TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
------
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA 2011-2015
ĐỀ TÀI:
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUAN HỆ THỪA KẾ
THEO DI CHÚC CÓ YẾU TỐ
NƢỚC NGOÀI
Giảng viên hƣớng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Th.S Bùi Thị Mỹ Hƣơng
Nguyễn Thị Huyền
Bộ môn: Luật thƣơng mại
MSSV: 5115891
Lớp: Thƣơng mại 2 - K37
Cần Thơ, 11/2014
Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2014.
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương
SVTH: Nguyễn Thị Huyền
Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................................1
2. Phạm vi nghiên cứu ...................................................................................................2
3. Mục đích nghiên cứu .................................................................................................2
4. Phƣơng pháp nghiên cứu ..........................................................................................2
5. Bố cục đề tài ...............................................................................................................2
CHƢƠNG 1 ....................................................................................................................4
TỔNG QUAN VỀ QUAN HỆ THỪA KẾ THEO DI CHÚC CÓ YẾU TỐ NƢỚC
NGOÀI ............................................................................................................................4
1.1. Khái niệm và đặc trƣng cơ bản của quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố
nƣớc ngoài ......................................................................................................................4
1.1.1. Khái niệm về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài ........................4
1.1.2. Đặc trưng cơ bản của quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài ..........5
1.1.2.1. Về chủ thể ...........................................................................................................5
1.1.2.2. Về khách thể .......................................................................................................7
1.1.2.3. Về sự kiện pháp lý ...............................................................................................8
1.2. Phƣơng pháp điều chỉnh, nguồn luật điều chỉnh của quan hệ thừa kế theo di
chúc có yếu tố nƣớc ngoài .............................................................................................8
1.2.1. Phương pháp điều chỉnh quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài .....8
1.2.2. Nguồn luật điều chỉnh quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài .........9
2.1.2.4. Giao nghĩa vụ cho người thừa kế trong phạm vi di sản ...................................27
2.1.2.5. Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản .....28
2.1.2.6. Quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế và hủy bỏ di chúc ........................................28
2.2. Hình thức của di chúc và tính hợp pháp của di chúc có yếu tố nƣớc ngoài ...29
2.2.1. Hình thức di chúc ................................................................................................29
2.2.1.1. Di chúc được lập bằng miệng...........................................................................30
2.2.1.2. Di chúc được lập bằng văn bản........................................................................31
2.2.2. Di chúc hợp pháp ................................................................................................35
2.2.1.1. Ý chí của người lập di chúc ..............................................................................35
2.2.1.2. Nội dung di chúc ...............................................................................................36
2.2.1.3. Hình thức di chúc .............................................................................................36
2.3. Di sản thừa kế trong quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nƣớc ngoài ......36
2.3.1. Nguyên tắc xác định di sản thừa kế .....................................................................36
2.3.2. Di sản thừa kế ......................................................................................................37
2.4. Quyền và nghĩa vụ của ngƣời quản lý di sản thừa kế theo di chúc có yếu tố
nƣớc ngoài ....................................................................................................................38
2.4.1. Quyền của người quản lý di sản ..........................................................................38
2.4.2. Nghĩa vụ của người quản lý di sản ......................................................................39
2.5. Ngƣời hƣởng thừa kế theo di chúc có yếu tố nƣớc ngoài ..................................40
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương
SVTH: Nguyễn Thị Huyền
Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
2.5.1. Chủ thể hưởng thừa kế theo di chúc ....................................................................40
2.5.1.1. Người hưởng di sản là cá nhân ........................................................................41
2.5.1.2. Người hưởng di sản là cơ quan, tổ chức ..........................................................42
2.5.2. Người thừa kế không được hưởng thừa kế theo di chúc và người được hưởng
thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc .............................................................42
Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thừa kế là một chế định quan trọng trong hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam, là
cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền lợi và chế độ sở hữu của công dân. Quyền thừa kế là
một trong những quyền cơ bản của công dân. Trong điều kiện hội nhập quốc tế diễn ra
mạnh mẽ như hiện nay, việc giao lưu giữa các nước ngày càng phổ biến và xuất hiện
nhiều quan hệ thừa kế vượt ra khỏi phạm vi lãnh thổ quốc gia, đó là những quan hệ
thừa kế có yếu tố nước ngoài. Quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài nói chung và
quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài nói riêng càng lúc càng phát triển
nhanh về số lượng cũng như độ phức tạp trong từng quan hệ, đòi hỏi Nhà nước phải có
một nền tảng pháp luật đủ mạnh để điều chỉnh. Thực tế, việc xác định luật áp dụng cho
quan hệ này là một trong những vấn đề quan trọng để giải quyết triệt để khi có tranh
chấp xảy ra trong thực tiễn. Theo nguyên tắc của Luật quốc tế thì không chỉ riêng quan
hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài mà tất cả các quan hệ dân sự có yếu tố
nước ngoài khi xảy ra tranh chấp thì pháp luật của các nước liên quan đều có thể được
đưa ra áp dụng. Tuy nhiên, luật của các nước trên thế giới quy định không giống nhau
và nếu có giống nhau thì việc giải thích luật cũng khác nhau, một khi đưa ra áp dụng
sẽ ảnh hưởng đến tính khả thi của bản án, quyết định.
