Cải thiện điều kiện lao động là nhân tố để tăng năng suất lao động, tăng khả năng làm việc và bảo đảm sức khỏe, an toàn cho người lao động - Pdf 30

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Cải thiện ĐKLĐ là nhân tố để tăng NSLĐ, tăng khả năng làm việc và bảo
đảm sức khỏe, an toàn cho người lao động. Với nhận thức đó trong những năm
gần đây người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp để hạn chế ảnh hưởng của
ĐKLĐ đến người lao động. Người sử dụng lao động đã quan tâm đến sức khỏe
người lao động hơn, họ coi người lao động như là người chủ thứ hai trong doanh
nghiệp cũng vì thế mà người lao động cũng hết lòng vì doanh nghiệp, họ hăng
say làm việc nhằm đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra. Nhưng trong thực
tế vẫn còn tồn tại những ĐKLĐ trong doanh nghiệp ảnh hưởng tới sức khỏe của
người lao động do có thể là ở phía doanh nghiệp hoặc có thể ở phía người lao
động. Bởi vậy chúng ta cần hoàn thiện hơn nữa, quan tâm hơn nữa đến người lao
động. Về phía tổ chức, doanh nghiệp, người sử dụng lao động không ngừng tìm
tòi, phát huy những sáng kiến mới để hoàn thiện hơn nữa, cải tiến hơn nữa nhằm
bảo đảm sức khoẻ cho người lao động từ đó tăng năng suất lao động. Những
người trực tiếp sản xuất ra sản phẩm họ trực tiếp phải gánh chịu những điều kiện
lao động độc hại, nguy hiểm, những căn bệnh của điều kiện lao động như bệnh
phổi silic, bệnh điếc nghề nghiệp…Trong đó bệnh bụi phổi silic là một trong 21
bệnh nghề nghiệp và là bệnh phổ biến nhất hiện nay.
Ngày 14/03/2010 tại thành phố Thái Nguyên ( tỉnh Thái Nguyên), phó Thủ
Tướng Trương Vĩnh Trọng đã phát động Tuần lễ quốc gia AT-VSLĐ-PCCN lần
thứ 12 với chủ đề “ An toàn và sức khỏe tại nơi làm việc – một trong những
quyền cơ bản của người lao động.” Trong diễn văn phát, động Phó Thủ Tướng
nhấn mạnh: "Các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp, đặc biệt là người sử
dụng lao động và người lao động cần quan tâm và nỗ lực nhiều hơn nữa cùng
nâng cao nhận thức và trách nhiệm bảo đảm an toàn vệ sinh lao động - phòng
chống cháy nổ tại nơi làm việc. Hoạt động này nhằm hạn chế những tổn thất về
vật chất và tinh thần cho mọi cá nhân, gia đình và xã hội, tập trug hướng tới mục
tiêu kiểm soát và giảm thiểu tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp trong doanh
nghiệp và các cơ sở sản xuất kinh doanh. Với lý do đó, em đã chọn đề tài: “ Cải
thiện ĐKLĐ là nhân tố để tăng năng suất lao động, tăng khả năng làm việc

