận làm con nuôi thì mới được coi là hợp pháp. Nếu việc nhận nuôi con
nuôi xuất phát từ những động cơ, mục đích trái pháp luật, trái đạo đức sẽ không có giá trị
pháp lí.6
Trong trường hợp cả hai vợ chồng cùng nhận nuôi con nuôi thì bản chất của vấn đề
vẫn không thay đổi, có khác chỉ là ở chỗ sự thể hiện ý chí mong muốn nhận nuôi con nuôi
phải là ý chí chung của cả hai vợ chồng. Hai vợ chồng phải thoả thuận và thống nhất được
về việc nhận nuôi con nuôi. Trong đơn xin nhận nuôi con nuôi phải đứng tên cả hai vợ
chồng với tư cách là cha nuôi và mẹ nuôi.

- Sự thể hiện ý chí của người được nhận làm con nuôi
Sự đồng ý của bản thân người được nhận làm con nuôi được coi là hành vi pháp lí
đơn phương, phát sinh một cách độc lập, vào bất cứ thời điểm nào mà không phụ thuộc vào
ý chí của cha mẹ đẻ, người giám hộ.
- Sự thể hiện ý chí của Nhà nước
Như vậy, cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ có thể công nhận việc nuôi con nuôi
khi các bên đương sự thể hiện rõ ràng ý chí của mình đồng thời đáp ứng đầy đủ các điều
kiện cần thiết của việc nuôi con nuôi. Nói cách khác, cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ
có thể công nhận việc nuôi con nuôi khi các sự kiện cấu thành đã hội tụ đầy đủ và được liên
kết lại với nhau tại thời điểm phát sinh quan hệ pháp luật về nuôi con nuôi .Xác định rõ bản
chất pháp lí của việc nuôi con nuôi với tư cách là sự kiện pháp lí làm phát sinh quan hệ pháp
luật là cơ sở để xây dựng những quy phạm pháp luật phù hợp, chính xác điều chỉnh quan hệ
nuôi con nuôi.
1.3.2 Vai trò của pháp luật Việt nam về nuôi con nuôi
Xác lập, điều chỉnh quan hệ gia đình được hình thành từ việc nuôi con nuôi:
+ Pháp luật điều chỉnh để định hướng, tạo khung pháp lý cơ bản cho việc nuôi con
nuôi.
+ Mục đích của việc nuôi con nuôi trong thực tế rất đa dạng.
+ Pháp luật nuôi con nuôi xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ nuôi
con nuôi.
+ Giải quyết tốt tình trạng trẻ không có đủ điều kiện tốt trong gia đình
+ Là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền bảo vệ được trẻ em được nhận nuôi, cũng như
giải quyết các tranh chấp phát sinh có liên quan tới nuôi con nuôi
1.4 Mục đích và ý nghĩa việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
1.4.1 Mục đích
Mục đích của việc nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là hướng tới lợi ích tốt
nhất cho các em về cả vật chất lẫn tinh thần ngoài ra giúp các em thoát khỏi những cá nhân,
tổ chức có mưu đồ xấu xa, trục lợi từ các em. Theo tinh thần pháp luật của nhiều nước thì

GVHD: Ths. Bùi Thị Mỹ Hương

1.5.1 Đối tượng điều chỉnh
Yếu tố nước ngoài là căn cứ quan trọng trong việc xác định các quan hệ trong lĩnh
vực có yếu tố nước ngoài trong đó có vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Vấn đề
nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài thuộc lĩnh vực dân sự có yếu tố nước ngoài. Theo pháp
luật Việt Nam quy định tại điều 758 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì: “Quan hệ dân sự có yếu
tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ích nhất một trong các bên tham gia là cơ quan tổ chức
cá nhân nước ngoài người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa
các bên tham gia là công dân tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập thay đổi chấm dức
quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến
quan hệ đó ở nước ngoài.”