Ở nước ta, quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài được quy định tại
chương 7 Bộ luật dân sự 2005 và nghị định số 138/2006/NĐ-CP quy định chi tiết các
quy định của Bộ luật dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài đã góp phần
không nhỏ trong việc giải quyết các tranh chấp xảy ra trên thực tế. Bên cạnh đó, sự
phát triển nhanh của nền kinh tế cũng như các mối quan hệ trong xã hội khiến cho các
nhà lập pháp không thể dự trù hết được những tình huống xảy ra trên thực tế. Vì thế,
đòi hỏi các nước phải hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm bảo vệ lợi ích của các bên,
góp phần vào sự hợp tác giữa các quốc gia với nhau.
Người viết chọn đề tài “Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có
nước ngoài cũng là một điều tất yếu nhằm phản ánh sự đa dạng, phức tạp của xã hội
khi mà các nước tiến hành mở cửa thị trường. Tuy nhiên, mỗi quốc gia lại có một quan
điểm khác nhau khi xây dựng luật áp dụng để giải quyết vấn đề trên, nên hiện tượng
xung đột pháp luật giữa các nước là điều khó tránh khỏi. Từ đó, người viết hy vọng
tìm ra những giải pháp nhằm đẩy mạnh việc hoàn thiện hơn chế định này, góp phần
giải quyết nhanh, hiệu quả những tình huống xảy ra trên thực tế để những bản án,
quyết định đã tuyên được thực thi và các nước có liên quan công nhận và cho thi hành
bản án, quyết định đó.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài trên thì để đạt kết quả tốt nhất, người viết chủ
yếu vận dụng phương pháp phân tích câu chữ của luật viết để làm sáng tỏ và giải quyết
các vấn đề đặt ra trong đề tài. Ngoài ra, người viết còn sử dụng các phương pháp so
sánh, phương pháp đánh giá, tổng hợp để làm rõ các vấn đề nghiên cứu.
5. Bố cục đề tài
Ngoài lời mở đầu và kết luận thì đề tài: “Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế
theo di chúc có yếu tố nước ngoài” gồm có ba chương, cụ thể:
Chương 1: Tổng quan về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
Ở chương 1 người viết khái quát những vấn đề chung nhất về quan hệ thừa kế
theo di chúc có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam. Từ khái niệm và đặc trưng của quan hệ
thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài đến việc phân tích phương pháp điều chỉnh,
nguồn luật điều chỉnh và nguyên tắc điều chỉnh của quan hệ thừa kế theo di chúc có
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương
2
SVTH: Nguyễn Thị Huyền
Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
yếu tố nước ngoài. Tiếp đó, người viết tìm hiểu sự phát triển những quy định của pháp
tố nƣớc ngoài
1.1.1. Khái niệm về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
Quan hệ thừa kế là một loại quan hệ pháp luật có nội dung kinh tế xã hội sâu sắc,
nó xuất hiện đồng thời với quan hệ sở hữu và phát triển cùng với sự phát triển của xã
hội. Thừa kế được hiểu là sự chuyển dịch tài sản (của cải) của người chết cho người
sống theo truyền thống, phong tục tập quán của dân tộc. Quan hệ thừa kế được thể chế
hoá thành luật rất sớm, nó là một phần quan trọng trong quan hệ dân sự (theo nghĩa
rộng), Nhà nước cho họ quyền định đoạt khối tài sản của mình trước khi chết nhằm
khuyến khích công dân làm ra nhiều của cải không chỉ vì lợi ích của bản thân, gia đình
mà còn vì lợi ích của xã hội. Bởi tài sản do người chết để lại thuộc về cá nhân hay tổ
chức được hưởng thừa kế thì nó vẫn tồn tại chung cho xã hội và khi khối tài sản này
được sử dụng, khai thác hợp lý thì tạo ra sự phát triển bền vững cho đất nước.