việc, âm nhạc, cảnh quan xung quanh tại nơi làm việc.
Nhóm điều kiện về mặt tâm lý xã hội
Tồn tại trong môi trường giao tiếp giữa đồng nghiệp, cấp trên, cấp dưới,
luồng trao đổi thông tin, phong cách của người lãnh đạo, các phong trào thi đua
phát huy sáng kiến, công tác khen thưởng và kỷ luật.
Nhóm điều kiện về chế độ làm việc và nghỉ ngơi
Lập lịch trình làm việc, quy định về độ dài thời gian làm việc của người
lao động trong quá trình làm việc: bố trí ca làm việc, số giờ làm việc trong một
ca, số ngày làm việc trong tuần, tháng, năm, tỷ lệ thời gian giữa nghỉ ngơi với
làm việc trong một ngày làm việc để duy trì nhu cầu thiết yếu của con người.
1.2 Những điều kiện vệ sinh lao động trong sản xuất
Vi khí hậu
2
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Vi khí hậu là nhân tố thường gặp trong sản xuất và có ảnh hưởng lớn tới khả
năng làm việc và sức khỏe của công nhân. Vi khí hậu được hiểu là khí hậu trong
giới hạn của môi trường sản xuất, bao gồm các yếu tố của môi trường sản xuất
như nhiệt độ, độ ẩm, bức xạ nhiệt và sự lưu thông không khí.
* Nhiệt độ
Trong lao động sản xuất có thể gặp nhiệt độ cao hơn hay thấp hơn nhiệt độ
bình thường, có nhiều nguyên nhân làm thay đổi nhiệt độ. Tuy nhiên trong thực
tế có ba nguồn chính sinh nhiệt:
 Nguồn tự nhiên là bức xạ mặt trời: tia bức xạ mặt trời có các tia hồng
ngoại, tia này sinh nhiệt rất lớn làm nóng cơ thể, tia tử ngoại gây kích
thích các tế bào thần kinh sọ não và có nguy cơ gây ung thư da.
 Nguồn nhân tạo: nhiệt độ phát sinh trong dây chuyền sản xuất đốt cháy
nhiên liệu, nguyên liệu, nấu kim loại, các động cơ của máy, các phản ứng
hóa học tỏa nhiệt.
 Do tỏa nhiệt của người lao động: không gian chật hẹp, lao động nặng
nhọc, thời tiết nóng cơ thể phải thải nhiệt làm tăng nhiệt độ môi trường.

say nóng. Tia sáng thường làm da bị màu đỏ.
 Tia tử ngoại phát sinh ở nơi có nhiệt độ từ 1500
o
C đến 2000
o
C. Tia tử
ngoại nếu quá quy định sẽ làm da bị mày đỏ, tổn thương mắt.
Chịu ảnh hưởng rõ nhất của bức xạ nhiệt là công nhân hàn điện, công nhân vận
hành các lò luyện gang, thép…
* Sự lưu thông không khí
Sự lưu thông không khí biểu thị bằng tốc độ chuyển động của không khi.
Đơn vị tính là m/giây. Nếu lưu thông không khí tốt thì sẽ có tác dụng:
 Khử hoặc làm loãng các yếu tố hơi độc, bụi bẩn
 Làm tăng hoặc giảm nhiệt độ của môi trường sản xuất thay đổi độ ẩm môi
trường. Lưu thông không khí tốt sẽ làm cho công nhân cảm thấy dễ chịu,
làm việc đạt năng suất cao hơn.
Trong sản xuất, vi khí hậu nóng thường gặp hơn cả và ảnh hưởng lớn tới sức
khỏe, khả năng làm việc của con người. Khi làm việc trong điều kiện vi khí hậu
nóng thì các hệ thống của cơ thể như: hệ thần kinh trung ương, hệ tuần hoàn, hệ
hô hấp…đều phải tăng cường hoạt động để chống nóng, đảm bảo cho cơ thể giữ
được ở một nhiệt độ thích hợp. Làm việc trong điều kiện vi khí hậu nóng thì hiệu
suất của lao động trí óc giảm rõ rệt. Đối với lao động chân tay thì tốc độ phản xạ
và sự chú ý giảm sút, sự phối hợp các cử động kém chính xác nên tại nạn lao
động dễ xảy ra, năng suất lao động thấp, cơ thể mỏi mệt, sút cân. Nếu vi khí hậu
nóng, độ ẩm không khí cao, cường độ bức xạ nhiệt kém thì công nhân có thể bị
say nóng hoặc say nắng.
4
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Tình hình vi khí hậu tại công ty cổ phần tre cuốn mỹ nghệ Trường Giang
STT Nơi lấy mẫu