GVHD: Ths. Bùi Thị Mỹ Hương

Trang 16

SVTH: Đặng Công Định


Đề tài: Pháp luật Việt Nam về vấn đề xác lập nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thuộc lĩnh vực điều chỉnh của ngành luật tư
pháp quốc tế, việc xác định có yếu tố nước ngoài hay không có ý nghĩa quan trọng trong
việc đưa ra phương hướng giải pháp giải quyết vấn đề xác định luật áp dụng một cách đúng
đắng. Đồng thời đây còn là căn cứ quan trọng trong việc xác định thẩm quyền giải quyết
giữa các quốc gia về các lĩnh vực phát sinh trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.
1.5.1.1 Chủ thể
Yếu tố chủ thể trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là đối tượng quan trọng
trong tư pháp quốc tế, khi xem xét vấn đề chủ thể thông thường các quốc gia trên thế giới
điều dựa vào các vấn đề như: Quốc tịch, nơi cư trú của đương sự, năng lực hành vi dân sự
của đương sự … Pháp luật Việt Nam về vấn đề chủ thể trong quan hệ dân sự có yếu tố nước
ngoài nói chung và quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng được xác định dựa

Trang 17

SVTH: Đặng Công Định


Đề tài: Pháp luật Việt Nam về vấn đề xác lập nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
- Dấu hiệu nơi cư trú: Trong vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài thì dấu hiệu
nơi cư trú bao gồm:
Giữa người Việt Nam với người nước ngoài: Dấu hiệu này phát sinh quan hệ nuôi
con nuôi giữa người Việt Nam với người nước ngoài định cư ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc
thường trú tại Việt Nam giữa người nước ngoài với người không có quốc tịch thường trú
trên lãnh thổ Việt Nam giữa người Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lâp thay đổi chấm
dức quan hệ nuôi con nuôi theo pháp luật nước ngoài.
Vấn đề đặt ra theo dấu hiệu quốc tịch là việc phải xác định quốc tịch của một cá nhân
khi tham gia vào quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì về nguyên tắt việc xác định một
người là công dân của một nước thì phải dựa trên căn cứ quốc tịch nơi mà người đó được
hưởng tức là nơi mà người đó chịu sự điều chỉnh của pháp luật và phải thực hiện quyền và
nghĩa vụ đối với pháp luật của quốc gia đó. Việc xác định quốc tịch của một cá nhân trong
quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đòi hỏi các bên tham gia phải có năng lực chủ
thể nhất định theo quy định của pháp luật tức là có năng lực pháp luật và năng lực hành vi
đây là hai thuộc tính pháp lý bắt buộc không thể thiếu khi chủ thể tham gia vào quan hệ pháp
luật.
1.5.1.2 Khách thể
Khách thể trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là những quan hệ về
quyền nhân thân và quyền về tài sản phát sinh khi xảy ra tranh chấp trong quan hệ nuôi con
nuôi có yếu tố nước ngoài
- Quyền tài sản: Theo Bộ luật dân sự năm 2005 thì “Tài sản bao gồm vật tiền giấy tờ
có giá và các quyền về tài sản” mà “tài sản bao gồm động sản và bất động sản” theo quy
định tại Điều 174 Bộ luật dân sự năm 2005. Tuy nhiên, trên thực tế vấn đề quy định về tài
sản trên thế giới có những điểm khác nhau có quốc gia loại đó được xem là tài sản, nhưng

- Sự kiện pháp lý làm xác lập việc nuôi con nuôi nước ngoài được hiểu là sự kiện có
tính chất pháp lý làm xác lập quan hệ giữa các chủ thể trong đó làm phát sinh quan hệ cha
mẹ - con nuôi có yếu tố nước ngoài với nhau.
- Sự kiện pháp lý làm thay đổi quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là những
sự kiện làm thay đổi quyền và nghĩa vụ được xác lập trước đó giữa các chủ thể trong quan
hệ này. Sự kiện này có thể xảy ra do ý chí của hai bên chủ thể hay do ý chí của một bên hoặc
của bên thứ ba theo quy định của pháp luật.
- Sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là sự
kiện xảy ra làm chấm dứt mối quan hệ đã được xác lập. Trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu
tố nước ngoài sự kiện pháp lý làm chấm dứt mối quan hệ là sự kiện làm chấm dứt mối quan
hệ cha mẹ nuôi-con nuôi.
Như vậy, việc xác định đúng thời điểm mà sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi,
chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi có ý nghĩa quan trọng, nó giúp cơ quan nhà nước có thẩm
quyền xác định đúng luật áp dụng để giải quyết xung đột pháp luật giữa các bên, từ đó áp
dụng luật chính xác trong việc giải quyết tranh chấp liên quan đến các chủ thể trong quan hệ
nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
1.5.1.4 Nơi cư trú
“Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống”.8 Việc xác định
nơi cư trú rất quan trọng trong mối quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nhằm mục đích giải
quyết trong vấn đề phát sinh trong quan hệ như: Việc lựa chọn áp dụng luật các quy định về
quyền nghĩa vụ liên quan đến nơi cư trú của đương sự.
Trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài yếu tố nơi cư trú được pháp luật
quy định như: Giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; Giữa người nước ngoài với
nhau thường trú ở Việt Nam; Giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập chấm
8