Chế định thừa kế trong hệ thống pháp luật Việt Nam bao gồm thừa kế theo di
chúc và thừa kế theo pháp luật. Thừa kế theo di chúc là sự chuyển quyền sở hữu tài
sản của người đã chết cho người khác (còn sống hoặc sinh ra và còn sống sau thời
điểm người để lại di sản chết; nếu là cơ quan, tổ chức thì còn tồn tại vào thời điểm
người để lại di sản chết) theo chỉ định (định đoạt) của người chủ sở hữu tài sản đó lúc
còn sống1. Việc chuyển dịch tài sản cho những người thừa kế theo quy định của pháp
luật chỉ áp dụng khi người để lại di sản trước khi chết không thể hiện ý chí định đoạt
tài sản của mình thông qua di chúc hoặc có để lại di chúc nhưng di chúc đó bị Toà án
tuyên bố vô hiệu một phần hoặc toàn bộ theo quy định của pháp luật hoặc những
người thừa kế theo di chúc từ chối hưởng di sản hoặc người thừa kế thực hiện các hành
vi mà pháp luật quy định khi thực hiện những hành vi đó sẽ bị tước quyền hưởng di
sản.
Ngày nay, sự phát triển trong quan hệ hợp tác quốc tế ngày tạo điều kiện cho
nhiều quan hệ dân sự ra khỏi phạm vi quốc gia mình. Đó là những quan hệ dân sự có
yếu tố nước ngoài. “Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất
một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam
định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân,
Từ khái niệm quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài chúng ta xác
định quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài có ba đặc trưng cơ bản gồm:
chủ thể, khách thể và sự kiện pháp lý.
1.1.2.1. Về chủ thể
Chủ thể trong quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài là những chủ thể
có quốc tịch hoặc nơi cư trú ở các nước khác nhau. Quan hệ thừa kế theo di chúc có
yếu tố nước ngoài được hình thành bởi các chủ thể khác nhau về quốc tịch hoặc nơi cư
trú. Trong đó nơi cư trú có thể hiểu là các chủ thể cư trú trên lãnh thổ các quốc gia
khác nhau. Sự khác biệt về quốc tịch hoặc nơi cư trú của các chủ thể của các chủ thể
trong quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài dẫn tới việc các chủ thể cùng
tham gia một quan hệ nhưng tư cách pháp lý của mỗi chủ thể được điều chỉnh bởi hệ
thống pháp lý nhân thân khác nhau. Lúc này, quan hệ thừa kế đó được coi là quan hệ
có tính chất quốc tế, không còn chịu sự điều chỉnh của mỗi pháp luật trong nước. Chủ
2
Điều 758, Bộ luật dân sự 2005.
3
Trường Đại học Luật Hà Nội, Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, NXB Công an nhân dân, Hà Nội,
1999, Tr.250.
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương
5
SVTH: Nguyễn Thị Huyền
pháp luật một cách độc lập. Pháp nhân trong quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố
nước ngoài có thể là pháp nhân trong nước và pháp nhân nước ngoài. Một pháp nhân
đang hoạt động ở một nước nhưng không có quốc tịch ở nước đó thì thì pháp nhân này
được gọi là pháp nhân nước ngoài. Khi pháp nhân nước ngoài là người hưởng thừa kế
trong quan hệ thừa kế theo di chúc hoặc pháp nhân Việt Nam được hưởng thừa kế theo
4
Diệp Ngọc Dũng - Cao Nhất Linh, Bài giảng tư pháp quốc tế, 2002, Tr.65.