3 P. xưởng kiểm thành phẩm
Đầu nhà xưởng 31.9 0.75 32 31.3 0.75 34
Giữa nhà xưởng 32.2 0.65 35 31.5 0.7 36
Cuối nhà xưởng 32.3 0.6 38 31.6 0.65 37
4 Phân xưởng đóng gói
Đầu nhà xưởng 32.1 0.8 34 31.4 0.8 34
Giữa nhà xưởng 32.2 0.7 35 31.6 0.75 36
Cuối nhà xưởng 32.2 0.65 36 31.7 0.65 37
Tiêu chuẩn < 32 < 1.5 < 80 < 32 < 1.5 < 80
Theo kết quả đo đạc tại các phân xưởng của công ty cho ta thấy, năm 2005
nhiệt độ ở hầu hết các khu vực đều không đạt tiêu chuẩn cho phép là < 32
o
C và
chênh lệch giữa nhiệt độ trong phân xưởng và ngoài trời không đạt tiêu chuẩn.
Làm việc trong điều kiện nhiệt độ cao sẽ ảnh hưởng xấu đến hệ thần kinh, bộ
máy tuần hoàn, gây rối loạn chức năng thận, dạ dày, nhiệt độ cao cũng rất dễ gây
những tai biến như say nóng, say nắng gây cảm giác mệt mỏi, chán nản cho
người lao động.
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Chiếu sáng trong sản xuất
Theo sự phát triển của sản xuất, đặc điểm của lao động cũng có những thay
đổi theo hướng sau:
• Độ chính xác của công việc ngày càng tăng
• Lượng thông tin ngày càng nhiều
• Nhịp độ công việc ngày càng khẩn trương
Do vậy nhu cầu về chiếu sáng trong sản xuất ngày càng cao. Thị lực của con
người phụ thuộc rất lớn về chiếu sáng. Độ chiếu sáng tăng thì thị lực cũng tăng
và độ ổn định của thị lực cũng lâu bền.
Trong kỹ thuật chiếu sáng người ta thường sử dụng một số đại lượng như quang

chuẩn
1 Phân xưởng hoàn thiện
1.1 Phân xưởng đánh bóng
Đầu nhà xưởng 205 200 215 200
Giữa nhà xưởng 195 200 210 200
Cuối nhà xưởng 200 200 205 200
1.2 Phân xưởng sửa sản phẩm
Đầu nhà xưởng 310 300 350 300
Giữa nhà xưởng 315 300 345 300
Cuối nhà xưởng 335 300 335 300
2 Phân xưởng phun
Đầu nhà xưởng 510 500 515 500
Giữa nhà xưởng 495 500 510 500
Cuối nhà xưởng 495 500 500 500
3 Phân xưởng kiểm thành phẩm
Đầu nhà xưởng 310 300 325 300
Giữa nhà xưởng 310 300 320 300
Cuối nhà xưởng 315 300 315 300
4 Phân xưởng đóng gói
Đầu nhà xưởng 145 150 175 150
Giữa nhà xưởng 155 150 165 150
Cuối nhà xưởng 150 150 160 150
Năm 2005, so với tiêu chuẩn chiếu sáng, nhiều phân xưởng còn chưa đạt, ánh
sáng chỉ đạt mức tối thiểu. Năm 2007, công ty đã cải thiện hệ thống chiếu sáng,
thay thế đèn mới, đạt và vượt tiêu chuẩn chiếu sáng.
Tác hại của việc chiếu sáng không hợp lý:
• Hệ thống đèn chiếu sáng lắp đặt không hợp lý, bố trí chỗ làm việc không phù
hợp nên nhiều nơi thiếu ánh sáng hoặc bị che khuất, chiếu sáng ngược, ảnh
hưởng đến việc quan sát trên màn hình và đọc dữ liệu từ tài liệu gây mỏi mắt,
giảm thị lực.