Bộ luật Dân sự năm 2005, Điều 52, Khoản 1

GVHD: Ths. Bùi Thị Mỹ Hương


con nuôi có yếu tố nước ngoài, thậm chí quy định cả các hình thức và biện pháp chế tài cần
hoặc có thể được áp dụng trong trường hợp có vi phạm pháp luật xảy ra.
Quy phạm pháp luật thực chất có thể được xây dựng trong các điều ước quốc tế (quy
phạm thực chất thống nhất). Việc xây dựng các quy phạm thực chất trong các điều ước quốc
tế điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài cũng như quan hệ nuôi
con nuôi có yếu tố nước ngoài là hết sức cần thiết. Nó làm hài hòa sự khác biệt trong pháp
luật của các quốc gia và có tính chất đơn giản hóa trong việc điều chỉnh các quan hệ này.

9

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi, bổ sung năm 2010, Điều 8, Khoản 14

GVHD: Ths. Bùi Thị Mỹ Hương

Trang 20

SVTH: Đặng Công Định


Đề tài: Pháp luật Việt Nam về vấn đề xác lập nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
Quy phạm thực chất còn được xây dựng trong pháp luật quốc gia (quy phạm thực chất
thông thường). Tuy nhiên, về vấn đề này, trong khoa học pháp lý các nước chưa có quan
điểm thống nhất. So với các quy phạm xung đột thì các quy phạm thực chất được áp dụng
nhiều hơn trong việc giải quyết các quan hệ hôn nhân và gia đình co yếu tố nước ngoài trong
đó có quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Các quy phạm thực chất này được ghi
nhận trong các văn bản pháp luật Việt nam ban hành. Ví dụ như theo Khoản 2 Điều 32 luật
Nuôi con nuôi 2010 về hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi nước ngoài quy định:”
Cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ lập hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi sống tại
gia đình; cơ sở nuôi dưỡng lập hồ sơ của trẻ em được giới thiệu làm con nuôi sống tại cơ sở
nuôi dưỡng’’ hoặc Khoản 2 Điều 100 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi, bổ sung


Trang 21

SVTH: Đặng Công Định


Đề tài: Pháp luật Việt Nam về vấn đề xác lập nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
Như vậy quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trong phương pháp xung đột
được pháp luật điều chỉnh trước hết là từ nguồn pháp luật quốc gia và các điều ước quốc tế
mà Việt Nam ký kết và gia nhập cụ thể là trong những hiệp định về nuôi con nuôi mà Việt
Nam đã ký kết với các quốc gia trên thế giới.
1.5.3 Nguồn điều chỉnh
1.5.3.1 Điều ước quốc tế
Trong các quan hệ giữa Việt Nam với các nước trên thế giới thì điều ước quốc tế với
tư cách là nguồn của Tư pháp quốc tế ngày càng đóng vai trò quan trọng và mang ý nghĩa
thiết thực. Điều ước quốc tế là văn bản thỏa thuận giữa các chủ thể của luật quốc tế( mà chủ
yếu là quốc gia) nhằm điều chỉnh các vấn đề về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể trong
quan hệ quốc tế. 11 Ở Việt Nam hiện nay, quan hệ hợp tác về vấn đề nuôi con nuôi đang
được trú trọng mở rộng và thông qua với việc ký kết các điều ước quốc tế song phương ngày
càng nhiều.
Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết với các nước đã thỏa thuận các nguyên tắc
chọn luật áp dụng trong trường hợp có xảy ra xung đột pháp luật trong vấn đề nuôi con nuôi
có yếu tố nước ngoài đã trở thành cơ sở pháp lý quan trọng. Nó không chỉ góp phần tích cực
trong việc hạn chế xung đột pháp luật xảy ra mà còn là cơ hội mở rộng quan hệ đối ngoại
giữa các quốc gia. Từ đó, các quốc gia có thể hợp tác và giúp đỡ nhau phát triển.
1.5.3.2 Pháp luật quốc gia
Đây là loại nguồn khá phổ biến so với các loại nguồn khác luật pháp của mỗi quốc
gia là một hệ thống các văn bản pháp quy của một quốc gia bao gồm: Hiến pháp; Luật và
các văn bản dưới luật cùng với những tập quán và án lệ thực tiễn tư pháp.
Quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là một quan hệ dân sự có yếu tố nước