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương
6
SVTH: Nguyễn Thị Huyền
Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
di chúc của người nước ngoài thì quan hệ thừa kế đó là quan hệ thừa kế theo di chúc
có yếu tố nước ngoài.
Thứ ba, chủ thể là Nhà nước. Khi tham gia vào quan hệ trong Tư pháp quốc tế thì
Nhà nước là chủ thể đặc biệt. Trong quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước
ngoài, Nhà nước được hưởng di sản của người để lại với tư cách là người nhận di sản
thừa kế khi tài sản không có người nhận thừa kế. Tại điều 644 Bộ luật dân sự 2005 quy
định: “Trong trường hợp không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có
nhưng không được hưởng di sản, từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi đã thực
hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế thuộc về Nhà nước”. Như
vậy, pháp luật Việt Nam quy định người lập di chúc có quyền định đoạt toàn bộ hoặc
một phần tài sản của mình bằng cách lập di chúc để lại tài sản cho bất cứ cá nhân, cơ
quan, tổ chức nào sau khi họ chết. Mặc dù vậy, việc người thừa kế của người để lại di
Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước nơi có tài sản đang thực tế tồn tại trong việc sử
dụng, khai thác hoặc những vấn đề liên quan về quyền sở hữu đối với những tài sản
đó. Đây là một dấu hiệu để xác định quan hệ thừa kế theo di chúc đó có yếu tố nước
ngoài hay không. Và dĩ nhiên, pháp luật quy định thỏa mãn điều kiện có yếu tố nước
ngoài của ít nhất một trong ba đặc trưng trên nên trong một quan hệ thừa kế theo di
chúc có thể cùng lúc thỏa mãn hai hay tất cả các điều kiện về chủ thể, khách thể và sự
kiện pháp lý.
1.1.2.3. Về sự kiện pháp lý
Sự kiện pháp lý trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là những căn cứ để
xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước
ngoài. Mặc dù chủ thể của quan hệ đó có thể là cá nhân, pháp nhân, tổ chức là người
Việt Nam hay là người nước ngoài. Trong quan hệ thừa kế theo di chúc nếu như người
để lại di sản chỉ lập di chúc, thay đổi nội dung di chúc khi đang ở nước ngoài thì cũng
coi là một dấu hiệu để chứng minh đó là quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước
ngoài. Như vậy, quan hệ thừa kế theo di chúc giữa người để lại di chúc và người
hưởng thừa kế đều mang quốc tịch Việt Nam cũng như di sản đang ở Việt Nam được
xác định là quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài nếu di chúc được lập tại
nước ngoài.
1.2. Phƣơng pháp điều chỉnh, nguồn luật điều chỉnh của quan hệ thừa kế
theo di chúc có yếu tố nƣớc ngoài
1.2.1. Phương pháp điều chỉnh quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước
ngoài
Phương pháp điều chỉnh trong quan hệ Tư pháp quốc tế là tổng hợp các biện
pháp, cách thức mà Nhà nước sử dụng để tác động lên quan hệ dân sự theo nghĩa rộng
có yếu tố nước ngoài (gọi là quan hệ Tư pháp quốc tế) làm cho quan hệ này phát triển
theo hướng mong muốn mà nhà làm luật đề ra5. Trong Tư pháp quốc tế, có hai phương
pháp điều chỉnh là phương pháp điều chỉnh trực tiếp và phương pháp điều chỉnh gián
tiếp. Tuy nhiên Nhà nước Việt Nam chỉ sử dụng phương pháp điều chỉnh gián tiếp
quyết. Ví dụ, tại khoản 2 điều 768 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Hình thức của di
chúc phải tuân theo pháp luật của nước nơi lập di chúc”. Khi cơ quan có thẩm quyền
Việt Nam được yêu cầu giải quyết xung đột về hình thức của di chúc thì sẽ áp dụng
theo quy định trên. Quy định này là quy phạm xung đột do Việt Nam xây dựng, chỉ
hướng dẫn việc luật nước nào được đưa ra áp dụng mà không quy định giải quyết như
thế nào. Sau khi xác định luật được áp dụng là pháp luật nước nơi lập di chúc rồi thì cơ
quan có thẩm quyền xử lý vụ việc phải tìm hiểu xem pháp luật nước nơi lập di chúc
quy định như thế nào về hình thức di chúc và di chúc đó có tuân theo quy định của
pháp luật đó không. Việc phải tìm hiểu và áp dụng pháp luật nước ngoài khi quy định
xung đột dẫn chiếu đòi hỏi người có thẩm quyền giải quyết vụ việc phải có trình độ
chuyên môn về lĩnh vực này để đảm bảo quyền và lợi ích của các chủ thể trong quan
hệ.