chỉ chú ý đến tần số mà còn phải chú ý đến cường độ âm.
BẢNG TIÊU CHUẨN CHO PHÉP CỦA TIẾNG ỒN
Loại Tính chất của tiếng ồn Mức độ cho phép (dB)
I Tiếng ồn có tần số thấp 75 – 85
II Tiếng ồn có tần số trung bình 85 – 90
III Tiếng ồn có tần số cao 90 – 100
Tiếng ồn có tần số cao khi f > 1000Hz
Tiếng ồn có tần số trung bình khi f = 300 – 1000Hz
Tiếng ồn có tần số thấp khi f < 300 Hz
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Tình hình tiếng ồn tại công ty cổ phần tre cuốn mỹ nghệ Trường Giang
Đơn vị: dB
STT Nơi lấy mẫu Năm 2005 Năm 2007
1 Phân xưởng hoàn thiện
1.1 Phân xưởng đánh bóng
Đầu nhà xưởng
Giữa nhà xưởng 62 65
Cuối nhà xưởng
1.2 Phân xưởng sửa sản phẩm
Đầu nhà xưởng
Giữa nhà xưởng 54 63
Cuối nhà xưởng
2 Phân xưởng phun
Đầu nhà xưởng
Giữa nhà xưởng 67 72
Cuối nhà xưởng
3 Phân xưởng kiểm thành phẩm
Đầu nhà xưởng
Giữa nhà xưởng 55 63

đổi thoái hóa trong tai, gây các bệnh nặng tai và điếc. Đối với âm tần số 2000 –
4000 Hz, tác dụng mệt mỏi sẽ bắt đầu từ 80dB, đối với âm tần số 5000 – 6000Hz
từ 60dB. Độ giảm thính của tai tỷ lệ thuân với thời gian làm việc trong tiếng ồn.
Mức ồn càng cao tốc độ giảm thính càng nhanh. Tuy nhiên điều này còn phụ
thuộc độ nhạy cảm riêng từng người.
Bụi
Các bệnh nghề nghiệp liên quan đến bụi được xếp vào nhóm các bệnh bụi
phổi và phế quản gồm: bệnh bụi phổi silic, bệnh bụi phổi nhiễm bụi amiăng,
bệnh bụi phổi bông, bệnh viêm phế quản mạn tính nghề nghiệp. Trong đó, năm
2007, số tích lũy bệnh nghề nghiệp trong toàn quốc là 23.872 trường hợp, trong
đó bệnh bụi phổi silic chiếm tỷ lệ cao nhất trong các bệnh nghề nghiệp (tới
74,5%).
Bụi là một tập hợp nhiều hạt, có kích thước nhỏ bé, tồn tại lâu trong không
khí dưới dạng bụi bay, bụi lắng và các hệ khí dung nhiều pha gồm hơi, khói, mù.
Bụi bay có kích thước từ 0.001 – 10μm bao gồm tro, muội, khói và những
hạt rắn được nghiền nhỏ. Bụi này thường gây tổn thất nặng cho đường hô hấp,
nhất là bệnh phổi nhiễm bụi thạch anh…Bụi lắng có kích thước lớn hơn 10μm,
thường rơi nhanh xuống đất. Bụi này thường gây tác hại cho da và mắt, gây
nhiễm trùng, gây dị ứng…
Phân loại bụi
a- Theo nguồn gốc được phân ra:
10
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Bụi hữu cơ như bụi tự nhiên, bụi thực vật ( gỗ, bông), bụi động vật ( lông,
len, tóc..), bụi nhân tạo ( nhựa hóa học, cao su…), bụi vô cơ như bụi khoáng chất
( thạch anh…), bụi kim loại ( sắt, đồng, chì…).
b- Theo kích thước hạt bụi phân ra:
Bụi lớn hơn 10μm là bụi thực sự, bụi từ 10 – 0.1μm như sương mù, dưới
0.1μm như bụi khói.
c- Theo tác hại của bụi phân ra:

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Năm 2007, mặc dù đã được cải thiện đáng kể tuy nhiên hàm lượng bụi trong
không khí trong hầu hết các phân xưởng vẫn vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Bụi
ở đây có kích thước rất nhỏ được cấu tạo từ nhiều chất hóa học độc hại nên rất
nguy hiểm đối với sức khỏe của người lao động, nó có thể gây tác hại cho da,
mắt, và hệ thống cơ quan hô hấp.
Tác hại của bụi đối với cơ thể
1- Bệnh phổi nhiễm bụi thường gặp ở những công nhân khai thác, chế biến, vận
chuyển quặng, kim loại, than…
2- Bệnh silicose là bệnh do phổi bị nhiễm bụi silic ở thợ khoan đá, thợ mỏ, thợ
làm gốm sứ…Bệnh này chiếm 40 – 70% trong tổng số bệnh phổi.
3- Bệnh đường hô hấp: viêm mũi, họng, phế quản, viêm teo mũi do bụi crom,
asen.
4- Bệnh ngoài da: bụi gây kích thích da, bệnh mụn nhọt, lở loét như bụi vôi,
thiếc, thuốc trừ sâu. Bụi đồng gây nhiễm trùng da rất khó chữa, bụi nhựa than
gây sưng tấy.
5- Chấn thương thị giác: bụi vào mắt gây kích thích màng tiếp hợp, viêm mi mắt,
mộng thịt. Bụi axit hoặc kiềm gây bỏng mắt và có thể dẫn tới mù mắt. Bụi kim
loại có cạnh sắc nhọn khi bắn vào mắt làm xây xát hoặc thủng giác mạc.
6- Bệnh ở đường tiêu hóa: bụi bay vào miệng đọng lại ở răng gây viêm lợi, sâu
răng. Các hạt bụi to, kim loại sắc nhọn vào dạ dày gây tổn thương niêm mạc,
viêm loét dạ dày, gây rối loạn tiêu hóa.
Rung động trong sản xuất
Rung động là những dao động cơ học của thiết bị hay các bộ phận của nó
xung quanh vị trí cân bằng.
Người ta chia rung động thành ba loại tùy theo sự tác động của nó tới cơ thể
của con người là:
• Rung động chung có ảnh hưởng đến toàn bộ cơ thể
• Rung động cục bộ có ảnh hưởng tới bộ phận của cơ thể tiếp xúc trực tiếp
với các thiết bị có rung động

 Đường hô hấp hít thở các hóa chất dưới dạng khí, hơi hay bụi
 Hấp thụ qua da hóa chất dây dính vào da
 Đường tiêu hóa do ăn, uống phơi thức ăn hoặc sử dụng những dụng cụ ăn
đã bị nhiễm hóa chất.
Tác hại của hóa chất độc
Vấn đề an toàn: do tính chất dễ cháy, nổ, hoạt tính hoá học cao, gây ăn mòn,
các chất nguy hại có ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng của con người. Đồng
thời khi diễn ra quá trình cháy nổ còn phát sinh thêm nhiều chất độc hại thứ cấp
khác, gây ngạt do mất oxy có thể dẫn đến tử vong. Do đó chúng gián tiếp có ảnh
hưởng đến sự an toàn và sức khoẻ của con người.
Vấn đề sức khoẻ con người: Chất nguy hại gây tổn thương cho các cơ quan
trong cơ thể, kích thích, dị ứng, gây độc cấp tính và mạn tính có thể gây đột biến
gen, lây nhiễm, rối loạn chức năng tế bào… dẫn đến các tác động nghiêm trọng
cho con người và động vật như gây ung thư, ảnh hưởng đến sự di truyền .
Các bệnh nhiễm độc nghề nghiệp: bệnh nhiễm độc chì, bệnh nhiễm độc
benzen, bệnh nhiễm độc mangan và các hợp chất của nó, nhiễm độc thủy ngân,
13

Trích đoạn Về phía người lao động
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status