trọng thường được các quốc gia trong đó có Việt Nam áp dụng để giải quyết các vấn đề liên
quan đến chủ thể tham gia vào qua hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, tại Điều 06 Luật
nuôi con nuôi: “Nhà nước bảo hộ quyền nuôi con nuôi và quyền được nhận làm con nuôi
theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.” Như vậy vấn
đề áp dụng nguyên tắc Luật quốc tịch trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là
vấn đề hết sức cần thiết nhằm thiết lập mối quan hệ pháp luật, xác định pháp luật áp dụng
dựa trên cư sở quốc tịch giữa các chủ thể để giải quyết các vấn đề phát sinh trong quan hệ
nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài một cách khách quan và chính xác.
Trong quan hệ dân sự nói chung và quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói
riêng, khi xảy ra xung đột thì Việt Nam cũng áp dụng nguyên tắc này để giải quyết. Tuy
nhiên, việc xác định quốc tịch của một chủ thể là công dân của nước nào vẫn là một vấn đề
quan trọng, vì nguyên tắc này ngoài việc chịu sự điều chỉnh của các điều ước quốc tế, pháp
luật nước ngoài, nó còn chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước sở tại. Vì vậy, khi quan hệ
nuôi con nuôi phát sinh giữa công dân nước nào thì sẻ áp dụng pháp luật của nước đó diều
chỉnh.
Như vậy, vấn đề xác định quốc tịch của chủ thể trong quan hệ dân sự có yếu tố nước
ngoài thuộc công dân của quốc gia nào là rất cần thiết, nhằm xác định pháp luật áp dụng một
cách phù hợp, khách quan và chính xác.
1.5.4.2 Nguyên tắc luật nơi cư trú của đương sự
Đây là một nguyên tắc được áp dụng rộng rãi trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố
nước ngoài. Theo nguyên tắc này, quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được điều
chỉnh theo pháp luật của nước nơi đương sự có nơi cư trú và được áp dụng phổ biến không
chỉ ở pháp luật trong nước, mà còn được ghi nhận trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam
đã kí kết với các nước.
12

Đại học luật Hà Nội, Giáo trình tư pháp quốc tế, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội,2001, tr. 55

GVHD: Ths. Bùi Thị Mỹ Hương


trung ương hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã (nếu ở khu vực biên giới) hoặc Cơ quan đại diện
Ngoại giao, Cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài sẽ áp dụng pháp luật Việt Nam.
Ngoài ra, khi quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài phát sinh tranh chấp thì Tòa án
nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư
trú của công dân Việt Nam (nếu ở khu vực biên giới) sẽ áp dụng các quy định của pháp luật
Việt Nam để giải quyết. 14 Như vậy, Tòa án Việt Nam được áp dụng nguyên tắc luật của
nước có Tòa án có thẩm quyền để giải quyết các tranh chấp đến quan hệ nuôi con nuôi có
yếu tố nước ngoài .15 Nguyên tắc luật của nước nơi có Tòa Án là một trong những nguyên
tắc quan trọng được áp dụng nhiều trong các quan hệ về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước
ngoài trong đó đặc biệt là vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài việc áp dụng nguyên
tắc này đòi hỏi phải chính xác và phải tuân thủ hoàn toàn theo các quy định pháp luật của
quốc gia.
Nông Quốc Bình và Nguyễn Hồng Bắc, Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời kì
hội nhập quốc tế, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006, tr. 108
14
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 được sữa đổi , bổ sung năm 2010, Điều 102, Khoản 3
15
Nông Quốc Bình và Nguyễn Hồng Bắc, Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời kì
hội nhập quốc tế. Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006, tr. 112
13

GVHD: Ths. Bùi Thị Mỹ Hương

Trang 24

SVTH: Đặng Công Định


Đề tài: Pháp luật Việt Nam về vấn đề xác lập nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status