1.2.2. Nguồn luật điều chỉnh quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước
ngoài
Nguồn của pháp luật là tất cả các căn cứ được các chủ thể có thẩm quyền sử dụng
làm cơ sở để xây dựng, ban hành, giải thích pháp luật cũng như để áp dụng vào việc
giải quyết các vụ việc pháp lý xảy ra trong thực tiễn7. Trong khoa học pháp lý thì
nguồn của pháp luật là các hình thức chứa đựng và thể hiện các quy phạm pháp luật.
Trong Tư pháp quốc tế thì bao gồm có pháp luật quốc gia, điều ước quốc tế, án lệ và
tập quán. Tuy nhiên ở nước ta, nguồn luật điều chỉnh quan hệ Tư pháp quốc tế nói
chung cũng như quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài nói riêng chỉ bao
6
Diệp Ngọc Dũng - Cao Nhất Linh, Bài giảng tư pháp quốc tế, 2002, Tr.3.
7
TS. Nguyễn Thị Hồi, Về khái niệm nguồn của pháp luật, Tạp chí luật học, số 2/2008, Tr. 29, 30.
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương
Pháp luật Việt Nam điều chỉnh chế định thừa kế có yếu tố nước ngoài đầu tiên
phải kể đến Bộ luật dân sự 1995 – một thành tựu của khoa học pháp luật nước ta, lần
đầu tiên đề ra một hệ thống quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Cho đến nay, Bộ luật
dân sự 2005 đã kế thừa và tiếp tục hoàn thiện các quy phạm pháp luật điều chỉnh các
mối quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Các quy định của pháp luật dân sự Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước
ngoài, trừ trường hợp Bộ luật dân sự này có quy định khác9. Khi áp dụng điều khoản
này cần phải lưu ý một đặc điểm là áp dụng pháp luật dân sự Việt Nam chứ không chỉ
áp dụng mỗi Bộ luật dân sự, bởi pháp luật dân sự bao gồm Bộ luật dân sự và các văn
8
Khoản 1, 2 điều 32, Hiến pháp 2013.
9
Khoản 1, điều 759, Bộ luật dân sự 2005.
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương
10
SVTH: Nguyễn Thị Huyền
Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
bản hướng dẫn thi hành. Trường hợp Bộ luật dân sự có quy định khác là những trường
hợp Bộ luật dân sự quy định việc áp dụng các điều ước quốc tế, áp dụng pháp luật
nước ngoài hay là áp dụng tập quán quốc tế10. Ngoài Bộ luật dân sự năm 2005 thì có
Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, Luật ký kết, gia nhập và thi hành điều ước quốc
Bộ Tư pháp, Viện khoa học pháp lý, Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2005, tập 3, NXB chính
trị quốc gia, 2013, Tr. 489.
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương
11
SVTH: Nguyễn Thị Huyền
Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
xuất phát từ nguyên tắc tuân thủ các cam kết quốc tế của các quốc gia trong Luật quốc
tế. Theo nguyên tắc này, các quốc gia ký kết điều ước quốc tế không được viện dẫn
vào pháp luật của mình nếu viện dẫn đó vi phạm pháp luật quốc tế. Tuân thủ nguyên
tắc này tại điều 6 Luật ký kết, gia nhập và thi hành điều ước quốc tế năm 2005 cũng
như khoản 2 điều 759, Bộ luật dân sự 2005 đều quy định: “Trong trường hợp điều ước
quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với
quy định của Bộ luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó”. Bởi xây
dựng một điều ước quốc tế để điều chỉnh một lĩnh vực dân sự đòi hỏi các nước phải
ngồi lại xây dựng dựa trên sự thống nhất, bàn bạc kỹ lưỡng làm sao khi đưa vào áp
dụng có sự công bằng giữa các nước với nhau. Trong khi nước nào cũng muốn bảo vệ
tối đa lợi ích cho công dân, đất nước mình nhất là các nước lớn. Cho nên, khi đã cùng
nhau ký kết, tham gia điều ước thì khi có vụ việc chịu sự điều chỉnh của điều ước quốc
tế mà nước đó là thành viên thì theo nguyên tắc Nhà nước đó không được viện dẫn
pháp luật nước mình để từ chối áp dụng điều ước quốc tế. Quy định này thể hiện sự
tôn trọng của Nhà nước Việt Nam đối với các điều ước quốc tế mà mình tham gia.
Đồng thời, cho thấy vị trí cũng như vai trò quan trọng của điều ước quốc tế trong Tư
pháp quốc tế. Có nghĩa là trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, nếu pháp luật
các điều ước song phương và đa phương về các lĩnh vực dân sự theo nghĩa rộng cũng
như bên hình sự với các nước trên thế giới.
1.3. Nguyên tắc điều chỉnh quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nƣớc ngoài
Theo nguyên tắc của Luật quốc tế thì không chỉ riêng quan hệ thừa kế theo di
chúc có yếu tố nước ngoài mà tất cả các quan hệ có yếu tố nước ngoài khi xảy ra tranh
chấp thì pháp luật của các nước liên quan đều có thể được đưa ra áp dụng, gây ra hiện
tượng xung đột pháp luật. Vì vậy, mỗi quốc gia là phải có một nền tảng pháp luật đủ
lớn mạnh để điều chỉnh toàn diện các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài phát sinh.
Điều này có nghĩa là ở mỗi quốc gia sẽ xây dựng một hệ thống luật xung đột như là
một công cụ thiết yếu để tạo lập một trật tự cho việc tham gia vào quan hệ Tư pháp
quốc tế. Khi xây dựng hệ thống các quy phạm xung đột của mình, mỗi quốc gia vừa
giải quyết các vấn đề cho công dân, pháp nhân cũng như tổ chức của mình trong quan
hệ quốc tế nhưng bên cạnh đó cũng phải tính đến lợi ích của công dân, pháp nhân và tổ
chức của nước khác.
Với quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài thì pháp luật Việt Nam dựa vào các hệ
thuộc xung đột (nguyên tắc xung đột) sau để giải quyết: nguyên tắc luật quốc tịch,
nguyên tắc luật nơi cư trú và nguyên tắc luật nơi lập di chúc. Các nguyên tắc xung đột
này chỉ cho chúng ta cách thức chọn luật nước nào sẽ được đưa vào áp dụng chứ
không quy định trực tiếp giải quyết cụ thể các quyền và nghĩa vụ của các bên.
1.3.1. Nguyên tắc Luật nhân thân
Khi có xung đột về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài xảy ra thì
người ta sử dụng hệ thống luật pháp gắn bó, gần gũi với bản thân đương sự để áp
dụng. Có hai hệ thuộc luật gần gũi, gắn bó với đương sự là luật quốc tịch và luật nơi
cư trú, được sử dụng rộng rãi trong luật pháp của các nước thế giới. Tuỳ thuộc vào
quan điểm của từng nước mà họ chọn áp dụng Luật quốc tịch hay Luật nơi cư trú. Nếu
lựa chọn áp dụng Luật quốc tịch thì lúc đó không cần quan tâm tới việc đương sự đang
ở đâu và ngược lại nếu họ chọn áp dụng Luật nơi cư trú thì sẽ không quan tâm tới việc
đương sự có quốc tịch nào.
1.3.1.1. Nguyên tắc Luật quốc tịch
Luật quốc tịch là luật của nước mà đương sự là công dân. Việt Nam chủ yếu áp
nước đó. Nếu pháp luật nước đó quy định áp dụng nguyên tắc luật nơi thực hiện hành
vi cho vấn đề lập, thay đổi, hủy bỏ di chúc thì lúc này, pháp luật Việt Nam sẽ được áp
dụng để giải quyết (lúc này gọi là dẫn chiếu ngược)11. Trong những trường hợp dẫn
chiếu ngược lại pháp luật nước ta thì ngoài việc pháp luật Việt Nam được đưa ra áp
dụng còn tạo sự thiện cảm với các nước khác vì chúng ta cho họ quyền áp dụng pháp
luật nước họ nhưng họ đã từ chối quyền đó, đồng thời tăng thêm cơ hội để pháp luật
Việt Nam được áp dụng giải quyết.
Ví dụ như ông A là công dân nước Việt Nam làm việc lâu dài tại Đức ông muốn
lập di chúc để định đoạt khối tài sản của mình thì pháp luật nước Việt Nam được áp
11
Khoản 3 điều 759 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Trong trường hợp Bộ luật này, các văn bản pháp luật
khác của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
là thành viên dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật nước ngoài thì pháp luật nước đó được áp dụng, nếu việc áp
dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam; trường hợp
pháp luật nước đó dẫn chiếu ngược trở lại pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì áp dụng
pháp luật Cộng hòa xã hội Việt Nam”.
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương
14
SVTH: Nguyễn Thị Huyền
Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
dụng trong trường hợp xác định năng lực lập, thay đổi và huỷ bỏ di chúc chứ không áp
dụng theo pháp luật nước Đức cho dù ông A cư trú và lập di chúc tại Đức.
12
Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Tư pháp quốc tế, 2004, NXB Tư pháp, Tr. 46.
13
Bành Quốc Tuấn, Pháp luật áp dụng cho quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài theo Bộ luật dân sự
2005, ệt Nam/portal/detailtks/5985_64_0_Phap-luat-ap-dung-cho, [Truy cập ngày
20/8/2014].
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương
15
SVTH: Nguyễn Thị Huyền
Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
pháp luật nước đó sẽ được đưa ra áp dụng. Lúc này người có quyền và nghĩa vụ liên
quan (người yêu cầu xác định năng lực lập di chúc của người để lại di sản) phải chứng
minh được nước Việt Nam hay nước Singapo có quan hệ gắn bó nhất về quyền và
nghĩa vụ. Nếu không chứng minh được thì áp dụng theo pháp luật nước Việt Nam.
1.3.2. Nguyên tắc Luật nơi thực hiện hành vi
Luật nơi thực hiện hành vi được áp dụng trong chế định thừa kế theo di chúc có
yếu tố nước ngoài được hiểu là hành vi lập di chúc ở nước nào thì luật của nước đó
được áp dụng để điều chỉnh tính hợp pháp về hình thức của di chúc đó. Theo quy định
tại khoản 2 điều 768 Bộ luật dân sự 2005: “Hình thức của di chúc phải tuân theo pháp
luật của nước nơi lập di chúc”. Pháp luật Việt Nam quy định hình thức di chúc phải
tuân theo pháp luật của nước nơi lập di chúc đề thuận tiện cho việc lập di chúc của
người nước ngoài thực hiện tại Việt Nam. Đồng thời, tạo điều kiện cho người lập di
Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
sản ở nước ngoài mà do người thân của họ để lại ở nước ngoài cũng được cho phép và
bảo hộ14. Tuy nhiên pháp luật thời đó chỉ mới đề cập trên những nguyên tắc chung
nhất, chưa có những quy định chi tiết, đặc biệt là các quy phạm xung đột để làm cơ sở
giải quyết đối với những vụ việc cụ thể về thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài.
1.4.3. Giai đoạn từ ngày Bộ luật dân sự 1995 có hiệu lực đến trước ngày Bộ
luật dân sự 2005 có hiệu lực thi hành từ 01/01/2006
Kế thừa và phát triển pháp luật dân sự Việt Nam từ trước tới nay, cụ thể hoá điều
85 Hiến pháp năm 1992: “Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế
của công dân”. Bộ luật dân sự 1995 là một thành tựu của khoa học pháp luật nước ta,
lần đầu tiên đề ra hệ thống quy định về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Theo quy
định tại điều 827 Bộ luật dân sự 1995 quy định về việc áp dụng pháp luật dân sự nước
ta, điều ước quốc tế, tập quán quốc tế và pháp luật nước ngoài:
“1. Các quy định của pháp luật dân sự Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
được áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, trừ trường hợp Bộ luật
dân sự này có quy định khác.
2. Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký
kết hoặc tham gia quy định khác với quy định của Bộ luật này, thì áp dụng quy định
của điều ước quốc tế.
3. Trong trường hợp việc áp dụng pháp luật nước ngoài được Bộ luật này hoặc
các văn bản của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều ước quốc tế mà
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia viện dẫn thì pháp luật nước
ngoài được áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài; nếu pháp luật đó có
dẫn chiếu trở lại pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì áp dụng pháp luật
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Pháp luật nước ngoài cũng được áp dụng trong trường hợp các bên có thỏa
thuận trong hợp đồng, nếu thỏa thuận đó không trái với quy định của Bộ luật dân sự
này và các văn bản khác của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
4. Trong trường hợp quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài không được Bộ luật
này, các văn bản pháp luật khác của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều ước
áp dụng hệ thống pháp luật nào nếu xảy ra tranh chấp15.
Bên cạnh đó, sự ra đời của Nghị định 138/2006/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết các
quy định về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài đã quy định cụ thể hơn, rõ ràng hơn
về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài. Quá trình phát triển của quan hệ
thừa kế có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố
nước ngoài nói riêng đã và đang góp phần giải quyết hiệu quả các tranh chấp phát sinh
trong quá trình hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng.
15
Điều 768 Bộ luật dân sự 2005 quy định Thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài:
“1. Năng lực lập di chúc, thay đổi và huỷ bỏ di chúc phải tuân theo pháp luật của nước mà người lập di
chúc là công dân.
2. Hình thức của di chúc phải tuân theo pháp luật của nước nơi lập di chúc”.
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương
18
SVTH: Nguyễn Thị Huyền
Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
CHƢƠNG 2
PHÁP LUẬT VIỆT NAM ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ THỪA KẾ THEO DI
CHÚC CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI
Khi nhắc tới pháp luật Việt Nam điều chỉnh quan hệ thừa kế theo di chúc thì
chúng ta hiểu rằng quan hệ thừa kế theo di chúc đó là những quan hệ thừa kế theo di
chúc phát sinh trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam và các vấn đề pháp sinh trong quan hệ
17
Khoản 2 điều 3 NĐ 138/2006/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật dân sự về quan
hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.
GVHD: Th.S Bùi Thị Mỹ Hương
19
SVTH: Nguyễn Thị Huyền
Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
Nếu người lập di chúc là người có hai hay nhiều quốc tịch thì theo quy định tại
khoản 2 điều 760 Bộ luật dân sự 2005 quy định: Nếu pháp luật Việt Nam dẫn chiếu
đến việc áp dụng pháp luật của nước mà người nước ngoài là công dân thì pháp luật áp
dụng đối với người nước ngoài có hai hay nhiều quốc tịch nước ngoài là pháp luật của
nước mà người đó có quốc tịch và cư trú tại thời điểm phát sinh quan hệ dân sự. Nếu
người đó không cư trú tại một trong các nước mà người đó có quốc tịch thì sẽ áp dụng
pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch và có mối quan hệ gắn bó nhất về quyền
và nghĩa vụ công dân. Từ quy định trên, pháp luật nước ngoài sẽ được áp dụng đối với
trường hợp người lập di chúc có quốc tịch và cư trú tại thời điểm phát sinh quan hệ
thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài. Khi người nước ngoài có hai hay nhiều
quốc tịch không cư trú tại một trong các nước mà người người lập di chúc có quốc tịch
thì áp dụng pháp luật nước mà người lập di chúc có quốc tịch và có mối quan hệ gắn
bó nhất về quyền và nghĩa vụ công dân. Để xác định nước nào trong các nước mà
người lập di chúc có quốc tịch có mối quan hệ gắn bó nhất về quyền và nghĩa vụ thì tại
điều 5 Nghị định 138/2006/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật
dân sự có yếu tố nước ngoài quy định: Đương sự có nghĩa vụ chứng minh trước cơ